NHỮNG ĐIỂM SAI LẦM TRONG CÁC SAO TỬ VI

Ân Quang

Cung Quan có Đào Hồng tại Tý
Tuổi Tý, Dậu làn nên sớm nhưng yểu.
Câu này ở trang 66, trong cuốc Tự Điển Tử Vi của tác giả Đắc Lộc, xuất bản năm 1952 tại Hà Nội.
Và cũng lại có một câu tương tự, ở trang 223, sách Tử Vi Đẩu Số của Vân Đằng Thái Tứ Lang, xuất bản năm 1957. Câu ấy như sau:
“Đào Hồng toạ thủ tại Tý” tuổi Tý Dậu hiển đạt nhưng chết non.
Theo phương pháp an sao, lập thành lá số, mà các tác giả ấy hướng dẫn nơi phần đầu cuốn sách thì :
Tuổi Tý, Hồng Loan tại Mão, Đào Hoa tại Dậu
Tuổi Dậu, Hồng Loan và Đào Hoa đồng cung tại Ngọ.
Chỉ có tuổi Mão mới có Đào Hồng cũng ở Tại cung Tý mà thôi ! Không thê nào tuổi Tý Dậu (hoặc Tỵ, Dậu) mà lại có Đào Hồng toạ thủ tại Tý được !
Người sinh lục Giáp, Lục Mậu, Mệnh cư Dần Thân có Kình Dương toạ thủ là cô đơn, không giữ được tổ nghiệp, mang hai họ thì sống lâu, làm nghề khéo léo.
Ở trang 172, Tử Vi Đẩu Số, quyền Thượng, tác giả Nguyễn mạnh Bảo đã luận như thế, và qua trang 173 thì lại nói Kình Dương “ở cung Dần là đắc địa”.
Cuốn Tử Vi Đẩu số của tác giả Nguyễn Mạnh Bảo xuất bản năm 1951, đến năm 1957, lại thấy một câu tương tự trong cuốn Tử Vi Đẩu Số của tác giả vân Đằng Thái Thứ Lang, trang 155 nói về sao Kình Dương :
“Kình toạ thủ tại Dần, Thân, tai hại nhất đối với tuổi Giáp, Mậu v.v..
Tuổi Giáp, tuổi Mậu tính làm sao cho có được sao Kình Dương ở Dần, Thân.
“Lộc tiền nhất vị thị Kình Dương”
Trước Lộc Tồn một cung là sao Kình Dương.
Giáp Dần, Ất Mão lộc chỉ khoa
Canh Thân, Tân Dậu lộc diệu đa
Nhâm trư, Quý thử tòng trung lại
Đinh Kỷ Ngọ trang, Bính Mậu xà.
Đó là một trong nhiều bài phú tương tự nói về cách an sao Lộc Tồn. Khi đã có sao Lộc Tồn thì “tiền Kình, hậu Đà”, cung trước Lộc Tồn là Kình Dương, cung sau Lộc Tồn là Đà La.
Lại còn có biết bao nhiêu đồ biểu chỉ vẽ cách an sao Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La. Đồ biểu trình bày có vẻ rất khoa học. Áp dụng các đồ biểu ấy cũng chẳng thấy tuổi nào có Kình Dương ở Dần, Thân.

Đến đây buộc lòng chúng ta phải hoài nghi khả năng bấm Tử Vi thuộc lòng của các tác giả ấy. Nếu đã thuộc lòng bản cửu chương, chín lần chín là tám mươi mốt, khi nghe ai nói chín lần chín là tám mươi, thì chúng ta sẽ thấy ngay là người ấy có nhầm lẫn. Nếu đã thuộc lòng tuổi Giáp có Lộc Tồn ở Dần, thì chẳng thể nào viết sách, rằng tuổi Giáp có Kình Dương ở Dần được.
Tiếc thay, trong một cuốn sách Tử Vi xuất bản gần đây, có những bài phú chỉ dẫn cách an sao thuộc lòng, lại cũng chẳng thấy có đoạn tương tự !
“Người tuổi Giáp, tuổi Mậu mà Mệnh đóng tại Giần Thân lại gặp Kình Dương thì phá tán tổ nghiệp”.
Nêu lên những sai lầm kể trên, chúng tôi không có ý khen chê một tác giả nào. Chúng tôi chỉ muốn đưa ra một nhận xét rằng khoa Tử Vi đã bị thất truyền, lại còn bị làm rối loạn thêm bởi những “công thức các bộ sao chỉ có thể có trong trí tưởng tưởng, chứ không thể xảy ra khi an sao, lập thành lá số.
Thí dụ như cách “ Tả Hữu giáp Thân, Mệnh an tại Dần, Tuất” là phú quý, đàn bà giàu có, kẻ vì người mong và cũng là cách không thể nào xảy ra khi an sao, lập thành lá số (trang 117 – Tự điển Tử Vi – Tác giả Đắc Lộc).
Nếu ở trang 179, cũng sách ấy tác giả nói đến cách :
“Vũ, Liêm đồng cung bần cùng” thì tác giả Nguyễn Mạnh Bảo cũng luận về sự Sinh Khắc Chế Hoa của các sao như sau :
Ví dụ như Vũ Khúc là Kim tinh với Liêm Trinh là Hoả tinh, cùng ở với nhau tuy Vũ Khoá là tài tinh, có kiếm được đi chăng nữa thì cũng phải hết vì Liêm Hoả khắc Vũ Kim.
Thật ra không thể nào tính được sao Vũ Khúc và Liêm Trinh đồng cung. Hai sao này luôn luôn ở vào phương vị hạp chiếu nhau, vì cùng nằm trong thứ tự của vòng sao Tử Vi.
Những sự sai lầm ấy, không có gì hại nhiều. Chỉ làm cho học giả Tử Vi mất thêm chút thời gian đọc sách bận rộn trí óc thêm một chút. Chỉ mất thì giờ chứ không có hại, vì khi áp dụng vào luận đoán, nhìn vào lá số, không gặp những cách kể trên thì thôi, không ai thắc mắc làm gì.
Những cách ấy, trường hợp ấy chẳng bao giờ xảy ra. Người nghiên cứu Tử Vi chẳng bao giờ gặp cách ấy trong lá số, để luận đoán, vì vậy cũng chẳng ai đặt thành vấn đề phân tách hoặc rút kinh nghiệm. Những cách ấy có thực đâu mà rút kinh nghiệm.
Chẳng hạn, cứ viết là :
“Thất Sát đồng cung với Thiên Cơ thì thiện được bà phần”.
Người viết cứ việc viết, người đọc cứ việc bỏ thì giờ ra mà đọc. Người mới học Tử Vi, làm sao biết được rằng Thất Sát chẳng bao giờ đồng cung với Thiên Cơ.
Những điều kể trên cũng chỉ làm mất thì giờ, bận rộn trí óc người đọc sách chứ không có hại lắm, vì quý bạn nghiên cứu Tử Vi có bao giờ gặp được những cách ấy trong lá số nào đâu.
Còn nhiều cách lẩm cẩm tương tự. Nhưng chúng tôi không làm công việc điểm sách Tử vi vì e rằng có những sự hiểu lầm. Thực lòng, chúng tôi chỉ mong góp một phần nhỏ trong việc bảo tồn và làm sáng tỏ chân lý Tử Vi mà thôi. Chúng tôi xin đề nghị với quý bạn mới nghiên cứu Tử Vi nên chịu tốn công một chút, học cách an sao thuộc lòng, cũng như người làm tóan thì cần thuộc lòng bản cửu chương. Chừng ấy quý bạn có thể tự mình nhận xét, tìm thất những cách không hề xảy ra khi an sao, lập thành lá số. Thí dụ như khi đã quen với cách tính thuộc lòng, lại thất sách viết : “Tử Vi có Thái Âm, Thái Dương hợp chiếu” lúc ấy quý bạn có thể nhận ra rằng đó là một quái thai Tử Vi vậy.
Nếu theo cách an sao trong các sách Tử Vi hiện nay, thì không một tuổi nào có Kình Dương ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, quý bạn cứ xem lại các sách Tử Vi thì sẽ rõ.
Tuổi Giáp, tuổi Mậu thì tuyệt đối không khi nào có Kình Dương ở Dần, Thân.
Còn đối với các tuổi khác thì có thể, theo một cách tính Tử Vi xưa, có Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi không phải ngẫu nhiên mà có chuyện Kình Dương đắc đại ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Trong một số đáng kế những lá số Tử Vi viết và luận sắc sảo bằng chữ Hán mà chúng tôi sưu tầm được, thì thấy có tính đến Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Ngoại trừ hai tuổi Giáp và Mậu.
Riêng trong cuốn Tự Điển Tử Vi của tác giả Đắc Lộc, xuất bản năm 1952, có nói vắn tắt là Kình Dương đắc địa ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Nhưng trong phần an sao thì cũng không trình bày cách tính thế nào mà được Kình Dương đắc địa ở Dần, Thân, Tị, Hợi.
Sách Tử Vi Chỉ Nan của tác giả Song An Đỗ vẫn lưu xuất bản năm 1957, cũng có nói đến Kình Dương đắc địa ở Dần, Thân, Hợi hãm ở Tị. Thế mà trong phần an sao, cũng không chỉ dẫn tính cách nào cho có được Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi.
Chẳng lẽ đã viết sách lại còn giấu nghề, nhất là đã có công sưu tầm sách chữ Hán để dịch ra chữ Việt. Có lẽ quý vị ấy cũng chưa khám phá hết cái sai lầm có dụng ý của người xưa.
Ông Cao Trung đã có lần nói đến những cái “ sai lầm có dụng ý” của người xưa, trong lá thư Toà soạn kỳ bào số 20.
Chúng tôi được biết số, hiện nay có một thầy Tử vi uyên thâm tại Sài Gòn, khi bấm số Tử vi vẫn tính có trường hợp Kình Dương đóng ở Dần Thân, Tị, Hợi. Nhưng cũng chẳng nói với ai. Không hẳn là vị Thầy ấy giấu nghề. Đứng vào tư thế của một người hành nghề, lại đưa ra một kinh nghiệm, hoặc một quan niệm có vẻ đi ngược lại trào lưu (dù là trào lưu sai lầm) thì dễ gặp những sự chống đối, chất vấn, có khi đi đến chỗ đánh đố vặt, chẳng lợi lộc gì, chi bằng cứ giữ im lắn, chẳng thiệt thòi, lại đỡ va chạm, thêm ồn ào.
Trong một bài khác chúng tôi sẽ trình bày trường hợp Kình Dương ở Dần, Thân, Tị, Hợi và cũng trình bày một vài quan niệm về các trục Tý – Ngọ, Mão – Dậu, Dần – Thân, Tị – Hơị, Thìn – Tuất, Sửu – Mùi.
Bây giờ xin trở lại với điểm chính của bài này.
Nếu những công thức tưởng tượng như đã kể trên không làm hại cho việc luận đoán một lá số ( vì làm gì có những công thức ấy khi an Sao) thiì những câu phú chữ hán được dịch một cách ngớ ngẩn đã làm cho người nghiên cưú Tử Vi rơi vào một “ Mê hồn trận”. Thí dụ như một số câu phú sau đây :
“ Mộc Dục độc thủ, chỉ hảo dã dong”
Được dịch :
“Thân, Mệnh có một sao Mộc Dục toạ thủ thì chỉ làm thợ bạc hay thợ rèn” (trang 47, Tử Vi Đẩu Số, quyển Hạ tác giả Nguyễn Mạnh Bảo).
Cùng viết một các chữ “Dã” có hai nghĩa : một nghĩa là nấu đúng đổ kim khí, nghĩa thứ 2 là trau dồi vẻ đẹp.
Và Dã Dong, hay là Dã Dung là một chữ kép có nghĩa là trau dồi, làm dáng, trau dồi dung mạo.
Lại như câu :
“Thái Tuế phùng Thất Sát
Mệnh viên, hung trung gia diệu toán”
Được dịch là :
Mệnh có Thái Tuế gặp Thất Sát tuy trọng hung nhưng phải xem các thủ chiếu rồi mới đoán (trang 90, Tử Vi Bổ Túc N, M.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng ký hội viên để đọc nội dung đã ẩn

