Các cách hóa giải lá số xấu

Ai sinh ra cũng mong tốt đẹp,ai cũng muốn chọn giờ đẹp nhưng xem ra không dễ vì nhiều lý do. Khi đã rơi vào tình thế đã định thì cách duy nhất là chấp nhận hoàn cảnh, cách khác là khéo léo có thể phá giải phần nào hoàn cảnh xấu.

Xin đóng góp một số cách hoá giải hiệu quả một số tình huống xấu trong các môn thuật số:

1) Chọn ngày, giờ phạm tứ hành Xung: Lỡ chọn ngày tốt nhưng chỉ hiềm vì người làm lại xung với Ngày đó hoặc năm đó, hóa giải cách nào. Ví dụ: Ngày tốt xông đất đầu năm là Ngày Tỵ, Năm Dần. Lỡ đã mời giám đốc là người Tuổi Thân đến xông nhà, không tiện từ chối. Làm thế nào. Bạn nên mời thêm 1 người tuổi Hợi nữa đến đợi sẵn đợi người Tuổi Thân vào thì tiến vào cùng lúc coi như Tứ hành xung nhau thành Bình hòa.

Nguyên tắc là 2 Chi thì xung nhau nhưng cả 4 Chi xung nhau cùng có mặt thì 2 lực đối xung tự triệt tiêu nhau thành bình hòa. Phép này dùng được trong nhiều việc chứ không nhất thiết là chọn ngày giờ. Cách làm có thể biến tấu thêm: Ví dụ Giám đốc 2 công ty Tuổi Tý và Ngọ cùng ký hợp đồng, đã chọn ngày tốt rồi nên không tiện thay đổi hoặc đối tác không mê tín. Nếu được bạn chọn ký vào giờ Dậu và có thêm 1 người tuổi Mão ký nháy trước. Nếu cũng không chọn được cả giờ, Bạn nên Bố trí trong phòng khách có bức tranh Con Mèo và con Gà là tạm được. Tuy nhiên nếu dùng 1 bức tranh tĩnh vật thì bạn nhớ phải luôn tự nhủ Con Mèo là Mão, Gà là Dậu để bức tranh tham gia tương tác trong công việc.

Trong Tử vi:

1) Sinh con mệnh Kiếp Không, lo nghĩ sau này con hư. Vậy cố tìm cho cháu 1 ông bố nuôi có Phá Quân Hóa Khoa ở mệnh nhé xin làm con nuôi nhé. Tối thiểu nên có Vũ Khúc Hóa Khoa, có thêm Quang Quý Tam Đức Thiên Địa Giải càng nhiều càng tốt. Tương tự Con Linh Hỏa khó nuôi, hay bị bệnh tật nhất định cần Bố nuôi mệnh Tham Lang, Hóa Lộc.

2) Mệnh có Thiên Không hay bị tán tài. May nhất là lỡ bị rụng răng rồi thì nên đi bịt răng vàng là tốt nhất. Kim không tắc phát.

3) Mệnh tuy tốt như có Tử vi, Thiên Phủ, Thiên tướng nhưng thiếu cát tinh phù. Tìm cách chơi với nhiều bạn bè có Tả hữu Khôi việt …ở mệnh. Cái này thì khó đây vì ai cho mình xem tử vi mới là vấn đề. Mà chọn bạn cũng không dễ. Cách dễ hơn là đeo theo vài cái Phù có viết tên các Sao nói trên ví như 1 thẻ viết Tả Phù, mặt sau Hữu Bật…, đặt lên bàn thờ ở Chùa vài Ngày cầu xin linh nghiệm rồi mang theo cũng rất tốt.

4) Trường hợp mệnh Cự ám rất xấu thị phi tối ám. Cách tốt nhất là đặt thẳng tên là Thái Dương, Đắc Dương, Ánh Dương, Minh Đăng gì gì đó… Nhưng cần chú ý tương tác giữa các hệ sao phức tạp, chưa kể Tử bình, cách đặt tên theo Nội ngoại cách gì đó khá phức tạp… 5) Một trường hợp khá phổ biến: Vận Hạn gặp Tuần Triệt thì sao? Cái này xin các bạn thử cho ý kiến. Có cách nào làm đỡ ảnh hưởng của Tuần Triệt đi không? Cách mà tôi nêu ra e rằng khó có người chấp nhận.

Đối với các cách xung về Ngũ hành, xung hàng Can thì dễ hơn và nhiều nơi đã nói nên tôi không nêu ở đây. Ví dụ Chồng Mậu bị vợ Giáp phá thì tìm cách xen Bính vào (sinh con chẳng hạn), hoặc đổi hướng giường ngủ…

Trên đây chỉ là các khía cạnh nhỏ áp dụng. Còn nhiều cách tốt đẹp mà toàn diện hơn. Các mẹo được gọi là sinh ra chỉ là tùy theo hoàn cảnh mà ứng phó.

Sau đây có một số trường hợp rất hay gặp nhưng lại khó áp dụng.

