LÁ SỐ VÀ CUỘC ĐỜI CỦA NỮ CA SĨ TỪ DUNG (CỬ NHÂN VĂN KHOA)

Sinh năm Bính Tuất, tháng 10, ngày 06, giờ Thìn
Dương nữ, Thổ mệnh, Kim Tứ cục

Luận đoán của Lê Thanh Thái
Luận về Mệnh, Thân và Cục

Mệnh vô chính diệu đắc Tam Không, hội Tả, Hữu, Đào, Hồng, Tham, Linh, Tướng, Ấn phùng Tam đức (Thiên, Phúc, Nguyệt) và giáp Xương Khúc Thai Tọa. Nhất là Thổ Mệnh lập tại cung Thổ, không có chính tinh tọa thủ, gặp Tuần (thuộc Hỏa) án ngư, có Tả, Hữu đắc địa ở Sửu, Mùi hội Thiếu Âm, Thiếu Dương là người thông minh, giáp Xương Khúc Thai Tọa, Khoa, Mã là đỗ đạt cao (Cử nhân văn khoa).

Thân cư Tài bạch tại Mão, Kim Cục là khắc, nhưng Cục khắc cung, Thân cung và Mệnh sinh Cục là thuận lý. Hiềm vì Cục sinh chính tinh tọa thủ cung Thân cư (Thiên Tướng thuộc Thủy) và Mệnh có sao Thai ngộ Tuần, cho nên lúc sơ sinh đã phải long đong vất vả và cũng khó nuôi. Phú có câu:

Sao Thai thủ Mệnh ngộ Tuần
Sơ sinh hứng chịu lắm lần gian nan

Những cung nổi bật trong lá số

Cung Phụ Mẫu: Đóng tại cung Thân, vô chính diệu, đắc Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa, có Mã ngộ Khốc, Khách hội Quyền Lộc, Long Phượng, Tấu, Đà, Cự, Nhật, Cơ, Lương, Âm, Đồng miếu vượng ở tam phương chiếu hội, cho nên thân sinh Từ Dung là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng (Hoàng Đạo). Hiềm vì có Mã ngộ Tuyệt đóng tại Phụ mẫu, Thái Dương cư Tật Ách, năm đương số lên 3, tiểu hạn nhi đồng đến cung Tật Ách, gặp Nhật vượng ngộ địa song Hao, Thiên Sứ, Hình, Diêu, Tử, Tuyệt, thành thử phải chịu mồ côi cha vào năm này (1948). Tuy đương số sống với mẹ, nhưng Thái Âm cư Tý ngộ Đẩu, Quan, Tang, Đà do đó mẹ con thường bất đồng ý kiến

Cung Huynh đệ: Cung này lập tại Ngọ, là cung nhị hợp với cung Mệnh, và hợp với Thổ mệnh (được sinh phò cho bản mệnh) lại được Âm, Đồng, Long, Phượng, Khoa, Lộc, Tấu, Cái, Dưỡng hội họp đương số hợp với chị em hơn là cha mẹ.

Cung Điền trạch: vô chính diệu (vì Mệnh vô chính diệu cho nên hợp với những cung vô chính diệu và những cung bàng tinh hơn là các chính tinh, có Cáo, phụ, Quang, Quí, Khoa, Quyền hội Cơ, Lương Thìn Tuất và Cự, Nhật ở Dần, giáp Khôi, Việt cho nên từ lúc sơ sinh tuy có long đong, nhưng vẫn được cư trú vào những nơi nhà cửa khang trang. Hiềm vì cung Tài bạch có Thiên Tướng thuộc Thủy lại là nam đẩu tinh, tuy không trị được họa Không, Kiếp, nhưng tinh lực bị tiết chế vì đóng tại Mộc cung, và Kim cục Thân cư tại đây. Cục sinh chính tinh tọa thủ là bị chiết giảm. Có Thiên Phủ là tài và quyền tinh đóng tại Quan lộc, nhưng bị Thiên không chẳng khác nào cái kho không có cửa đóng, thành thử Khôi, Việt hội Nguyệt đức, Đào hoa, Thanh Long, Hóa Kị chiếu Tài bạch, đáng lẽ đương số giàu lớn, nhưng tiền bạc chưa tích tụ được. Phải chờ đến đại hạn 34-43 đi vào cung Tử tức, bấy giờ có Lộc Mã, Quang Quí thì đương số mới dễ kiếm và sẽ giữ được tiền.