Hung là lồng ngực, cái ngực của thân mình.
Hung trung là trong lòng.
Gia Diệu Toán là thên tính toán giỏi.
Câu ấy chỉ có nghĩa là Thấy Sát và Thái tuế ở Mệnh thì trong lòng thêm cơ mưu, tính toán giỏi.
Câu này tương tự như câu “Thái Tuế phùng Thất Sát, trí dùng hữu dư” vậy.
Chữ “Hung trung” là để đối lại với chứ “Thân thượng” trong câu” :
“Trường Sinh hội Thiên Lương, ư Phúc địa thân thượng hữu kỳ tài”.
Có lắm trường hợp, câu chữ Hán được in vào sách, gần như chỉ để trang trí cho cuốn sách Tử Vi đó mà thôi.
Thí dụ như câu :
“Tinh lâm miếu vượng địa, tái quan sinh khắc chi ư”.
“Mệnh sinh cường cung, tế sách chế hoá chi lý”
(Tử vi Đẩu Số – Nguyễn Mạnh Bảo – trang 2 – quyển Hạ)
Câu chữ hán đã in sai, còn lời giải thích thì mông lung, gần như không có liên hệ đến câu chữ hán.
Chúng tôi xin miễn nói lại ý nghĩa hai câu này, vị cụ Quản văn Chính đã giải thích rõ trong đặc san này, số 7 và số 9.
Gặp những chữ hán, tương tự như vài chữ Việt, mà vội vã thông qua, vội dịch theo cái cảm quan của riêng mình, thì cũng dễ tạo thành chuyện khôi hài.
Thí dụ như câu :
“Phá toạ ly, ngôn ngữ thô bạo, phùng Lộc, Dương, năng giải xướng cuồng’.
(Tử Vi Đẩu Số tác giả Vân Đằng Thái Thứ Lang – trang 143).
Dịch là :
“Cung Mệnh an tại Ngọ có Phá toạ thủ, nên hay gắt gỏng thô lỗ. Đây, nếu Phá, hoặc gặp lộc đồng cung hoặc gặp Thiếu Dương hội hợp lại vui tính, hay đùa bỡn”.
Chữ “Xướng cuồng” đây nghĩa là làm càn, làm xằng bậy, chứ nào có nghĩa vui sướng, hát xướng, cuồng loạn, rửng mỡ !
Chữ “ Năng giải xướng cuồng” có nghĩa là có thể giả được sự làm càn, làm xằng bậy, đối lại với mấy chữ “ Ngôn ngữ thô bạo” ở trước.
Lại có trường hợp, một câu chữ Hán bị sửa sai lệnh hẳn đi chỉ vì người luận đoán không khiểu nghĩa câu chính.
Thí dụ như câu : “Tử Vi tu cần Tam Hoá, nhược phùng Tứ Sát, phong bãi hà hoa”.
Chữ “Bãi” nghĩa là đưa qua đưa lại.
“Phong bãi hà hoa” là gió thổi cành hoa sen đưa qua, đưa lại, là canh hoá vị gió vùi dập.
Ấy vậy mà chúng tôi đã gặp câu này, trong một vài trường hợp khác lại được sửa là “ Phong Bão hà hoa”.
Thật là một sự phối hợp kỳ diệu chữ Bão (chữ Việt thuần tuý) và chữ Phong ( Chữ Hán Việt) – Chữ Hán làm gì có chữ Phong Bão là gió bão.
Như đã trình bay ở trên, chúng tôi không làm công việc điểm sách Tử Vi, e rằng có sự hiểu lầm.
Trong những sách Tử Vi kể trên cũng như trong một số sách Tử Vi khác, còn nhiều công thức các bộ sao tưởng tượng, mà dường như sách sau chép lại của sách trước, và cũng còn nhyiều câu chữ Hán dịch quá cẩu thả. Chúng tôi chỉ nên lên một vài trường hợp đặc trưng. Mong rằng quý soạn tác giả khi xuất bản hoặc tái bản sách Tử Vi nên lưu ý thận trọng hơn.
Chúng tôi xin thành thật khâm phụ hầu hết quý vị soạn giả sách Tử Vi., vì đã có công rất lớn trong việc mở đường cho phong trào nghiên cứu Tử Vi được sâu rộng như ngày nay. Tiếc rằng mới đây trên thị trường, đã có cuốn sách Tử Vi, đầy rẫy những lỗi lầm tử phần ấn loát đến phần dịch thuật, mà có lẽ không nói đến tên cuốn sách ấy, quý vị trong giới Tử Vi đều có thể nhận biết dễ dàng. Đó thật là Tử Vi gặp Tứ Sát vậy.

——————————————————————————————————————————————-

Tạp ghi về khoa Tử Vi:

HẠNH PHÚC VỢ CHỒNG QUA CUNG PHỐi
Trường hợp một và có cung phu rất tốt mà vẫn khắc, sát chồng.

