14 chính tinh

Tử Vi: uy nghi, đức độ, chủ quyền lộc, phúc đức (Dương Thổ)

Miếu Vượng: Tỵ Ngọ, Dần Thân, Thìn Tuất

Đắc địa: Sửu Mùi Hợi Tý

Bình hòa: Mão Dậu

Thiên Phủ: chủ tài lộc, trung hậu hiền lành (Âm Thổ)

Miếu Vượng: Dần Thân, Tý Ngọ, Thìn Tuất

Đắc địa: Mùi Tý Hợi

Bình hòa: Sửu Mão Dậu

Vũ Khúc: chủ tài lộc (Âm Kim)

Miếu Vượng: Thìn Tuất Sửu Mùi, Dần Thân Tý Ngọ

Đắc địa: Mão Dậu

Hãm địa: Tỵ Hợi

Thiên Tướng: quyền tinh, uy dũng (Dương Thủy)

Miếu Vượng: Dần Thân Tý Ngọ, Thìn Tuất

Đắc địa: Sửu Mùi Tỵ Hợi

Hãm địa: Mão Dậu

Thất Sát: quyền tinh, uy dũng (Dương Kim đới Hỏa)

Miếu Vượng: Dần Thân Tý Ngọ, Tỵ Hợi

Đắc địa: Sửu Mùi

Hãm địa: Mão Dậu, Thìn Tuất

Phá Quân: dũng mãnh, hao tán (Âm Thủy)

Miếu Vượng: Tý Ngọ, Sửu Mùi

Đắc địa: Thìn Tuất

Hãm địa: Dần Thân Tỵ Hợi Mão Dậu

Liêm Trinh: chủ quan lộc, tù tinh (Âm Hỏa)

Miếu Vượng: Dần Thân Tý ngọ, Thìn Tuất

Đắc địa: Sửu Mùi

Hãm địa: Tỵ Hợi Mão Dậu

Tham Lang: chủ họa phúc, hung bạo (Âm Mộc đới Thủy)

Miếu Vượng: Thìn Tuất, Sửu Mùi

Đắc địa: Dần Thân

Hãm địa: Tỵ Hợi Tý Ngọ Mão Dậu

Thiên Cơ: chủ hunh đệ, mưu cơ, phúc thọ (Âm Mộc)

Miếu Vượng: Thìn Tuất Mão Dậu, Tỵ Thân Mùi

Đắc địa: Ngọ Tí Sửu

Hãm địa: Dần Hợi

Thái Âm: chủ điền tài (Âm Thủy)

Miếu Vượng: Thân Dậu Tuất Hợi Tý

Đắc địa: Sửu Mùi

Hãm địa: Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ

Thiên Đồng: chủ phúc thọ (Dương Thủy)

Miếu Vượng: Tý Dần Thân

Đắc địa: Mão Tỵ Hợi

Hãm địa: Ngọ Dậu Thìn Tuất Sửu Mùi

Thiên Lương: chủ phúc thọ, phụ mẫu (Dương Mộc)

Miếu Vượng: Dần Thân, Tý Ngọ, Thìn Tuất, Mão

Đắc địa: Sửu Mùi

Hãm địa: Tỵ Hợi Dậu

Cự Môn: chủ điền, thị phi (Âm Thủy)

Miếu Vượng: Tý Ngọ Mão Dậu, Dần

Đắc địa: Thân Hợi

Hãm địa: Tỵ Thìn Tuất Sửu Mùi

Thái Dương: chủ quan lộc (Dương Hỏa)

Miếu Vượng: Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ

Đắc địa: Sửu Mùi

Hãm địa: Thân Dậu Tuất Hợi Tý

Lục sát: chủ sát phạt, phá tán, gây họa (Không Kiếp Hỏa Linh hành Hỏa, Kình Đà Kim đới Hỏa)

Không Kiếp: đắc địa tại Dần Thân Tỵ Hơi

Kình Dương: Đắc địa tại Thìn Tuất Sửu Mùi

Đà La:  Đắc địa thì Dần Thân Tỵ Hợi

Hỏa Tinh: Đắc địa tại Dần Mão Tỵ Ngọ

Linh Tinh: Đắc địa tại Thìn Tuất Sửu Mùi

Một vài nhận định ban đầu

Đất Tý Ngọ Dần Thân Thìn Tuất là đất miếu vượng (đắc thế)của đa số chính tinh. Trong đó tại Dần Thân, lục sát tinh có nhiều vị trí đắc địa, nên có thể tổng hợp người nào Mệnh cư Dần Thân khá vững vàng và sức chiến đấu cao. Còn đất Tý Ngọ lục sát tinh đều hãm địa, nên Mệnh tại đây chủ thành bại thất thường, chèo cao ngã đau.

