Tuvivietnam 353929

TẠP CHÍ KHHB SỐ 45 RA NGÀY 31/8/1973]
NGHIÊN CỨU TỬ VI-NGUYÊN TẮC ĐỂ GIẢI ĐOÁN LÁ SỐ TỬ VI

PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC CHÁNH YẾU VỀ TINH ĐẨU TẠI CUNG MỆNH, THÂN

• Vô cùng quan trọng: Sự SINH và KHẮC giữa cung sao, giữa sao và Mệnh, giữa chính tinh với nhau, giữa chính tinh và trung tinh, giữa các trung tinh với nhau.
• Âm Dương và Ngũ Hành

(Anh Việt)

Mời quý bạn đương tìm hiểu Tử Vi, xem các nguyên tắc giải đoán trong bài này, và đem các nguyên tắc đó để áp dụng vào những lá số tiêu biểu, như lá số cụ Kỷ Mùi đăng trong kỳ giai phẩm trước (Giai phẩm KHHB số 44), và lá số cô Đinh Hợi đăng trong kỳ giai phẩm này.

Nguyên tắc luận đoán cung Mệnh, Thân
Đoán cung Mệnh và Thân, phải xét nhiều yếu tố rồi phối hợp lại. Như các yếu tố đều tốt, thì số rất tốt, nhưng hầu như không có ai được như thế, cho nên xét được một số yếu tố tốt, cũng là khá rồi. Phải xét kỹ về yếu tố các sao (chính tinh và trung tinh quan trọng), vì ảnh hưởng của các sao đó trực tiếp và rất quan trọng. Còn các yếu tố khác chỉ làm cho độ số gia tăng hay chiết giảm phần nào.

1. Âm Dương của Mệnh và cung an Mệnh
Sinh các năm Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là Dương.
Sinh các năm Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là Âm.
Sinh Dương mà cung Mệnh là cung Dương, Sinh Âm mà cung Mệnh là cung Âm, thì tốt, độ số gia tăng. Ngược lại, Sinh Dương mà Mệnh đóng cung Âm, Sinh Âm mà Mệnh đóng cung Dương, là giảm kém phần nào.
Các cung Âm Dương trên lá số được quy định như dưới đây:

2. Hành của Mệnh và Hành của Cục sinh hay khắc
Hành tức là Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Mệnh có một hành, Cục cũng có một hành. Hành của Mệnh và hành của Cục được tương sinh thì độ số gia tăng; khắc nhau thì độ số giảm đi. Thí dụ: người Kim mệnh, Thủy cục, là được Mệnh cục tương sinh, vì Kim sinh Thủy. Người Kim mệnh, Mộc cục, là khắc nhau, vì Kim khắc Mộc.
Sau đây là bảng ghi sự sinh khắc:
Tương sinh:
Kim sinh Thủy
Thủy sinh Mộc
Mộc sinh Hỏa
Hỏa sinh Thổ
Thổ sinh Kim

Tương khắc:
Kim khắc Mộc
Mộc khắc Thổ
Thổ khắc Thủy
Thủy khắc Hỏa
Hỏa khắc Kim

Tóm tắt sinh và khắc trong một hình đồ
Theo thứ tự Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, bạn vẽ trên vòng tròn. Trên vòng tròn là thứ tự sinh (theo chiều thuận). Cách một hành, theo đường ngôi sao là thứ tự khắc.

Quý bạn nên thuộc về sự sinh, khắc giữa các Hành. Hoặc các bạn luận đoán nhiều lá số, cho quen với sự sinh khắc. Luận đoán Tử vi là luận đoán về sự sinh khắc giữa các Hành, luận đoán được đúng là giải đoán đúng. Quý bạn sẽ thấy sự luận đoán giữa các Hành liên quan đến các sao rất là quan trọng.