Những bộ sao ảnh hưởng đến khả năng ca nhạc

Cung Quan lộc có Tướng, Phủ (có Tử vi, Thất sát nhưng đang bị Triệt án ngữ, chưa phát tiết tinh lực, hội Hồng, Đào, Hỉ, Thanh Long ngộ Nguyệt đức, Thiên quan quí nhân. Mệnh có Thai, Đào, Hỉ, Tả, Hữu, Thiếu Âm, Thiếu Dương và giáp Xương, Khúc, Thai, Tọa. Đó là những vì sao giúp đương số có năng khiếu ca nhạc và nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật.

Nhìn qua những Đại, tiểu hạn biến chuyển quan trọng

Đại hạn 14-23, 10 năm này gốc đại hạn ở cung Huynh đệ, có Khoa, Lộc, Long, Phượng và Nhật, Nguyệt chiếu hư không chi địa, hội Tang Hổ Tấu Cái. Đương số học hành rất dễ đỗ đạt. Tuy nhiên cũng có những năm tiểu hạn đi vào cung cực Thủy. Thổ Mệnh không hợp với cung Thủy, hoặc những năm hành Mộc là năm 17 tuổi, hạn đến cung Nô bộc có Đồng, Âm tại Tý, gặp Tang, Hổ, Hình, Diêu. Năm này đương số thi rớt hoặc có chuyện buồn trong gia đình, vì có Hóa Quyền 1964, hạn đến cung Điền trạch có Quang, Quí, Khoa, Quyền, Cáo, Lương, Cự, nhật thì đương số lại thi đỗ Tú tài I rất dễ dàng, để rồi năm sau (1965) lại đỗ tiếp Tú tài II nhờ có Hồng, Đào, Tả, hữu và Thiên quan quí nhân hội Nguyệt đức.

Năm 1967, 22 tuổi, hạn vào Mệnh, giáp Xương, Khúc, Thai, Tọa, trong cung hạn có Tả, Hữu, Đào, Hỉ, Tam Đức hội họp. Đương số vừa học Văn khoa, vừa đi hát (nhạc Từ Công Phụng). Để rồi, năm 1969, 24 tuổi, gốc đại hạn đổi đến Phu Quân, trùng phùng với tiểu hạn. Có Hồng, Hỉ, Tả, Hữu, Khôi, Việt, giáp Khoa Quyền. Đương số đỗ Cử nhân văn chương và tác thành hôn lễ với nhạc sĩ Từ Công Phụng.

Năm 1971, hạn đến cung Tài bạch, lưu đại hạn đến cung Nô bộc, có Hóa Lộc hội Xương Khúc Khoa Quyền. Cung hạn có Tướng, Phủ hội Khôi, Việt, Đào, Hỉ hội Thanh Long, Hóa Kị, Nguyệt đức. Đương số xuất hiện trên màn ảnh Truyền hình, và tiếng hát bắt đầu được loan đi qua băng nhựa của công ty Tơ vàng.

Năm 1972, 27 tuổi hạn đến cung Tật Ách, có Cự Nhật hội Xương, Khúc, Mã, Khốc, Khách là đương số sẽ tiếp tục được nổi tiếng địa hạt ca nhạc mà còn ở lĩnh vực văn chương, báo chí, sáng tác nữa. Nhưng về sức khỏe và hạnh phúc gia đình, năm này có Cự, Tuế, Diêu, hình ngộ Quan Phù, Thiên Sứ, đương số phải giữ gìn sức khỏe và trong tình chồng vợ cũng phải hết sức cẩn thận nhẫn nhịn, kẻo chuyện bé xé to, có thể đi đến đổ vỡ vào những tháng cuối năm này và những tháng đầu năm 1973 (hạn vào Cô, Quả ngộ Liêm, Phá, Tướng, Phụ ngộ Kị).

Tóm lại, về tương lai, Từ Dung tuy không phải là ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng vẫn còn phụng sự cho nghệ thuật ca nhạc dài dài. Nhưng cung Phu quân, vì Tử Sát ngộ Triệt lại gặp Cô, Quả, Liêm, Phá hội Kiếp, Kị cho nên phải chịu nhiều lận đận trong vấn đề hạnh phúc gối chăn, nhất là vào những năm 1973-1975-1977 còn gặp nhiều đột biến bất ngờ trong vấn đề hôn phối.

Riêng về năm 1973, hạn vào cung Thiên Di, có Tả, Hữu, Tướng, Ấn, và giáp Long, Phượng, Nhật, Nguyệt, đương số sẽ có cơ hội được xuất ngoại hoặc có thể chuyển sang ngành ngoại giao

Tử Vi Việt Nam Sưu Tầm – Theo Tử Vi Lý Số