14 CHÍNH TINH – NÉT CĂN BẢN

SAO TỬ VI – Zi Wei – Purple Emperor Star

Emperors love to command. People with this star in their Destiny domain love praise and demand loyalty. They can be conceited and easily influenced, which can make them permissive and tolerant. They have tender egos but will often not disclose their feelings.

SAO THIÊN CƠ – Tian Ji

Tian Ji is a very active star, causing physical movement or active thoughts. Tian Ji loves to learn new things, but lacks perseverance.

Hóa khí là Thiện tinh. Giỏi tính toán mưu lược, quyền biến cơ mưu.

“Cơ Viên phú tính từ tâm”

Người Thiên Cơ thông minh sáng suốt, hiếu học, học rộng, đa tài đa năng, nhiều cơ mưu, vì vậy Thiên Cơ tọa mệnh thích hợp làm các công việc vận dụng đầu óc, tính toán. Cho nên, cổ nhân nói Thiên Cơ làm con người hành động không hay, vào vị trí nghiên cứu, quân sư tốt, ở vị thế chỉ huy bình thường.

Bản chất người Thiên Cơ là động, ưa suy nghĩ, tâm tư dễ biến động, nên khó duy trì, theo đuổi cái gì lâu dài. Gặp cách cục xấu cái đa biến này chỉ làm cho cuộc sống thêm lao tứ vất vả.

Khuyết điểm Thiên Cơ là có sở thích rộng, học rộng nhưng không chuyên, thiếu hằng tâm, hay thay đổi, nên khó có thành chuyên gia, thành tựu trong một lĩnh vực cụ thể gì.

Thiên Cơ bản chất là sao chủ về học hành, đầu óc, thuộc bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương nên khi miếu vượng hội với văn tinh Xương Khúc, Long Phượng, Hóa Khoa thì là một quân sư xuất sắc, nhân tài trí tuệ. Lúc này nếu thêm sao quý nhân như hội chiếu Khôi Việt, giáp Tử Phủ hay hóa Hóa Quyền ắt trí tuệ có đất dụng võ, dễ tìm được minh quân phò tá, mệnh tạo có nhiều cơ hội phát triển.

Thiên Cơ hội tụ Lộc Tồn, Hóa Lộc, nếu Thiên Cơ miếu vượng và tránh hội tụ nhiều sát tinh khả dĩ có thể làm kinh doanh, do có đầu óc tính toán, cơ mưu, ứng biến mau lẹ. Tuy nhiên, bản chất Thiên Cơ vẫn là tâm tư hay biến động, khó duy trì cái gì lâu dài, tính độc lập quyết đoán kém, nên chỉ làm quy mô vừa và nhỏ thì hợp, làm lớn thì cần có người hợp tác đứng thế chỉ huy.

Thiên Cơ gặp Địa Không, Địa Kiếp, thấy thêm cát diệu thì biến thành cát, chủ về có sáng kiến, phát huy được năng lực tưởng tượng, sáng tạo; nếu lại thấy thêm nhiều sát diệu, đặc biệt Hóa Kị thì tính không tưởng nặng quá, biến thành ảo tưởng, dễ nhọc tâm vô ích, đa sầu đa cảm.

Thiên Cơ thấy Hỏa Linh, Kình Đà tính cách hay lo nghĩ không đâu, tâm ý thất thường, hay lưỡng lự, tiến thoái bất định. Vì vậy mệnh cách cục này khả năng độc lập tự quyết kém, làm kinh doanh hay lãnh đạo, quản lý đều không tốt, nên làm công ăn lương.

Tổ hợp Thiên Cơ đi cùng Cự Môn, hay được Cự Môn vây chiếu thì tài năng phân tích, tính toán và linh động của Thiên Cơ hội cùng khả năng ăn nói, thuyết phục của Cự Môn làm cho người có tổ hợp này rất thích hợp nghề gì liên quan tới ăn nói, công việc linh hoạt.

Tổ hợp Thiên Cơ đi cùng Thiên Lương, hay được Thiên Lương vây chiếu, tính chất động của Thiên Cơ bị giảm, chỉ còn tính chất đầuc óc, cơ mưu, thêm ảnh hưởng tính chất ôn hòa, trầm mặc ít nói, thanh cao, và có phần không tưởng của Thiên Lương, nên người có tổ hợp này thường làm nghề chuyên môn về học vấn, có tính triết gia, đạo học.