Xét về các chính tinh thủ Mệnh
Trừ những người Mệnh vô chính diệu (tức là không có chính diệu thủ Mệnh: trường hợp chúng tôi sẽ nói sau), còn các lá số đều có chính diệu thủ Mệnh. Nhưng không phải chính tinh này là hay, chính tinh khác là dở. Một chính tinh (điểm quan trọng nhất), được hay hoặc bị dở là do hai yếu tố, cùng quan trọng như nau:
1. Chính tinh có đóng đúng chỗ hay không (tức là hành của cung có sinh cho hành của chính tinh hay không, tức là có miếu, vượng, đắc địa không).
2. Chính tinh có sinh được Mệnh, hay là khắc Mệnh (tức là hành của chính tinh sinh được hành của Mệnh là tốt; nếu chính tinh khắc hành của Mệnh là xấu).
Vậy, khi xét các chính tinh thủ Mệnh để đoán cuộc đời (đoán cung Thân chỉ về 30 năm Hậu vận, cũng thế), phải xét xem chính tinh có tốt hay không.
Các sách đều có bảng ghi về Âm Dương và Hành của chính tinh, và Hành của các trung tinh, hung tinh, v.v… các bạn có thể dựa vào đấy mà luận sự tốt, xấu của các sao. Chúng tôi sẽ xin đăng bản đó. Và mời các bạn xét các lá số mẫu đăng cùng tập giai phẩm này để ghi nhận thêm về cách luận đoán.
Xin ghi thêm các chi tiết sau:
1. Cung Mệnh sinh chính tinh là tốt nhất. Thí dụ: Thái Âm là Thủy, ở cung Dậu là cung Kim. Kim sinh Thủy, vậy là tốt bậc nhất. Nếu lại hợp cả Âm Dương: Thái Âm là Âm, cung Dậu là Âm; như thế lại càng tốt hơn, gọi Thái Âm được “miếu” ở cung Dậu.
2. Hành của chính tinh là hành của cung, thì chính tinh được tốt: thí dụ Cự Môn thuộc Thủy, ở cung Hợi cũng là Thủy, tức là đắc địa hoặc vượng địa (tốt bậc hai).
3. Nếu hành của chính tinh thủ Mệnh sinh ra hành của cung an Mệnh ấy là sinh ngược, chính tinh đã không được sinh phò, mà lại bị tiết ra, tức là chính tinh giảm kém: đó là trường hợp xấu, nhưng là xấu vừa. Thí dụ: Thiên Lương là sao Mộc, ở cung Tị là cung Hỏa, thì chính tinh không được sinh, mà lại sinh cho cung, thành thử chính tinh bị giảm kém (hãm vừa)
4. Nếu hành của cung khắc hành của chính tinh, thì chính tinh không còn được ảnh hưởng gì nữa, có cũng như không, ấy là chính tinh bị khắc. Thí dụ Thái Dương là Hỏa, ở cung Hợi Thủy, Thủy khắc Hỏa, vậy Thái Dương bị hãm. Chính tinh bị hãm thì không còn ảnh hưởng tốt hoặc chỉ còn ảnh hưởng xấu. Gặp chính tinh thủ Mệnh mà bị hãm, thì phải cần gặp Tuần, Triệt ngay cung để làm tốt ra, hoặc là cần gặp nhiều trung tinh tốt khác để làm tốt trở lại. Nếu chính tinh đã hãm, không có Tuần, Triệt, không có trung tinh tốt lại bị nhiều hung tinh, là cực xấu.
Nhưng được chính tinh ở chỗ tốt (miếu, vượng, hay đắc địa), chưa vội mừng. Phải xét xem chính tinh đó có khắc Mệnh không mới được. Nếu chính tinh miếu vượng mà hành lại khắc Mệnh, thì lại chẳng ăn thua gì. Cần chính tinh miếu vượng sinh được Mệnh, như thế mới tốt.
Thí dụ: Vũ Khúc (Kim) tại Sửu (Thổ) là Miếu, rất tốt. Nhưng đương số là người mạng Mộc, thế là bị Kim của Vũ Khúc khắc. Thế là được sao miếu mà lại hỏng. Liêm Trinh (Hỏa) ở cung Ngọ (Hỏa) là vượng địa, vậy là sao tốt. Nhưng nếu người Mệnh Kim, thì Hỏa lại khắc Kim, lại là hỏng.
Nếu hành của chính tinh thủ Mệnh cũng là hành của Mệnh, là hòa (tốt vừa).
Nếu hành của Mệnh sinh ra hành của sao, thì đó là sinh ngược, Mệnh bị tiết, Mệnh bị giảm. Đó là trường hợp xấu vừa.
Ghi chú quan trọng: Về cách luận giải để biết sao ở chỗ miếu, vượng, đắc địa hay hãm địa, chỉ luận giải đại cương như trên, ngoài ra còn những yếu tố khác nữa chưa kể đến (thí dụ sao Thái Âm, Thái Dương lại còn phải thêm yếu tốt giờ giấc tính trên các cung). Các sách có ghi bảng những chính tinh ở cung nào là miếu, vượng, đắc địa hay hãm địa. Kỳ sau, chúng tôi sẽ lập lại bảng đó để quý bạn sử dụng mà luận đoán.