Phong Nguyên

Được hân hạnh tái ngộ với quý độc giả hôm nay trong “Tạp ghi khoa Tử Vi” này, tôi xin bàn đến một lãnh vực mà hầu hết thanh thiếu niên đều quan tâm và thắc mắc mỗi khi đề cập đến số mạng, ngoài vấn đề công danh sự nghiệp, đó là lãnh vực hôn nhân qua Tử Vi.

1. Có nên so đôi tuổi không?

Trong suốt thời gian học hỏi về Tử Vi, mỗi lần ai nhờ tôi coi về hôn nhân cũng hỏi tôi vấn đề so đôi tuổi có đúng không? Tôi xin trả lời ngay là chỉ tương đối đúng, nghĩa là phải tuỳ thuộc lá số của các nhân, vì vậy không nên câu nệ hoặc quá quan trọn hoá việc so đôi tuổi quá. nếu lá số của mình có cung Phối (tức là cung Phu quân hoặc Thê thiếp tuỳ theo nam hay nữ) tốt thì gần như chắc chắn mình sẽ gặp được người vợ hoặc người chồng tốt, dù hai bên có ngũ hành xung khắc chăng nữa, nhưng thực ra hai vợ chồng hay gây gổ nhau về những điều lặt vặt không hại gì cho hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên theo kinh nghiệm riêng, thì thấy thường thường những người có cung Phối “ngon lành” thì ngẫu nhiền không lựa mà vẫn gặp được ý trung nhân có mạng tương sinh. Nhưng có điều lạ là tôi đã được biết nhiều cặp có cung Phối tốt, thế mà cặp nào có ngũ hàng hơi xung nhau (tôi nói hơi xung, thí dụ như Sơn Đẩu Hoả là lửa trên núi và Giản Hạ Thuỷ là nước dưới khe, tuy là Thuỷ Hoá tương khắc, nhưng khắc gọi là hơi, vì nước ở dưới khe làm sao dập tắt lửa trên núi) thì lại có hạnh phúc đậm đà hơn cặp có ngũ hành tương sinh. Phải chăng mặt hồ có gợn sóng lăn tăn vẫn “thơ mộng” hơn mặt biển phẳng lặng ? Kể ra cũng không có gì khác thường vì trên thực tế nếu cặp vợ chồng nào không bao giờ gây gổ với nhau, hoặc không bao giờ ngang trái xẩy ra cho hạnh phúc lứa đôi thì đương nhiên là tốt thật, nhưng chưa chắc họ cảm thấy được những gì độc đáo hơn một cặp vợ chồng thỉnh thoảng hờn giận nhau, rồi lại làm lành với nhau. Tuy vậy đó chỉ là phương diện tình cảm và tâm lý, chứ thật ra cặp vợ chồng có Ngũ hành của mạnh tương sinh vẫn thành công hơn về phương diện sự nghiệp.
Trong trường hợp cung Phối xấu thì thật kẹt, vì khó lòng lựa được người tương sinh với mình về Ngũ hành, mà dù có lựa chọn được cũng chẳng lâu bền, thế nào cũng kẻ Bắc người Nam, chia ly cách xa. Tôi có một người cô ruột khi sắp lấy chồng cũng đã so đôi tuổi kỹ lưỡng lắm, mà chỉ trong vòng 5 năm hai vợ chồng kẻ âm người dương, cũng chỉ vì cung phối quá xấu.

2. Tìm hiểu về cung Phối

Trong mục này tôi chỉ nên những điểm mà các sách Tử Vi ít khi đề cập tớ, hoặc có nói tới nhưng theo một cách khác. Vì vậy các bạn đừng coi những điều dưới đây như những công thức để giải đoán về cung Phối mà chỉ nên coi là những điều bổ túc mà thôi.

a. Truyền cung là gì?
Trong bao nhiêu năm coi số Tử Vi, tôi chỉ gặp có hai, ba trường hợp “truyền cung”. Truyền cung khác với truyền tinh, vì chỉ để ý tới cung chứ không quan tâm đến các sao. Thí dụ người chồng tuổi Hợi và vợ tuổi Sửu ( không cần xét tới hàng Can của tuổi), nếu cung Mệnh của chồng đóng tại cung Sửu (tuổi vợ) và cung Thê của người đó lại ở Hợi (tuổi chồng) còn lá số người vợ cung Mệnh đóng tại Hợi hoặc cung Phu ở Sửu (khó có trường hợp trùng hai cung đối với lá số thứ nhì nếu lá số thứ nhất trùng hai cung rồi) thì gọi là truyền cung. Cặp vợ chồng nào truyền cung thì coi như đã được một yếu tố trường hợp đặc biệt rồi, chưa cần xét tới các sao và Ngũ hành (chính cụ Ba La khi còn sinh tiền đã xác nhận với tôi như vậy). Nói là đặc biệt không phải hoàn toàn chỉ về phú quý mà thực ra chỉ về hạnh phúc đầm ấm nhiều hơn, còn nếu thêm được các sao quyền quý của hai cung Phối thì được cả hai khía cạnh. Dù sao chăng nữa, hạnh phúc vợ chồng tuỳ thuộc rất nhiều vào sự khăng khít, thương yêu nhau hơn là vào tiền bạc, công danh, miễn là cuộc sống không đến nỗi nghèo quá thôi. Ngoại trừ trường hợp có những cặp vợ chồng chỉ nghĩ đến tiền thì chuyện ngoại lệ không cần bàn tới.

b. Truyền tinh
Vấn đề truyền tinh giữa hai lá số tương tự như sự truyền tinh giữa cha mẹ và con cái (cụ Hoàng Hạc đẽ nêu ra các chi tiết trong KHHB rồi). Nay tôi chỉ xin nhắc lại là cần chú ý đến các sao tố truyền tinh là hay (thí dụ như Tử, Phủ, Vũ, Tướng – Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương – Quang, Quý –Long, Phượng – Khoa, Quyền, Lộc – Thai, Toạ – Tả Hữu v..v..) chứ nếu toàn các hung tinh, sát tinh, bại tinh truyền tinh thì thật là đại bất hạnh vì hai vợ chồng cứ hại nhau hoài, hoặc chia ly mau lẹ. Cũng có người nói rằng truyền tinh như vậy 2 vợ chồng mới thương mến nhau vì “đồng loại tương lập”, nhưng đều là lưu mạnh một đám và hạnh phúc không bền. Kể ra chỉ đúng về khía cạnh không bền, chứ còn vấn đề “ lưu manh” thì không vững, vì nếu cả hai người đều có cung Mệnh đàng hoàng thì sao, đâu có phải cứ cung Phối xấu là Mệnh xấu. Điểm này để các bạn nghiên cứu Tử Vi chiêm nghiêm.
Trong trường hợp lá số của chồng có những sao xấu ở cung, Mệnh của vợ truyền qua cung Thê và cung Phu của vợ lại có các sao tốt của chồng thì phải hiểu là người vợ rất may măn được ông chồng đàng hoàng, tài giỏi, quyền quý trong khi mình chỉ là “của nợ” đối với chồng. Dù cho cung Mệnh của chồng có thêm những sao “lưu manh” chăng nữa, người đó cũng chỉ bất lương với những người khác, còn với vợ thì lại rất đang hoàng. Còn người vợ dù cho Mạng, Thân trong trường hợp này có tốt cũng chỉ cư xử tử tế với bà con, anh em, họ hành, chứ riêng đối với chồng lại thủ đoạn hoặc chỉ ăn hại mà thôi. Tôi đã có dịp gặp nhiều vợ chồng có số như vậy và chiêm nghiệm thấy rất đúng. Vậy các bạn nào đang lựa vợ hoặc chồng thử dựa theo tiêu chuẩn này xem có ứng nghiệm hay không, vẫn biết rằng đã có số rồi thì cũng chẳng lựa nổi.
Ngoài ra, có nhiều người thắc mắc không biết một đôi tra gái yêu nhau mà kết hôn với nhau mà có số truyền tinh (sao tốt) có lấy được nhau hay không. Về điểm này tôi đã nghiệm thấy chỉ đúng 70%, vì đâu có phải chỉ có người con gái (hoặc con trai) có liên hệ đó mới có số truyền tinh. Đúng ra còn rất nhiều người khác dù không sinh cùng một ngày giờ, năm tháng mà vẫn truyền tinh chặt chẽ hơn nữa. Tuy vậy khi mình đã yêu đúng người truyền tinh rồi thì hoạ hoằn mới gặp được một người khác truyền tinh hơn, cho nên những đôi lứa nào mà cố gắng đi tới hôn nhân mà truyền tinh với nhau cũng không nên lo ngại cho lắm.
Lại có những người hỏi nếu không truyền tinh với nhau có phải là vợ chồng (…) cặp vợ chồng đã ăn ở với nhau rồi mà không truyền tinh hay không? Tôi nghiệm thấy rằng khi chưa kết hôn với nhau àm khôgn có số truyền tinh thì gần như chắc chắn không đi tới hôn nhân được. Nhưng trái lại tôi cũng đã gặp nhiều cặp vợ chồng không truyền tinh với nhau. Nhưng trong trường hợp này vợ chồng đối với nhau như người dưng nước lã, mỗi người một đường hướng, ít khi gần gũi nhau, và nhất là lúc chết khó lòng gặp mặt nhau hoặc giả cũng có khi thương yêu nhau nhưng rồi vì hoàn cảnh lại xa nhau hay li dị nhau.
Trước khi chấm dứt mục truyền tinh này, tôi còn cần nêu ra một điểm nữa. Thường thường các vị coi Tử Vi chê cung Phối có Thái Tuế, Đà La, Kình Dương (còn có vị chê cả Thai Phụ, Phong Cáo ở cung Phối nữa), cho rằng cung Phối như thế, nhất là có Thái Tuế, vợ chồng dễ xa nhau, li dị nhau hoặc người bạn đời của mình chết sớm. Điều này đúng nhưng nếu may ra cung Phối của vợ hoặc chồng mình có sao giống như thế (cũng là một hình thức truyền tinh) thì có thể tránh được hình khắc vì đã có sự quân bình, coi như “cán cân lực lượng” thăng bằng. Nhưng ít ra hải có nhiều trắc trở, éo le trước khi đi tới hôn nhân mới tốt về sau (ví dụ như cưới chạy tang, bịnh hoạc, tai nạn, ngăn trở, quấy phá…) những tay “anh chị” gặp nhau thường hay thử tài nhau trước khi liên kết nhau là thế. Chính cụ Song An Đỗ Văn Lưu, tác giả cuốn Tử Vi Chỉ Nan đã cho tôi biết điểm này khi cụ còn sinh tiền