SAO THÁI DƯƠNG – Tai Yang

Tai Yang represents brightness, altruism, and generosity. Tai Yang symbolizes masculinity, is very blunt, and tends to show off. Woman with Tai Yang in their Ming are very competent and ambitious.

SAO VŨ KHÚC – Wu Qu

Wu Qu is the hardworking army general. This star can accumulate wealth through labor. These people can have successful careers, but, like a general, they make decisions on their own and prefer to give orders, not take them. They are workaholics, can be cold-hearted, and find it diffult to maintain close relationships. They are opinionated and strong. Woman with Wu Qu in their Ming often lead their husbands and are competitive with men.

SAO THIÊN ĐỒNG – Tian Tong

Tien Tong loves the good things in life – are, music, good food, fine wine. People with Tian Tong in their Ming love a leisurely lifestyle; things come to them easily so they can be quite lazy. They are dreamers with a lot of ambition, but little follow-through. They are often art lovers and collectors. They love a leisurely lifestyle and the good things in life. They are idealists, with many ambitions but few accomplishments. They are kind-hearted, very sensitive and easily hurt. They give themselves totally in love relationship and are more prone to affairs.

SAO LIÊM TRINH – Lian Zhen

Lian Zhen is the politician star and in the Ming is good for public office. However, like a politician, Lian Zhen is easily influenced, and can create instability in thier life. Lian Zhen is ambitious, loves to make friends, tells people what they like to hear, and is attractive to the opposite sex. They have a good sense of humor and are risk takers.

Liêm Phủ Thìn Tuất

Thiên Phủ có tính chất bảo thủ, Liêm Trinh là nhân tài làm công việc hành chính. Vì vậy, khi hai sao đồng độ chủ thích hợp công tác ở những cơ cấu lớn, có biểu hiện xuất chúng, phất phới mà lên thẳng; thấy Xương Khúc, Tồn Lộc, Hóa Lộc thì càng tốt.

Liêm Phủ thấy Xương Khúc là thích hợp chức vụ hành chính trong cơ cấu học thuật; có thêm Hóa Lộc, Lộc Tồn là có khí chất thiên tài, có thể dựa sáng kiến mà phát triển sự nghiệp.

Liêm Phủ thấy sát kị tinh, chủ sự nghiệp và cuộc sống đều gặp nhiều trắc trở, song không làm thay đổi cục diện sự nghiệp.

Thiên Phủ – Tian Fu

Tian Fu has to do with money and property. People with Tian Fu in their Ming and other favorable stars can become very wealthy and/or have great power. They are careful, cautious and capable. They like money and are trustworthy if given considerable financial responsibilities. With unfortunate stars they will use their intelligence to steal or embezzle.

SAO THÁI ÂM

SAO THAM LANG

Hóa khí là Đào hoa. Chủ về Họa Phúc, Uy Quyền.

Được coi là “Bắc đẩu giải ách chi thần”

Vị trí đẹp nhất là tại tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi, Tham Lang nhập miếu, đồng cung với Vũ Khúc hay được Vũ Khúc vây chiếu.

Tham Lang Hóa Lộc, hoặc thấy Xương Khúc, Khôi Việt chủ hiếu động, lanh lẹ láu lỉnh. Thấy Kình Đà chủ thích rượu thơ hút sách cơ bạc. Thấy Hoa Cái, Địa Không, Địa Kiếp chủ thích thuật thần tiên, huyền học.

Tham Lang thủ Mệnh ngộ cát tinh, Trường Sinh là số trường thọ. “Tham Lang nhập Miếu thọ nguyên thời”.

Tham Lang thủ Mệnh đắc vị thì người đa tài đa nghệ, có tài thu xếp, điều giải, ngoại giao tốt.

Tham Lang thủ Mệnh thấy Tả Hữu, Khôi Việt chủ võ tướng, tay nắm đại quyền trong giới quân nhân, cảnh sát. Tham Lang Hóa Lộc đồng độ với Kình Dương tại Ngọ gọi là cách “Mã đầu đới tiễn” chủ tay nắm quân quyền.

Tham Lang rất thích đồng độ Hỏa Linh, chủ bạo phát, có cơ hội phát đột ngột do làm ăn kinh doanh, đầu cơ, hay cờ bạc. Nhưng Tham Lang lại rất sợ Kình Đà, nên nếu Tham Lang Hỏa Linh thấy Kình Đà tại tam phương tứ chính chủ “hoạnh phát hoạnh phá, trước được sau mất”, không thích hợp cho việc đầu cơ.