Nguyên tắc về Mệnh, Thân và cung Phúc Đức
Mệnh là cung chủ về toàn bộ cuộc đời và nặng về 30 năm đầu. Mệnh là cái số mệnh được ghi sẵn của con người. Đó là cái Mệnh được ấn định tùy theo cái nghiệp mà mỗi người mang sẵn khi ra đời.
Thân là cung chủ về vận mạng trong 30 năm sau (hậu vận). Cho nên cung Thân cũng chủ về sự cố gắng của mỗi con người để hoán cải số mạng (cố gắng xây dựng, cố gắng làm việc phúc đức). Nhiều vị cho rằng cung Thân chỉ về cái tâm trạng và sự cố gắng của mình. Thân nàm tại cung nào, là hậu vận mình có liên quan đến những sự kiện thuộc cung đó (Thân tại Thiên Di, hoặc tại Phúc Đức, tại Quan Lộc, tại Tài Bạch, tại Hôn Phối).
Thân hơn Mệnh là tốt, vì tỏ rằng con người có sự cố gắng và tiến triển. Thân kém Mệnh là xấu, vì tỏ rằng con người thiếu sự cố gắng và thiếu yếu tố phúc đức nội tâm. Một số các vị Tử vi quan niệm như vậy, lấy cái lẽ rằng những cố gắng của con người trong 30 năm đầu tạo cho vận mạng trong 30 năm về sau.
Xem vận mạng đại cương của cuộc đời, lại phải xem thêm Phúc Đức, vì một người gặp xấu mà được Phúc Đức tốt cũng có thể được cứu giải. Thí dụ, gặp các cách ở Mệnh để nghĩ là sống non yểu, thì phải xem Phúc Đức, thấy cung này thật tốt thì không thể đoán là non yểu.
Xem các chính tinh khác trên 12 cung
Vận mạng của một người tốt xấu, không thể chỉ xét về cung Mệnh và cung Thân. Như được Mệnh, Thân tốt, mà vợ đi lấy ngoại nhân, hoặc mình không con, bạn bè phản bội, thì chưa thể gọi là số tốt. Ngược lại, một người có Mệnh, Thân, Tài bạch kém nhưng nhờ được cung Tử Tức thật tốt, thì được con cái làm ăn khá và nuôi dưỡng đàng hoàng, như thế cuộc đời cũng dễ chịu.
Xem các chính tinh khác, là để tìm xem chính tinh có miếu, vượng, đắc địa hay là bị hãm, hay là sinh phò hoặc khắc mệnh, nghĩa là có đủ ảnh hưởng không? Lại phải xét xem sao có đứng đúng chỗ không: Tài tinh mà ở vào cung Quan Lộc, hay là chính tinh chủ về Quan Lộc lại đóng cung Tài, thì “phèo”.

Quan trọng: xét các trung tinh
Ấn định về cuộc đời, không phải chỉ xét các yếu tố là đủ. Các trung tinh cũng rất quan trọng. Trong số các trung tinh, có những trung tinh tốt và trung tinh xấu, lại phân ra trung tinh mạnh và trung tinh yếu. Chúng ta khỏi kể đến các trung tinh yếu, vì những trung tinh này chỉ có ảnh hưởng nhỏ, hoặc bị các sao lớn đánh bạt ảnh hưởng đi.
Các trung tinh tốt và mạnh là:
Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Lộc tồn, Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Long, Phượng, Đào, Hồng, Tướng, Ấn, v.v…
Các hung tinh mạnh là: Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Thiên Không, Kị, nhị Hao, Tang, Hổ, Khốc, Hư, Hình, Cô, Quả, Kiếp Sát…
Không nên cứ thấy sao tốt là bảo tốt, sao xấu là bảo xấu. Trung tinh tốt cũng phải ở đúng chỗ (đắc địa hay hãm địa, có phù trợ cho chính tinh không). Không được thế, cũng chẳng thêm gì. Còn hung tinh mà đắc địa, thì lại được tốt, làm cho vận mạng bộc phát (phát dã như lôi).
Mặt khác, được chính tinh tốt, mà bị một lũ sao hung đồ đến xâm nhiễu thì lại hỏng cả một cuộc tốt. Được chính tinh tốt, cũng phải được thêm những trung tinh tốt, mới thật là tốt. thí dụ như được Tử Vi miếu là rất tốt, nhưng phải được các trung tinh tốt khác đến phù trợ, mới là được cách “quần thần khánh hội”. Nếu lại bị lũ sao hung kéo đến, như Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh, thật chẳng khác chi ông vua trơ vơ trong rừng, bị lũ cướp lột sạch (Đế ngộ hung đồ). Phải có chính tinh như Thiên Tướng (tướng nhà trời) mới không sợ không kiêng trộm cướp. Quý bạn phải xem các cách này có sẵn trong các phú đoán từ ngàn xưa.
Chính tinh tốt, miếu vượng bị Tuần, Triệt cũng kém đi. Ngược lại chính tinh hãm được Tuần, Triệt lại tốt lên. Chính tinh xấu, có thể coi là không có chính tinh, cần đến những trung tinh tốt thì mạng mới tốt. Mệnh vô chính diệu cần đến Tuần, Triệt, Địa Không; không được những sao này, cũng cần có những trung tinh tốt.
Xét về cung Mệnh, phải bỏ thái độ chủ quan: không phải cứ thấy các cách tốt rồi cho là tốt, mà phải xét xem có những sao xấu nào phá mất cách tốt đi.

Quan trọng: xét các sao sinh khắc lẫn nhau
Lại phải xét xem các sao sinh khắc lẫn nhau thế nào:
– Sao tại chính cung Mệnh có ảnh hưởng mạnh nhất, kế đó là các sao ở ba cung chiếu lại (ba cung là cung đối diện và hai cung cách cung đó một cung). Cũng phải xét các sao ở hai cung giáp cung Mệnh (nhưng chỉ có một số sao ở hai cung giáp là có giá trị mà thôi) và ở cung…(Thiếu)

(Bị thiếu ảnh trang 49,50 trong Tạp chí)

TVVN Sưu Tầm – Theo Tử Vi Lý Số