c. Tương quan giữa Ngũ hành các sao, và vị trí cung Phối với Ngũ hành của cung Phối với Ngũ hành của bản mạng.
Thường thường các bạn tập coi Tử Vi ít khi chú trọng tới điểm này mà chỉ quan tâm đếm vấn đề Miếu, vượng, đắc địa hoặc hãm địa của các sao thuộc cung Phối cùng ý nghĩa các sao đó. Như thế thiếu hẳn một yếu tố quan trọng về sự tương hợp, một yếu tố cần yếu cho hạnh phúc vợ chồng. Phàm các chính tinh (không nên xét đến các trung tinh và bàng tinh để cho khỏi rắc rối quá) ở cung phối như sau:
– Sinh bổn mạng thì thường được vợ hoặc chồng chiều chuộng thương yêu, như thế tức mình giữ vai trò bị đông.
– Được bổn mạng sinh thì mình giữ vai trò chủ đôngh, lo toan mọi bề cho người bạn đời của mình.
– Tương hoà với bạn mạng thì hai bên lo cho nhau một cách bình thường, theo bổn phận hơn là vì yêu mặn nồng.
Theo quan niệm riêng của tôi, nếu là bổn mạng là Nam, thì sinh xuất (thí dụ mạng Mộc sinh sao ở Cung Phối (thuộc Hoả) hay hơn sinh nhập (trường hợp sao cung Phối sinh mạng) vì đàn ông mà để đàn bà lo toan cho mình đủ thứ thì sao đáng gọi là nam nhi. Còn bổn mạng là nữ, thì sinh nhập hợp hơn, vì đàn bà nhờ chồng nhiều mới sung sướng, trừ phi người đó muốn điều khiển chồng lại là chuyện khác.
Trong trường hợp sao cung Phối khắc với bổn mạng thì thật là đáng tiếc, dù sao tốt. Thí dụ cung Phối có Tử Phủ (Thổ) đồng cung tại Dần, Thân là các sao tốt hết chỗ chê, người hôn phối vừa đứng đắn, đạo đức, vừa quyền quý cao sang mà lại khắc với bổn mạng (trường hợp tuổi Mộc hoặc Thuỷ) thì người bạn đời của mình chẳng khác chi chiếc lọ cổ thật đẹp để trưng bày mà ngắm thôi. Thành ra người ngoài nhìn vào ai cũng trầm trồ khen ngợi trong khi chính mình chẳng ưa hoặc người hôn phối không ưa mình. Đây là kể đến trường hợp xung phá khác làm giảm hạnh hạnh phúc đi nhiều nữa. Còn thí dụ như có Vũ, Sát khắc với bổn mạng thì còn khổ hơn nữa, vì người bạn đời của mình vừa cứng cỏi, vừa khô khan vừa không hợp với mình, như thế còn gì chán bằng. Nếu xui xẻo có Tham Lang độc thủ khắc mạng mình lại thêm Đào, Riêu, Mộc thì chắc chắn mình bị xấu nhục với xã hội vì người hôn phối đàng điếm.
Còn về tương quan giữa vị trí cun Phối với bổn mạgn, thì chỉ có khác vị trí thường tượng trưn có gia đình bên vợ trong khi chính tính tiêu biểu cho chính người vợ. Về sự luận đoán cũng tương tự như trên, tôi thấy viết thêm ra nữa chỉ càng làm cho dài dòng vô ích.
Tôi cần lưu ý các bạn là không bao giờ nên áp dụng một cách máy móc những điểm trên mà còn cần phải dung hoà với các yếu tố khác trước khi đi đến chỗ quyết đoán mới không bị sai lạc.

d. Tương quan giữa cung Phối và hai cung Mệnh, Phúc đức
Tôi có được xem 1 lá số của một và có cung Phu rất tốt (nhiều sao quyền quý và ngũ hành tương sinh với Mệnh) nhưng Mệnh của bà có Cô, Quả, Đào, Kình, Thiên không, và “Thân” có Vũ Khúc, Lộc Tồn, Kiếp, Sát, lại thêm Không, Kiếp hãm địa tại mệnh tối kỵ đối với đàn bà) trong khi cung phu cũng xấu, ngoài ra Mệnh còn có Tử, Tha, bị Triệt án ngữ cho nên bà ấy không được hưởng cung Phu và hiện nay vẫn ở goá sau khi có 2 ông chồng quyền quý một bị chết non, một ly dị. Bà ta còn cho biết mới đây có một ông lớn muốn cưới bà ấy, nhưng vì thấy Tử Vi của mình bị kẹt như vậy nên bà ta còn e dè. Xem như thế đủ biết cung Mệnh có ảnh hưởng lớn lao tới cung Phối biết chừng nào. Riêng tôi, tôi vẫn thắc mắc không hiểu tại sao người chồng đầu tiên của bà lại chết non vì cung Phối không có sao chứng tỏ sự chết non đó. Không lẽ Mệnh, Thân của bà đó sát chồng mạnh đến thế sao ?

e. Ý nghĩa các sao thuộc cung Phối.
Hầu hết các sách Tử Vi đã xuất bản đều có ghi ý nghĩa các sao, nên tôi thấy không cần phải nêu ra đây. Tôi chỉ xin lưua ý các bạn là ngoài sự tương quan về Ngũ hàng các sao thuộc cung Phối có ăn khớp với với nhóm sao thuộc cung Mệnh hay không. Thí dụ như Mạng có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thì cung Phối nên có Cự, Nhật hoặc Phủ, Tướng chứ tối kị có Sát Phá Liêm Tham hoặc ngược lại cũng vậy. Về điểm này các bạn có thể coi phần tiểu luận của cuốn Tử Vi đẩu số Tân Biên do ông Vân Đằng Thái Tứ Lang biên soạn để áp dụng vào trường hợp này theo kiểu suy luận.
Ngoài ra, tôi cũng cần nói rằng các tủng tinh thường phải lệ thuộc vào chính tính (toạ thủ cũng như xung chiếu). Tôi xin lấy một thí dụ : Nhiều người sợ sao Đào Hoa tại cun Phối vì sợ người bạn đời của mình lả lướt quá. Nhưng nếu gặp Tử Phù hoặc Liêm Tướng chẳng hạn thì lại rất hay, vừa đạo đức, xinh đẹp, vừa tình cảm. Tuy vậy cũng rất cần chính tinh tương sinh với bản Mệnh (nhất là sinh xuất) thì tình vợ chồng mới mặn nồng, chứ chính tinh khắc bản mệnh thì tâm hồn người bạn đời của mình cũng dễ hướng về người khác, dù chỉ trong tinh thần hoặc cao thương (vì Tử Phủ, Liêm Tướng là các sao đoan trang, đứng đắn). Nếu chẳng may sao Đào Hoa phùng Tham Lang chẳng hạn, thì dù có sinh bổn mạng thì cũng phiền lắm, vì làm sao mình thoả mãn nổi người bạn đời quá ham mê nhục dục. Còn gặp trường hợp chính tinh này khắc Mệnh thì chắc chắn mình mau…mọc sừng.
Qua những điểm trên các bạn hẳn tìm hiểu cung Phối thật phức tạp, rắc rối, cho nên khi quyết đoán cần phải kết hợp mọi yếu tố đã kẻo sai lầm rất nhiều.