“Tham Lang, ngộ Hỏa, Linh, tứ mộ cung, hào phú gia tư, hầu bá chi quí”

Tham Lang hội Song Lộc (Lộc Tồn, Hóa Lọc) chủ tài lộc sung túc, có điều không nhất định trở thành đại phú, nhưng nguồn tiền tài như dòng nước nhỏ mà dài, một đời có tiền chi dụng.

Tham Lang đồng cung với Kình Đà, hay thấy nhiều dâm tinh chủ chơi bời, hoang đang, lang thang nay đây mai đó, vì sắc mà chuốc họa.

“Tham ngộ Dương Đà cư Hợi, Tý, danh vi phiếm thủy đào hoa”

“Tham Lang, Đà la, tại Dần cung, phong lưu thái trượng”

Tham Lang thường gắn liền với Đam mê, Đầu cơ và Tiền bạc. Nếu rơi vào cách cục đẹp thì vì những cái trên mà được lợi. Rơi vào cách cục xấu, thì vì những cái trên mà chuốc họa.

“Tham Vũ tiền bần nhi hậu phú”

“Tham Vũ Mộ trung cư, tam thập tổng phát phúc”

Tham Lang nhập Mệnh ở bất kỳ cung vị nào cần phải thấy Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ mới chủ nặng về tính đào hoa, dục vọng, gia thêm Đào Hồng Hỉ Riêu, Mộc Dục thì càng rõ. Tuy nhiên, nếu Tham Lang rơi vào cung Tuần, Triệt hay đồng cung với Thiên Hình thì lại trở nên thanh bạch, đoan chính.

SAO CỰ MÔN

Hóa khí là Ám, chủ thị phi, đa nghi

Cự Môn là sao về nói năng, ngôn ngữ nên chủ có tài ăn nói, phù hợp với những ngành nghề cần đến giao tiếp, có sở trường xử lý các mối quan hệ công cộng, nên vào cách cục tốt có khả năng trở thành nhân tài ngoại giao. Cự Môn nhập Mệnh mà đương số không làm việc liên quan đến ăn nói thì dễ trở thành người hay ngồi lê đôi mách, buôn chuyện thị phi, điều này càng rõ khi Cự Môn gặp sát kỵ tinh tại Mệnh Tài Quan.

Cự Môn hóa ám, chủ lo lắng buồn phiền, cũng chủ vất vả. Nên Cự Môn tọa Mệnh tại bất cứ cung vị nào, cho dù có cát tinh hội chiếu, cũng chủ tuổi trẻ vất vả, phải phấn đấu gian khổ mới có thành tựu, gặp sát tinh nặng thì càng vất vả hơn, mà thành tựu thì còn phải xét.

Cự Môn cũng là một tài tinh, nên rất đẹp khi Cự Môn Hóa Lộc hoặc đồng độ với Lộc Tồn chủ phát tài.

Cự Môn Hóa Quyền ở đất miếu vượng thì lời nói có quyền uy phần nhiều trở thành nhà ngoại giao có tài ăn nói, đảm đương chức vị quan trọng, nếu không cũng sẽ trở thành bậc thầy nổi tiếng, có nhiều học trò đệ tử . Cự Môn Hóa Quyền nhập Mệnh khả dĩ rất có khí phách, giỏi sáng lập sự nghiệp, rất cần thêm Hóa Lộc, Lộc Tồn thì phú quý đầy đủ.

Cự Môn không có khả năng kháng cự với sát kỵ tinh, đặc biệt là Kình Đà Kỵ. Cự Môn Hóa Kỵ thì ăn nói khó nghe nhưng lại nói nhiều, gây phản cảm cho người khác, chuốc lấy điều tiếng thị phi, có khuynh hướng bất mãn với hiện thực, nếu lại gặp sát tinh, dễ gây vạ miệng mà gặp kiện tụng. Cự Môn Kình Đà cũng chủ thị phi, ngoài ra còn làm cho tình duyên thêm trắc trở.

Tinh hệ kết cấu tốt nhất của Cự Môn là khi đồng cung với Thái Dương sáng, hay được Thái Dương sáng vây chiếu, cụ thể là Cự Nhật tại cung Dần, và Cự Môn tại Hợi được Thái Dương vượng tại Tỵ chiếu. Cự Môn là ám tinh, nên khi được Thái Dương sáng chiều chủ quanh minh lỗi lạc, thêm cát tinh chủ quý, thêm tài tinh chủ quý.

Tinh hệ Cự Môn Tý Ngọ cũng là thuộc cách cục tốt “Thạch Trung ẩn ngọc”, chủ có tài năng, nhưng bị ẩn bên trong, phải trải qua thời gian mới dần lộ ra. Cách cục này cần thêm cát tinh mới kể là tốt, và cũng không nên đứng ở vị trí lãnh đạo tối cao kẻo dễ bị đả kích, mà nên ở vị trí phó, quân sư. (Còn một cách cục khá đẹp là Cự Cơ Mão Dậu, nhưng đây là cách cục chính lấy Thiên Cơ làm chính, nên không nêu ở đây).

Tóm lại, do Cự Môn là tài tinh, ám tinh nên kết cấu thực sự tốt của Cự Môn phải lấy Hóa Quyền, Hóa Lộc, Lộc Tồn (kích hoạt tính chất tài tinh) hay Thái Dương miếu vượng, Xương Khúc Khoa (giảm bớt tính chất ám tinh) làm chính, nếu hội tụ cả hai thì càng hoàn mỹ.

SAO THIÊN TƯỚNG

SAO THIÊN LƯƠNG

SAO THẤT SÁT – Qi Sha

Qi Sha is aggressive and likes to change and take risks. People with Qi Sha in their Ming are highly rational and independent. They have strong characters like a police officer and can be stubborn. They are willing to confront any situation head on. They often feel discontent, which will make them suffer in life.

Thất Sát mắt lớn dọi đèn

Việc làm muốn chóng một phen cho rồi

Sát đắc địa là người cương mãnh

Khôi Việt Tả Hữu triều lai

Thêm Quyền thêm Lộc sang giàu kém ai

Kình Đà Linh Hỏa chẳng sao

Ba phương Quốc Ấn, Tuế Hình

Ấy là binh nghiệp, tướng tài nổi danh

Sát thời hãm địa kể chi

Kình Đà, Linh Hỏa tật thương đó mà

Thiên Hình lại cả Kiếp Không

Nếu không non yểu cũng tay giang hồ

Nữ miếu địa mệnh thời bạo dạn

Nhưng là người ích tử vượng phu

Sát Phá Tham hãm, mệnh thời vất vả

Tang Mã Khốc Hư đi cùng một bộ

Nếu không góa bụa cũng dở dang duyên tình

Thất Sát là sao chủ về quyền hành, danh vọng, tính chất cương mãnh, uy phong. Thất Sát đóng mệnh miếu địa có cát tinh hội tụ cùng hung tinh, tuy là người nóng vội nhưng thanh lương, can đảm, cơ mưu, quyền biến dễ thành công trên đường đời, nhất là trong binh nghiệp; hãm địa thêm hung sát tinh đi kèm là người nhẫn tâm, nóng nảy nhưng u tối, dễ bị thương tật, cuộc đời vất vả, nữ mệnh tình duyên trắc trở.

Tuy cương mãnh nhưng Thất Sát cũng chỉ sự bất ngờ, hoạnh phát, nhất là đi cùng Không Kiếp thì càng dễ hoạnh phát hoạnh phá, sự việc diễn ra nhanh chóng.

Cung Tý Ngọ Dần Thân miếu vượng, tuổi Giáp, Đinh, Kỷ là cách cục tài quan.

Thất Sát thuộc nam đẩu tinh, ngũ hành âm kim, hóa khí là quyền. Cũng là tướng tinh bên cạnh đế hoàng, chủ túc sát nên đời người tịch mịch, không có nhiều tri kỷ, nhưng mà có thể sử dụng đặc điểm này, phát triển tính cách “điệu tý độc hành”, thành nhân tài lập nghiệp xuất kỳ chế thắng.

Thất Sát được coi là hung sát tinh. Bất luận số đẹp hay xấu, hễ đã có Thất Sát vào mệnh/thân thế tất phải trải qua những chuyện hung hiểm hoặc có một thời gian bị lắm chướng ngại. Sách viết “Nhị cung phùng chi địch lịch giai tân”.

Một khi có Thất Sát thủ mệnh, phải xem kỹ những vận hạn, nếu vận tốt đến càng sớm để thành công sớm thì hậu vận lại càng tối tăm với thất bại. Thiếu niên đắc chí ắt lúc bị thất ý ảnh hưởng đến hết đời. Nếu tuổi trẻ bôn ba chìm nôi đến trung niên mới phát đạt, thì nhờ kinh lịch đã thâu lượm như thanh gương tôi luyện kỹ rồi, sự phát đạt ấy mới hay.

Thất Sát thủ mệnh, cuộc đời nhiều hối tiếc, đặc biệt là những mối quan hệ thân thuộc có rất nhiều khuyết điểm. Nhưng về phương diện sự nghiệp thì thường lại có thể thành tựu. Nguyên nhân không có gì lạ, vì cuộc sống cô độc, sự nghiệp trở thành nơi duy nhất để gửi gắm tinh thần, cho nên đặc biệt rất nỗ lực, thời gian bỏ ra cũng hơn người bình thường.