———————————————————————————————————————————————

Cái lẽ huyền bí của tạo hoá :

NGŨ HÀNH CHẾ HOÁ

Anh Độ

Theo các vị đã đi sâu vào khoa Tử Vi đẩu số, thì sự Sinh, Khắc, Chế, Hoá trong Ngũ hành rất cần thiết trong khoa Tử Vi và bói toán.
Cụ Nguyễn Văn Uy (Số nhà 72/4 Ngô Tùng Châu), một vị nho học từng nghiên cứu về khoa Tử Vi, trong một buổi nói chuyện với chúng tôi về sự Chế Hoá của Ngũ hành, có nói rằng : Theo sự nghiên cứu của cụ, có khi hai hành khắc nhau, ví dụ như Thuỷ khắc Hoả mà lại tốt như Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời) với Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ (Nước biển lớn). Lửa trên trời tức là mặt trời chiếu xuống biển cả, thì phát ra muôn ngàn hào quang rực rỡ.

1.Kim
Trong cát, giáo gươm hai thứ Kim. Nếu nằm trên Chấn ắt tương xâm Kim còn bốn thứ đều sợ Hoả.
Gươm cát bắng Hoả chẳng thành hình.
Ất Mùi là Sa Trung Kim (Kim khí trong cát)
Quý Dậu là Kiếm Phong Kim (kim khí của gương giáo).
Cả hai đều không nên gặp Mộc vì cây không sống được nếu trồng trên dất có chất kim khí và cây mà gặp gươm giáo sẽ bị chặt gẫy. Nhưng hai thứ Kim đó mà gặp Hoả lại tốt, vì có lửa mới rèn thành gươmg giáo, có lửa thì chất Kim vùi trong cát (vàng cốm) mới trở thành nén vàng quý giá. Còn các thứ Kim khác đều sợ Hoả (khắc).

2. Thuỷ
Thuỷ ở sông Ngân cùng biển cả.
Cả hai chẳng sợ Thổ địch cừu.
Ngoài còn mấy thứ đều kỵ Thổ.
Một đời cơm áo thật khó cầu…
Đinh Mùi là Thiên Hà Thuỷ (nước sông Ngân Hà) và Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ (nước biển cả) không sợ Thổ vì nước sông Ngân hà trên trời cách xa với mặt đất và đất thì không hút nổi hết nước biển cả.
Còn Thổ khác tất cả các thứ Thuỷ khắc.

3. Mộc
Mộc Tằm dâu, liễu dương, tùng bách
Thạch lựu, rừng sâu đều kị Kim
Duy chỉ cây trồng đồng bằng Mộc
Thiếu Kim sao được mọc lên cao?
Các thứ Mộc như Quý Sửu là Tang Đỗ Mộc (gỗ cây tằm dâu), Quý Mùi là Dương Liễu Mộc (gỗ cây dương liễu), Tân Mão là Tùng Bách Mộc (gỗ cây tùng bách) Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây lụa), Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc (gỗ câu ở rừng lớn) đều sợ Kim. Đất mà có chất Kim khí thì cây sẽ chết, nếu gặp rìu bua, cây sẽ bị đốn gãy.
Duy chỉ các cây trồng ở đồng bằng như ngũ cốc, cây có trái, cây canhr thì lại cần phải có đồ Kim khí như cày, cuốc, liềm, kéo để cầy, vun xới, tỉa xén, thì mới mọc tố và cây cảnh mới đẹp được.

4. Hoả
Đèn lồng, lò lửa, cùng đỉnh núi
Thấy Thuỷ, cả ba đều chẳng hay
Lại còn ba thứ chẳng kiêng Thuỷ
No ấm một đời, giàu lại sang.
Ất Tỵ là Phú Đăng Hoả (Lửa đèn lồng), Đinh Mão là Lô Trung Hoả (lửa trong lò) Ất Hợi là Sơn Đầu Hoả (lửa đỉnh núi) ba thứ đó kỵ Thuỷ, gặp Thuỷ là tắt liền.
Nhưng ba thứ khác : Đinh Dậu là Sơn Hạ Hoả (lửa chân núi), Kỷ Sử là Tích Lịch Hoả (Lửa sấm sét), Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời) gặp Thuỷ, không bị ảnh hưởng gì hại mà còn tốt vì hợp với tình thế.

5. Thổ
Thành luỹ, mái nhà, cùng trên vách
Ba Thổ đều sợ Mộc đâm xoi
Ngoài còn ba thứ chẳng sợ Mộc
Một đời thanh quý, bước lên mây.
Kỷ Mão là Thành Đầu Thổ (dất trên thành luỹ) Đinh Hợi là Ốc Thượng Thổ (đất trên mái nhà), Tân Sửu là Bích Thượng Thổ (đất trên vách nhà). Ba thứ đất này đều sợ Mộc (Mộc khắc Thổ) vì nếu cây mà mọc trên các thứ đất đó, rễ sẽ đâm xuyên làm cho dất lở và nứt ra.
Còn ba thứ Thổ khác mà gặp Mộc lại tốt như :
Tân Mùi là Lộ Bàng Thổ (bất cạnh đương) cần có cây cối mọc bên đường cho rợp mát.
Kỷ Dậu là Đại Dịch Thổ (đất ở các cung, trạm bay cầu quán) cũng cần có cây mọc để cho trạm hay cầu quán được đẹp mắt.
Đinh Tỵ là Sa Trung Thổ (đất trong cát) đất trong bãi cát rất tốt cho các việc trồng ngô, hoặc trên bãi sa mạc có cây mọc thì còn gì bằng?

Giai thoại về Sinh Khắc, Chế Hoá của Ngũ Hành.