Thất Sát là sao phấn đấu vươn tới, cuộc đời cát cũng vậy, hung cũng vậy, đều bước tới. Cho nên thấy hay không thấy cát tinh đều chẳng có vấn đề, họ cũng không khác biệt gì. Nếu như các cát tinh mà xuất hiện ở cung Phúc thì tinh thần họ khá yên ổn, đối với mệnh tạo lại có lợi. Nếu không ở cung Phúc thì cũng nên phân bố đều ở các cung độ khác, như vậy cuộc đời sẽ khá quân bình, tâm tư cũng an lành. Nhưng đương nhiên, nếu Thất Sát ở mệnh gặp cát tinh, cát hóa thì sự nghiệp tất nhiên có biểu hiện nổi bật.

Tử Vi và Thất Sát tương hội có thể nhờ đế tinh chế hóa nhân sát, chuyển hóa thành quyền lực, mà túc sát chi khí cũng vì thế mà trở nên hòa nhã.

Vì Thất Sát là đại tướng tinh diệu, nên tối hỷ tá trục Tử Vi Thiên Phủ, chủ có quý nhân đề bạt mà đường mây nhẹ bước, cho dù gặp sát diệu cũng có thể kinh doanh buôn bán mà làm giàu. Nếu kinh doanh buôn bán, nên tham gia vào công thương nghiệp (thật nghiệp), lại nên đảm trách vị trí nhân viên thuộc hạ (vì chủ được quý nhân đề bạt), không nên đầu cơ, dễ sinh phá bại, khó có cơ hội phục hồi.

Thất Sát cung mệnh là mệnh số đã định cuộc đời tất có một phen bị phá tán nặng nề, đặc biệt khi mệnh kiến Không Kiếp, Đại Hao.  Nếu tham gia công thương nghiệp, tuy có thất bại nhưng được người tín nhiệm, dễ khôi phục nguyên khí, cũng vì thế tuyệt đối không nên đầu cơ.

Thất Sát cung Liêm Trinh đồng độ tại cung Mùi, hoặc Thất Sát tại Ngọ tức cách hùng tý kiền nguyên, chủ phách lực hùng hậu (quyết đoán, can đảm…). Cách này Thất Sát âm Kim được Liêm Trinh âm Hỏa tôi luyện, nếu Thất Sát tại Tý là thứ cách, còn Thất Sát tại Mùi bình thường.

Thất Sát tồi hiềm lạc hãm, Hóa Kị, cũng không tốt khi gặp tứ sát, Không Kiếp chủ cô độc, phúc không trọn vẹn, thường có tư tưởng giải thoát trần thế qua tôn giáo, lại nhiều ảo tưởng, tâm linh hư không.

Thất Sát là tướng tinh nên cát tinh cát hóa chỉ tô điểm thêm, chứ không có tác dụng trọng yếu, chi bằng nam nhân cát tinh vào cung Phúc, nữ nhân cát tinh vào cung Phu lại tốt đẹp hơn.

Thất Sát rất ưa Lộc Tồn đồng độ, hoặc gặp Hóa Lộc, được thế thì sau khi phá tán thất bại, vẫn có thể thu dọn tàn cụ, tái tạo cơ đồ.

Thất Sát cung mệnh thích hợp ngành công thương nghiệp, hoặc quân nhân cảnh sát (đặc biệt có Kình Dương).

Thất Sát không thấy Xương Khúc cũng chủ về “giàu mưu kế, giỏi vạch sách lược”, trên thực tế, Thất Sát không thích gặp Xương Khúc, bởi vì Thất Sát là võ tướng, sống trong rừng thương mưa đạn, ánh đao bóng kiếm, không thể lo nghĩ nhiều, không thể do dự không quyết đoán. Văn Xương Văn Khúc chủ về thanh nhã, suy nghĩ tìm tòi. Thất Sát mà gặp Xương Khúc thường thường sẽ đả kích năng lực quyết đoán của nó, biến thành do dự không quyết đoán, tiến lui không chỗ dựa, dũng khí không đủ.