A. Một trường hợp Kim sinh thuỷ

Để cho ta thấy rõ về Sinh Khắc, Chế Hoá của Ngũ hành, người xưa đã kể lại những giai thoại đã có để chứng minh lẽ huyền bí của Tạo hoá.
Trong thời Chiến Quốc, Thái Trạch người nước Yên, học rộng, tài cao đi du thuyết các nước chư hầu, nhưng không có nước nào dùng. Khi đến các nước Lương, nghe tiếng có Đường Cử là người giỏi về khoa Tướng số liền tìm đến xin vào gặp mặt để hỏi vì sao mà mình cứ lận đận và đến bao giờ mới đát được công danh, phú quý.
Đường Cử ngắm nhìn Thái Trạch rồi nói :
– Tiên Sinh mũi như con rết, vai cao hơn đầu, trán nhăn, mày cau, hai chân khuỳnh khuỳnh. Tôi nghe bậc Thánh nhân mà như vậy cũng không cần xem tướng, huống hồ là Tiên Sinh.
Thái Trạch nghe Đường Cử nói như vậy biết là nhà tướng số nước Lương có ý chê mình diện mạo xấu xa không làm nổi bậc Công, Khanh nhưng Thái Trạch vốn tin mình học rộng, tài cao thế nào cũng có ngày áo bào tung tăng bay trước gió, vinh quy bái tổ về làng. Ông ta nói với Đường Cử :
– Phú quý thì tôi đã có sẵn, học thức thì Trạch này chưa phải thua những bậc lương đồng của các nước. Chỉ xin Tiên sinh cho biết Trạch này còn sống đến bao giờ nữa.
Đường Cử tính một lúc rồi nói :
– Tuổi thọ của Tiên sinh còn dài. Kể từ nay còn 43 năm nữa.
Thái Trạch cười lớn :
– Trạch này vốn ăn ngon, mặc đẹp, đi thì lên xe, xuống nựa, ngọc dắt, vàng đeo, vái nhường trước vị nhân quân. Như vậy thì 43 năm cũng đủ cho Trạch này đương mây rộng bước.
Nói xong, từ biệt ra đi. Sau khi sang nước Hàn, thăm nước Triệu, Thái Trạch vẫn chưa tìm được minh chủ. Khi trở về Nguỵ, không may nửa đường bị cướp, mất sạch của, hành lý.
Đang khi bụng đói không biết xoay sở vào đâu, ngồi nghỉ ở dưới gốc cây bên vệ đường thì gặp Đường Cử đi qua trông thấy. Nhìn Thái Trạch trong tình cảnh vậy. Đường Cử hỏi đùa :
– Sao, Tiên sinh chưa gặp minh chủ à?
Thái Trạch đáp :
– Còn đang tìm kiếm đây.
Đường Cử nghiêm nét mặt nói :
– Tiên Sinh cốt tướng thuộc về Thuỷ, Tiên Sinh đã thừa biết Kim sinh Thuỷ. Tại hướng Tây, thuộc Kim, có nước Tần đang cường thịnh mà vua Tần lại chiêu hiền, đãi sĩ. Phạm Chuy, Thừa tướng nước Tần đang lo sợ chức vụ của mình bị lung lay vì Chuy đã bảo lãnh với vua Tần cho Trịnh An Bình và Vương Kê. Nay hai kẻ đó vừa phạm tội đối với triều đình. Theo luật nước Tần, kẻ bảo lãnh cũng bị tộ như chánh phạm nên Phạm Chuy đang nóng lòng muốn từ chức. Tiên sinh sao chẳng sang nước Tân mà tìm công danh chớ chịu khốn đốn ở đây sao?
Nói xong, Đưởng Cử mời Thái Trạch về nhà ăn ở rồi đưa tặng mấy nén vàng làm lộ phí sang Tần. Quả nhiên, Thái Trạch được vua Tần trọng dụng và thay Thừa tướng Phạm Chuy, phò tác Tần gom thâu thiên hạ.

B. Trường hợp Hoả chế hoá Kim

Cuối thời chiến quốc, sau khi diệt được Tần, Tây Sở Bá Vương Hạng Võ cậy mình sức mạnh, tự cho mình như một vị Hoàng đế, cắt đất, phong hầu cho các bạn đồng minh đã diệt Tần. Các đồng minh của Hạng Võ vì thế yếu phải tự coi như chư hầu của Sở Bá Vương.
Trong các Đồng mi8nh này có Lưu Bang (sau này khai sáng ra nhà Hà) là có thực lựa có thể đối chọi với Hạng Võ, Hạng Võ tìm cách chèn ép, đàn áp Lưu Ba, vì sợ sau này Lưu Bang sẽ cường thịnh trở thành một đối thủ lợi hạn. Nay nhân dịp cắt phong hầu, Hạng Võ cũng biết Lưu Bang là người có công lao nhất trong việc diệt Tần, nhưng nếu cắt mọt nơi ruộng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc mà cho Lưu Bang, thì sau này Lưu Bang sẽ cường thịnh, phong phú, có thể nhân đà ấy quật lại mình thì sao? Do đó, sau khi suy tính kỹ lưỡng, Hạng Võ phong cho Lưu Bac cai trị dất Tây thục là đất xa xôi núi non hiểm trở. Hạng võ yên trí là Lưu Bang sẽ bó tay không làm gì được. Nếu mình sai một tướng tài giỏi trấn thủ nơi hiểm yếu Lưu Bang sẽ bị cô lập, quân đội sẽ tan rã vì bọn lính sẽ bỏ Lưu Bang mà đi vì không ai thích từ bỏ quên hương để đi sốn nơi viễn xứ.
Nhưng Phạm Tăng, một người trí lược, mưu cơ, quân sư của Hạng Võ cho ý định của Hạng Võ là thất sách và nghĩ rằng :
– Lưu Bang dùng toàn mầu đỏ, cờ đỏ, áo đỏ. Như vậy thuộc hành Hoả. Nay được cai trị đất Tây Thục thuộc về hành Kim, Kim gặp Hoả sẽ thành khí nghĩa là các chất Kim khi được gặp lửa thì sẽ chảy ra, rèn đúc được các đồ hữu dụng như cũ khí..v..v..
“ Nếu vậy là thả hổ về rừng, trái hẳn với ý nghĩ của Sở Vương, Lưu Bang sẽ trở nên dũng mãnh có thể diệt được Sở”
Quả nhiên đúng như sự phỏng đoán của Phạm Tăng, chỉ vài năm sau, Lưu Bang tiến quân phá tan Tần, bình Tề, Diệt Sở, nhất thống thiên hạ rồi khai sáng ra nhà Hán lưu truyền cơ nghiệp được 400 năm.

———————————————————————————————————————————————–

Từ điển Tử Vi

Chúng tôi bắt đầu cống hiến quý vị bạn đọc tập “ Tự điển Tử Vi” sau, thể theo lời quý bạn đọc,sẽ có những nguyên tắc đề tìm và đoán Đại, Tiểu hạn (Quý bạn sưu tập từ tập này, sẽ có đầy đủ tập “Tự điển Tử Vi”
Chú ý :
– Tìm sao viết tắt, chữ Hoa là miếu, vượng, đắc địa, chữ thường là hãm địa. Cần chú ý điều đó.
– Mỗi cách giải đoán ngay sao, nhưng bạn không nên gặp cách nào là khẳng định một cách giải đoán, vì còn phải tìm cách khác để phù hợp vào (có những cách khác giải đi)
– Xem cung này thì chiếu tên cung đó. Xem Mạng thì chiếu cung Mạng mà xem các cách, đến cung Tài lại xem cung Tài. Khi chiếu thì thứ tự abc, như thấy thiếu thì chiếu sang chữ khác.
– Muốn có các kinh nghiệm khác, quý bạn bên xem nhiều và luôn đối chiếu lá số với cuộc đời. Ngoài ra quý bạn nên theo dõi đều các giai phẩm KHHB, trng đó luôn có những bài thảo luận về kinh nghiệm Tử Vi.
Anh Việt
Ghi Thêm :
Sát tinh : Kình, Đà, Không, Kiếp, Hoả, Linh.
Bại Tinh : Nhị Hao, Hổ, Tang, Hư, Khốc.

Coi mạng A.

Ác tinh (miếu) :………………………. Phát – Anh hùng, quyền, oai.
Ác tinh (hãm) gặp Tử Vi :…………….. Hỏng – Đế ngộ hung đồ.
Ác tinh (miếu) gặp Tử Vi : ……………Tốt – Đế gặp tưóng giỏi.
Ác tinh (hãm) gặp Vũ Khúc: …………..Cướp đường
Ác tinh gặp Không Kiếp : ……………..Cướp đường
Ác tinh gặp Cự : ……………………….Cướp đường
Ác tinh gặo Thiên Tướng : …………….Sãi chùa
Ác tinh gặp Kình, Đà : …………………Cướp đường
Ác tinh, Hình, Hổ : …………………….Cướp đường
Ác tinh Tuớng, Vũ : ……………………Vẫn tốt
Ác tinh Tuần, Triệt : ……………………ác tinh bị cản
ÁC tinh gặp Kị (ở Sửu, Hợi) :………… Đỡ xấu
Ác tinh gặp Hoá Khoa : ……………….Trừ hung
Ác tinh gặp Cơ hay Nguyệt :…………..Trừ hung
Ác tinh gặp Nhị Hao, mạng ở Tý :……. Sa sút, đói
Ác tinh, Tam Hoá, Tả, Hữu :…………..Võ nổi danh, mà ko bền
Ác tinh tứ sát gặp Đào Hồng :………….. trẻ khó nuôi
Ác tinh gặp Xương Khúc :…………….. trẻ khó nuôi
Ân Quý : ………………………………Có công danh, thi đỗ.
Ân, Quý, Long, Phượng :…………….. Phát lớn.
Ấn, Tướng, Binh, Hình : …………….Văn võ toàn tài.
Ấn, Tướng, Đào, Hồng gặp Kị,
hay Không Kiếm :……………….…… Như hoa đào bị bão.
Ấn, Phá, Tướng ngộ : ………………………..Võ quyền
Ấn, Tam hoá, Tả, Hữu, Tử Phủ :………. Đại Phú Quý
Vũ Tướng nếu gặp Kình Đà hau Tuần Triệt : Phú quý mà không bền.
Ấn, Binh, lưỡng Tướng toạ, chiếu : ……làm tại bộ Tham mưu
Ấn, Quý, Khôi Việt, Cái, Hồng :……… Nữ được tặng phong.
Ân, Quý ở Mệnh Thân : ……………….Có học, đậu
Ân, Quý (đến hạn) :……………………. Đậu, thăng chức.
Ấn, Lưỡng Tướng : …………………….Quý
Ấn, Tướng, Mã : ……………………….Hưởng lộc nước, oai quyền.
Ấn, Tướng, Cáo : ……………………….Hưởng lộc nước, công hầu
Ấn, Tướng, Lộc, mã, Tả, Hữu : ………..Võ quan mà xấu là đổ tể
Ấn, Tướng, Khoa, Quyền, Tả, Hữu : ….Văn quan, xâu là thợ
Ấn, Tướng, Kị :……………………….. Võ quyền
Ấn, Tướng, Không Kiếp :…………….. Võ quyền, tướng què.
Ấn, Tướng, Triệt : ……………………..Tướng không đầu

Coi mạng B

Bác sĩ : …………………………………Từ bi, sáng, thọ, có quyền
Bác sĩ, Tồn : ……………………………No ấm, giàu bền.
Bạch Hổ ở Dậu : ……………………….Tốt (Kim tinh)
Bạch Hổ hãm :………………………… Ốm vặt, ở Tử tức không con.
Bạch Hổ, Bệnh : ………………………Thị phi, khẩu thiệt
Bát Toạ, Hồng Loan : …………………Sớm công danh
Bát Toạ gặp Tử Vi :………………….. Có tài lớn.
Bạch (Thái Bạch) : ……………………Các tuổi 4,13, 22, 31, 40, 49, 58
Binh (Phục Binh) :…………………… Tì tật, bị rình mò
Binh ngộ nhiều sao tốt : ………………Có tài
Bệnh, hay Suy, Tử : …………………..Ít may mắn
Bệnh hay Bệnh Phù : …………………Hay ốm vặt
Bệnh gặp Hao : ……………………….Còm, gầy
Binh, Cái, Đào, Phá, Tướng
Nếu gặp Kình, Đà, Linh, Hoả : ………Phá cách
Bệnh gặp Bệnh Phù : …………………Hay ốm đau

Coi mạng C

Cáo, Thai : …………………………….Hiền hòa, có gia tài.
Cái, Quyền, Tả, Hữu :…………………. Đại quý.
Cái (Hoa Cái) :………………………… Phúc tinh, công danh
Cáo, Mã, Tướng : ……………………..Tặng phong
Cái, Mộc, Khúc, Xương : ……………..Xấu, dâm
Cái, Mã (hai bên voi ngựa chầu) :…….. có công danh
Cái, Diêu, Đà, Tuế :…………………… Nói cà lằm
Cái, Cự, Hình, Kiếp : …………………Mặt rỗ
Cái, Hồng, Lương, Khôi, Việt :………. Tốt
Cái, Dương, Kiếp :…………………… Điếc
Cự, Cơ gặp Nhị Hao :…………………. Rất tốt (giàu sang)
Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương : ……………Hiền
CNĐL gặp nhiều cát tinh, lại gặp Không, Kiếp : Như Hàn Lâm gặp 2 du côn.
CNĐL gặp Hoá Lộc : …………………..Rất tốt
Cơ ở Sửu, Mùi (hãm) : …………………Vất vả
CNĐL đến hạ 4 ác sát :………………… Giảm
Cơ, Hình, Tấu, Khúc : ………………….Thợ mộc khéo
Cơ, Kị (Đồng cung) : ……………………Long đong
Cơ, Cự, Đào, Hồng, Hao, Quyền : ………Thị phi
Cơ, Đồng (miếu) : ……………………….Có tài
Cơ, Hoả, Kiếp : ………………………….Bị đốt, phỏng
Cơ, Lương, Tang, Tuế (hãm) :………….. Ngã què
Cự, Đồng (miếu) : ………………………Thành công
Cự có Nhật Nguyệt giáp :……………… Thành công
Cự, Kình, Đà : ………………………….Ốm vặt
Cự gặp quyền (phúc tinh) :…………….. Phục chức
Cự, Quyền, Kị : ………………………. Hạn xấu
Cự Nhật (Dần, Thân) : ………………..Công danh tốt
Cự, Đông, Lương: …………………….Tài giỏi
Cự Đồng gặp 2 sát : …………………..Giảm, kém
Cự, Kình, Đà (hãm) : …………………Ác, cướp
Cự ở La Võng : ………………………..Hỏng, kém
Cự ở La Võng tuổi Tân, Đinh : ……….Lại rất tốt
Cơ, Lương, Lộc, Mã la võng : …………Làm chủ Ngân hàng
Cơ, Lương (miếu) gặp 1,2 Lộc : ……….Làm chủ Ngân hàng
Cơ, Cự, Tồn :……………………………Ăn nói ba hoa
Cơ, Nguyệt, Điếu, Xương (Dần, Thân) : .Dâm văn chương (Hồ Xuân Hương)
Cơ, Hao (Mão, Dậu) : ……………….Gỗ cháy to
Cơ, Nguyệt Dần, Thân : ………………Tốt nhưng sau lười
Cơ, Cự đồng cung Mão, Dậu : ………..Đại quý
Cơ, Cự, Tồn : ………………………….Thọ, Quý
Cơ, Dương, la vọng gặp Tứ sát : ………Lại làm thợ
Cơ, Cự, Đồng, Nguyệt : ……………… Tốt lắm
Cơ (Miếu, đắc địa) :…………………… Tài, trí, từ tâm
Cơ, Cự ở Dần, Hợi :…………………….. Rất tốt
Cơ, Đào, Hỉ, Hồng, Tấu, Vũ : …………..Công danh tốt, làm quan
Cơ, Lương (Mão, Dậu) : …………………Kém
Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương gặp lục sát : …Õng ẹo, làm nũng
Cơ, Không, Kiếp :……………………… Cây héo, ốm, còm
Cơ, Hoả Linh : …………………………Cây héo, sầu bi
Cơ, Kình, Đà :………………………….. Cây héo, sầu, bi thương
Cơ (hãm) hình, thương, sứ : …………….Ốm bị đánh
Cơ ngộ Quyền : ………………………….Biến hoá, tài
Cơ (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) gặp Hao :……… Rất tốt, phú quý
Cô, Quả : …………………………………Tần tảo, hà tiện
Cô, Quả, Đào, Hồng, Lộc : ………………Trong họ để gai tài
Cô, Quả : …………………………………có chỗ ghi là hiếm con
Cự (Dần, Thân) :………………………… Kim mạng thì đỡ hiểm
Cự (Tý, Ngọ) gặp nhiều cát tinh :………. Biện thuyết
Cự (Mão) : ………………………………Đại phú
Cự (Sửu, Mùi, Thìn, Tị hãm) :…………. Ba hoa
Cự, Tang Tý, Ngọ : ……………………..Nhà rộng, nhiều
Cự, Kị, La võng, Không, Kiếp : ………..Thành công
Cự Đồng (Giáp) Tham Vũ : …………….Nhìêu ruộng
Cự gặp Nhị Hao miếu : …………………Phòng nạn xe cộ
Cự, Nhị hao gặp Tồn là hỏng
gặp Hoá Lộc lại Tốt, giàu :…………….. Phú
Cự, Tứ sát :……………………………… Điếc