Thất Sát gặp cát tinh, cát hóa có thể phân biệt chi tiết hơn. Thất Sát thấy Hóa Lộc, Lộc Tồn thì lợi về kinh doanh thương mại, làm ăn buôn bán, nhất là công nghiệp sản xuất. Thấy Phụ Bật thì chủ có nhiều thủ hạ, cục diện sự nghiệp lớ, nếu thêm Hóa Quyền thì càng lợi về việc quản lý nhân sự, thống lĩnh thiên binh vạn mã. Có Hóa Khoa, Xương Khúc tương hội thì chỉ lợi về các công việc chuyên nghiệp như công nghiệp kĩ thuật. Thấy Khôi Việt thì chủ về sự nghiệp gặp được cơ hội.

Ở trong đám cát diệu, Thất Sát rất ưa Lộc Tồn và Hóa Lộc, có mấy chỗ tốt. Thứ nhất, Thất Sát cương cường, được sao lộc thì tính cách nhu hòa hơn, hoặc ngoài cương trong nhu. Thứ hai, Thất Sát khi phát triển sự nghiệp mà được sao lộc thì phát triển thuậ lợi, nguồ tiền tài cung túc. Thứ ba, mệnh tạo Thất Sát tọa mệnh thì trong mệnh đã định một đời phải trải qua một lần phá tán thất bại lớn, nếu được đủ sao lộc thì sau khi phá tán thất bại, nguồn tiền tài có thể sẽ đến lại, không có sao lộc thì việc tái dựng lại cơ nghiệp càng cực kì khó khăn.

Thất Sát gặp các sao Hình Kị Không Kiếp chủ về tính chất bất lợi. Đại khái mà nói, tính cách thì cố chấp, làm việc thủ đoạn kịch liệt, kết quả là quan hệ giao tế xấu, gây nhiều ác nghiệp, dẫn đến quả báo, tai họa xuống đầu.

Thất Sát thủ mệnh ở cung độ miếu vượng Dần Thân Ngọ Mùi là rất tốt. Bốn cung này dù thấy sát tinh mà không thấy cát diệu thì sự nghiệp cũng có biểu hiện, có điều, như Lục Bân Triệu nói, nếu chỉ có sát tinh mà không có cát diệu thì sẽ “phá tán thất bại, tai họa, nan tai bệnh tật”, sau khi thất bại lớn, không đủ sức gây dựng lại. (Lưu ý trường hợp có sao lộc trên). Thất Sát ở cung mệnh thấy Không Kiếp Hao, tất nhiên theo nghề công nghiệp sản xuất là tốt, hoặc ít nhất có một nghề sở trường. Nếu làm công việc đầu tư, thương nghiệp, không nói đến đầu cơ, cũng chủ về khuynh gia, phá tán thất bại. Có thêm sát diệu Hóa Kị thì phá tán thất bại càng nặng?

Thất Sát đi với Hỏa Linh Kình Đà Không Kiếp thì cuộc đời gặp trắc trở càng lớn, hoặc thân mang trọng bệnh, hoặc bị thương tật, cuộc đời cũng cô độc. Vì vậy thông thường nảy sinh tâm lí thiên mạnh về tín ngưỡng tôn giáo, để cầu mong cho cuộc đời có chỗ tựa.

SAO PHÁ QUÂN – Po Jun

Phá Quân Bắc đẩu đệ thất tinh, chủ dương thủy.

Phá Quân tại đẩu số chủ xung phong, bất chủ thối thủ. Phàm Phá Quân thủ mệnh, năng công bất năng thủ.

Phá Quân tối hỉ kiến Lộc Tồn và Hóa Lộc, càng hỉ khi tự thân Phá Quân hóa Lộc. Đắc lộc tất chủ khai sáng hữu thu hoạch, bằng không tất chỉ phù hợp làm công ăn lương, lợi lộc thực tế rất ít.

Sở dĩ Phá Quân Hóa Lộc tất đa kiêm nghiệp, kiêm chức, hoặc gánh vác thêm chức trách. Còn Phá Quân Hóa Quyền, cũng có ý nghĩa như trên, nhưng so với Hóa Lộc thì phải “viễn vi tân lao”, chỉ có danh tiếng thì hiển hách hơn.

Nếu Phá Quân không gặp Lộc, cũng không gặp Quyền, thì cần kiến Tả Phù, Hữu Bật mới chủ có trợ lực, khả dĩ có thể giảm thiểu gian nan vất vả.

Nếu không gặp cát hóa, lại không gặp phụ tá cát diệu, mà gặp sát kị thì tất là người suốt đời chỉ phá hư, khiếm khuyết khai sáng tính. Cổ nhân nói: “Phá Quân Hỏa Linh, bôn ba lao lục, cung phi tranh môn”, còn nói “Phá Quân Dương Đà đồng cung, chủ hữu tàn tật”, hay “Hình Kỵ đồng cung, chủ hữu tàn tật” là ý nói vậy.

Trong đám cát diệu, Phá  Quân bất hỉ Văn Xương, Văn Khúc, chủ khí chất bất đồng. Cổ nhân thuyết: “Phá Quân Xương Khúc đồng cung, nhất sinh bần sĩ”, duy có Dần cung có Phá Quân độc tọa cùng cát diệu thì hỉ kiến Xương Khúc, cổ nhân thuyết: “Phá Quân Xương Khúc đồng cung Dần, chủ quý”.

Phá Quân bản chất lực phá hoại mất yên ổn, nên khi kiến Thiên Mã thì con người ý chí bất định, trở nên lưu ly lãng đãng, không có công việc đàng hoàng, lại kiến đào hoa chư diệu thì nữ mệnh chủ ý chí bạc nhược, hay suy nghĩ ưu tư lạ thường. Trung Châu Phái có khẩu khuyết: “Phá Quân vô cát hóa, lộc mã hội sát, nam nữ lãng đãng. Nữ mệnh giai giả diệc như hồng phất”.

Phá Quân chỉ có một loại tổ hợp tinh hệ đẹp, chủ người năng công năng thủ, tức vào vị “anh tinh nhập miếu” cách. Lúc này, Phá Quân nhập miếu tại tý ngọ, đối cung là Liêm Tướng chiếu, nếu Phá Quân Hóa Quyền, Liêm Trinh Hóa Lộc chiếu, lại kiến phụ tá chư diệu, vô sát kị chư diệu hội chiếu tất thượng thượng cách cục. Cổ nhân nói: “Anh tinh nhập miếu, vị chí tam công” là ý chỉ vậy. Tuy nhiên, cách cục này không thích hợp với người tuổi Bính, bởi Phá Quân vô lộc mà Liêm Trinh lại hóa Kỵ đối củng, chủ người suốt đời gian nan khổ cực, thị phi.

Ngoài ra, Phá Quân còn có một hung cách. Đó là khi Phá Quân thủ mệnh, đơn kiến Văn Khúc Hóa Kị đồng độ, không kiến Văn Xương lai hội, hoặc kiến Văn Xương và sát kị hình chư diệu hội hợp thì gọi là “Phá Quân ám diệu”. Ám diệu ở đây là nói “Văn Khúc Hóa Kị”.

TUẦN KHÔNG – TRIỆT LỘ

Bàn về Tuần Triệt thì chắc không bao giờ hết, tôi chỉ đưa ra sự tổng hợp và kinh nghiệm cá nhân để tham khảo, ngoài những cuốn sách đã đưa lên.

Tuần Triệt là trạng thái của một cung mà nó chiếm đóng, tác động ảnh hưởng lên những sao nằm trong cung đó.

Tuần Triệt luôn án ngữ hai cung kề nhau, nhưng không hẳn nó có tác dụng mạnh mẽ trên hai cung như nhau. Có trường phái chia chính – phụ, đầu – đuôi. Đại ý thực chất trong hai cung chỉ có một cung bị ảnh hưởng nhiều bởi chính Triệt, chính Tuần.  Người tuổi Dương chính Triệt, chính Tuần tại cung Dương, người tuổi Âm chính Triệt, chính Tuần tại cung Âm (Quan điểm trong sách  Vương Đình  Chi).

Tuần Triệt ảnh mạnh tới các Cát tinh có ý nghĩa cầm đầu, quyền hành như Tứ Đế Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, và Thiên Tướng, Thiên Khôi. Ngoài ra các chính tinh chỉ sự tính toán, phù động mà khá yếu đuối như Thiên Cơ, Thiên Lương cũng ảnh hưởng mạnh. Lúc này lại có sát kỵ hình tinh ở bản cung và hội chiếu thì thêm xấu. Các sao trên gặp Tuần Triệt chủ nên sống và làm việc xa gia đình, quê hương nơi sinh ra.

Cung vô chính diệu rất nên có Triệt để ngăn cản ác sát tinh xâm phạm nếu tại tam phương tứ chính nhiều sát tinh, hoặc Tuần đề câu hút cát tinh nếu tại tam phương tứ chính có nhiều cát tinh.

Khi luận giải một lá số, ngoại trừ trường hợp đặc biệt với Tuần Triệt, như Mệnh Thân Tài Quan vô chính diệu, hoặc hội tụ nhiều sát tinh hay rơi vào các sao kỵ Tuần Triệt thì có thể tạm bỏ qua tính chất Tuần Triệt, luận giải cách cục, rồi đem Tuần Triệt vào gia giảm.

(Nguồn: soncd.wordpress.com)