Coi mạng D

Diêu : ……………………………………..Đa nghi, tham dâm
Diêu, Kị : …………………………………Lông bông, tửu sắc
Diêu, Đà, Kị :……………………………. Tham tửu sắc, bị vạ
Diêu, Đà, Kị, Không, Kiếp, Nhật, Nguyệt : Phú quý mà không bền
Diêu, Kình, Nhật, Nguyệt : ……………….Tật mắt
Diêu, Khúc, Xương (sáng) Long, Phượng : Như cá gặp nước
Diêu, Hỉ gia hoà : …………………………Mộng tình
Diêu, HÌnh : ………………………………Tà dục, giây oan
Diêu, Đồng, Hình :………………………. Đồng bóng, ác
Diêu, Linh : ……………………………….Mê đạo
Diêu, Phi Liêm, Phá : ……………………..Vất vả
Diêu Tuế : …………………………………Tính tà, đa ngôn
Diêu, Kị đồng cung : ………………………..Sứt môi
Diêu, Vũ : …………………………………..Nhiều may
Diêu, Đà, Tuế, Vũ : …………………………Ngọng, nhiều may
Diêu, Hinh, Hỉ, Đào, Hồng : ……………… Da đẹp
Diêu, Kình, Kị : ……………………………Nói đuôi
Diêu, Hỉ, Long, Phượng : …………………..Nhiều may, công danh
Diêu, Kị, Tham : ……………………………Gặp nước
Diêu, Long, Phượng : ……………………….Coi chừng : Chết
Dương (Kình) tứ mộ : ……………………….Đẹp, quý
Dương, Hổ (Miếu) : …………………………Thăng, dáng
Dương, Hình, Kị, Hoả, Linh : ……………….Hùng, hoạnh phát
Dương ở Ngọ, mạng mộc : ………………….Coi chừng hạn chết
Dương ở Tuất : ………………………………Mã đới Kiếm
Dương, Đà ở 8 cung kia : ……………………Đa sát, tử thương
Dương, Đà, Kình, Kị : ……………………….Hoạnh phát, oai
Dương, Đà, Mã : ……………………………..Mặt tì vết, tù đày
Dương, Đà giáp mệnh : ………………………Đánh Đông dẹp Bắc
Dương, Đà, Kiếp, Sát : ……………………….Khẩu tai, mã đới
Dương, Đà, Kiếp, Sát, Phá Toái
(ở Mệnh, Thân, Quan):……………………….. Phòng hại vì vật nhọn
Dương, Đà (miếu) Không, Kiếp :……………. Lên xuống mau
Dương, Đà, Hình, Kị : ………………………..Ốm vặt, xấu
Dương, Đà, Kị : ………………………………Điếc, hay nói lắp
Dương, Đà, Hoả Tinh : ………………………Hay đau
Dương, Đà, Không, Kiếp :……………………. Hèn, sa sút, tự tử
Dương, Đà, Phá, Tử :………………………….Oai quyền quý hiển
Dương, Đà, Phù, Tuế :…………………………Hay bị kiện
Dương, Đà, Linh, mã :…………………………Tì vết
Dương, Đà, Hoả Linh, la võng ……………….Gian phi
Dương, Đà, Liêm (Tị, Hợi) : ………………….Đủ thứ tai nạn
Dương, Hoả, hay Tham Vũ tứ mộ : ………….. Phi thường

———————————————————————————————————————————————-

CỤ HOÀNG HẠC TRẢ LỜi THẮC MẮC BẠN ĐỌC

Cụ Hoàng Hạc đa đoan công việc, không thể tiếp các bạn trực, tiếp, cũng không thể giải đoán từng lá số cho quý bạn. Nhưng chúng tôi sẽ lựa chọn một số câu hỏi của quý bạn, thí dụ hỏi về một cách, một sao…Riêng trong số này, cụ Hoàng Hạc cho biết ý kiến về một số trường hợp trong Tử Vi

Không phải được sao Miếu địa mà tốt

Một bạn hỏi : “Có phải tại cung Mạng mà có sao miếu địa là tốt?” (Sao miếu địa là nhập miếu, địa là đắc địa, tức là sao ở cung có Hành dưỡng cho sao, để sao có ảnh hưởng tố). Xin trả lời:
Coi về sao bổn mạng, sao đó phải hợp với Mạnh mình. Cung phỉa nuôi dưỡng sao, và sao phải nuôi dưỡng Mạng, thì đó là sinh thuận, rất hay, còn trái lại là nghịch, không hay. Nếu Cung nuôi dưỡng sao ( tức là được sao miếu địa) mà sao khắc mạng, thì phải kể là xấu. Dù Miếu địa, vượng địa hay đắc đại, mà sao đã khắc Mạng thì càng thêm xấu, chứ không thế bảo đó là hay. Cho nên cũng là một vì sao miếu, mà không sinh bổn mạng lại khắc bổn mạng thì thật là không đáng kể. Sự sinh, khắc, chế hoá là tối quan trọng trong phép đoán

Về cung Tử tức và sự truyền tinh

Quý bạn muốn biết đứa con nào là truyền tinh, xin cứ theo nguyên tắc : Xem trong cung Tử tức của quý vị thấy có chính tinh nào, rồi xem cung mạng các lá số con cái, lá số nào ở cung Mạnh có chin tinh đó, thì đó là đứa con truyền tinh
Thí dụ : Cung Tử tức của quý vị có Tử, Phủ, đứa con nào mạng có Tử Phủ là đứa con truyền tinh. Nhưng phải ghi rằng chính tinh đó phải Miếu địa mới được.
Đứa con truyền tinh tức là đứa con sau này mình nhờ nó. Chỉ có sự kiện đó là dáng ghi về sự truyền tinh. Ngoài ra, cũng không nên võ đoán rằng những đứa con khác, sao thủ mạng của nó không truyền tinh, nhưng vẫn có thể là những đứa con tốt, có hiệu hạnh, nhưng vì hoàn cảnh hay vì lý do nào đó mà cha mẹ không nhờ được thôi.
Tôi đã có xem cho một người cha có 4 đứa con trai, hiện 4 đứa đều là bác sĩ, dược sĩ cả, đều có đại công danh và giàu sang phú quý. Nhưng chỉ có đứa con thứ 3 là truyền tinh. Việc này xảy ra đã 20 năm, khi đó thì những ngưòi con đều còn đi học. Trong thực tế, hiện nay, một người con làm bác sĩ lập nghiệp ở ngoại quốc, người con khác ở nước ngoài, người còn khác có công danh lớn nhưng đã mất. hai ông và về già thảnh thử chi nhờ một đứa con duy nhât, tức là đứa con truyền tinh.
Người con ấy cắt nhà cửa, săn sóc chu đáo cho hai ông bà, xây mổ mả. Mấy người con kia không phải là không thương quý cha mẹ nhưng hoàn cảnh khiển cho họ phải đi lập nghiệp phương xa.
Cha mẹ nào cũng quan tâm vấn đề con cái. Người ta thường nói “trả cậy cha, già cậy con” đó là rất tự nhiên.
Vì vậy mà cung Phụ Mẫu và Tử Tức trở thành quan trọng. Ở tuổi trai gái, lại coi cung Phối là quan trọng. Theo tôi thì tất cả là quan trọng. Đến những cung như cung Nô, Tật, Điền, Thiên Di, cung nào mà chẳng liên hệ đến số phận của ta.
Dĩ nhiên, không bao giờ tất cả là đẹp đẽ, là vì không có gì toàn hảo trên đời này, quý bạn cũng không nên quá thắc mắc về số mạng, mà nên bình tĩnh với thái độ triết lý này : “Sống, tức là chấp nhận”

Sự quan trọng của cung Tử Tức

Cung Tử tức rất quan trọng, nhất là đối với đàn bà có sứ mệnh làm mẹ hơn là làm vợ. Nếu đàn mà mà được cả hai cung Phu quân và Tức Tức cùng tốt cả thì đó là “thiên đường dương thế.”
Cung Mạng, Thân rất tốt chắc chắn sẽ được Phú quý, nhưng chẳng may cung Tử Tức lại mờ ám xấu xa, thì hậu vận sẽ sống cô đơn, khó mà hưởng được hạnh phú. Trái lại, nếu cung Mạng, Thân xấu, nhưng cung Tử Tức rất đẹp tất nhiên là về già được nhờ con cái, đó là tiền hung nhi hậu kiết. Thà như vậy, còn hơn là được Mạng, Thân tố mà cung Tử Tức lại tối tăm hay bị bội bạc.
XIn nói thêm về sự truyền tinh cho rõ. Sự truyền tinh là xem lá số của mình, ở cung Tử Tức, nếu có nhiều sao tốt, sáng sủa, miếu địa, và có những trung tích đắc cách, thì nhìn lá số đứa con nào mà Mạng, Thân của nó có những cách ấy, là đứa truyền tinh sẽ nhờ cậy được.
Nhưng coi chừng, nếu cung Tử Tức mà có các sao Không, Kiếp, Kình, Đà, Kị mà đứa con nào ở Thân Mạng lại có những sát tinh hay bại tinh ấy, thì đó không phài là con truyền tinh mà là đứa con làm điêu đứng đời mình.
Như vậy :
– Truyền tinh là ở những sao tốt, những cách tốt về trung tinh, có ở cung Tử Tức người ca và xuất hiện ở cung Mệnh, Thân người con.
– Nếu lại là sao xấu, cách xấu, thì lại là đứa con báo hại cha mẹ (Thí dụ về già mà cha mẹ còn phải cấp dưỡng cho con, cũng có khi là sự giận hờn, ghét bỏ nhau).

KHHB Số 72-J3 ( Ngày 21/10/1972)