1) Trường hợp Cung Phúc Đức cực xấu. Nhưng cung Mệnh vẫn còn khả hồi cứu vãn. Cứu vãn đây là tìm cách lấy Đức Thắng Số. Nhưng cái nguồn Phúc đức là đầu nguồn đã bị Triệt nguồn mất thì sức người rất khó. Khi đó ta phải đi tìm một Nguồn Phúc Đức khác. Phúc đức xấu trong Tử vi có thể nói là: Bị Tuần triệt (triệt hoàn toàn nguồn phúc), bị hung sát tinh xâm phạm nặng nề, các sao đóng dù tốt nhưng lạc hãm cũng là nguồn phúc xấu… Trước hết định nghĩa Phúc Đức hiện đời là gì: tạm gọi là nghiệp nói sâu xa là bởi các nghiệp vô thỉ của mình, nói gần với lý số là do Tổ tiên ông bà để lại. Tại sao ông bà tổ tiên để lại cho chúng ta các món “lợi” hoặc “nợ” nặng nề. Một phần bởi âm chưa siêu thì dương không thái, “âm siêu dương thái” là ý này. Theo quy luật luân hồi, ai đó khi vào giai đoạn cuối cuộc đời đã xả bỏ hết trần lụy, không còn vướng mắc thì có thể giải thoát ở giai đoạn trung ấm. Quyển Tử Thư Tây tạng có giải thích rõ. Nhưng một số người vì còn quyến luyến trần ai dưới nhiều nghĩa: vì vướng chấp công đức của mình lớn nên sinh làm Thần tiên, chư Thiên hoặc theo Phong Thủy được làm Thần. Do công đức này con cháu dương thế cũng có quyền, phú, quý. Có người bị phúc xấu hơn như ông bà tổ tiên nợ nghiệp: ăn chặn, cướp bóc… người ta nên đến con cháu phải chịu phần nào. Chỉ phần nào thôi vì thực tế. Nhưng làm Thần hay làm Ma thì cũng là chưa giải thoát. Do đó theo cái nhìn rốt ráo, cái gọi là công đức tổ tiên cũng không phải hoàn toàn tốt. Vì cái gì còn biểu hiện ra Tướng thì còn thịnh suy, thăng trầm, còn vinh nhục no đói… Nói chính xác Cung Phúc Đức và Phúc đức đương số là sự tổng hợp truyền thừa không gián đoạn dòng công đức của tổ tiên ông bà cha mẹ xuống tới đương sự. Ông bà cha mẹ tương ứng nghiệp của chúng ta có công tội thế nào biểu hiện một phần nhỏ ở ta. Một phần chủ yếu vẫn do đương số nhận từ xung quanh và từ bản thân (Cung Mệnh Tật, Di Nô Quan Tài Thê…). Thay vì đổ tại hay than thở với Phúc đức tổ tiên, tìm cách giải quyết không rốt ráo bạn nên tìm 1 Nguồn Công Đức khác. Các dòng truyền thừa Phật giáo đều có hình 1 cái Cây Quy Y. Cây quy y đó kéo dài tới đỉnh đầu của đệ tử dòng từ 1 Vị Phật Nguyên Thủy không gián đoạn tới vị Thầy của bạn và tới bạn. Do vậy khi người ta thực hành quy y với 1 dòng truyền thừa Công đức Xuất thế người ta có thể đạt được cả 2 mặt: Công Đức thế gian và Xuất thế gian. Tôi thiết nghĩ Dòng công đức này hơn hẳn dòng công đức thế gian. Thậm chí đến một lúc nào đó bạn đã vượt qua 1 kiếp sống hiện tại của mình thì bạn cũng thoát ly cả dòng công đức thế gian. Những thứ công đức thế gian như Giàu sang quyền quý thị phi vinh nhục những tưởng mang lại hạnh phúc nhưng nó chỉ khiến bạn tiếp tục trôi lăn. Với dòng công đức tổ tiên thì khi dòng họ bạn càng suy nhược thì công đức càng giảm và khiến bạn sa chân vào nhiều tệ nạn luân hồi hơn. Còn với dòng công đức Xuất thế thì nó chỉ có thể bị gián đoạn nhưng nguồn chảy của nó là vô tận cho tới tận khi bạn đạt giác ngộ viên mãn. Vì vậy hiếm ai biết rằng khi nhận một tên mới (Pháp danh) chính là bắt đầu một cuộc sống mới: cuộc sống tâm linh. Nó sẽ song hành với cuộc sống thế tục. Lúc ban đầu chúng là 2 dòng tách biệt nhưng gần cuối nó sẽ nhập vào làm một. Với các dòng truyền thừa như Thiên Chúa Giáo, Hồi giáo, Kỳ na giáo… họ cũng có cây công đức truyền thừa và đệ tử là người đón nhận dòng phúc đức đó. Tùy theo mục tiêu mỗi dòng mà có các đệ tử tương ứng nhưng rốt ráo là xa lìa vinh nhục thế gian. Trong Kito giáo người ta vẫn nêu cha xứ là trung gian giữa chúa và con chiên nên ta đón nhận qua nhà thờ và nghi thức. Nhưng theo tôi quyền tiếp cận với Suối nguồn công đức Vô tận của Thiên Chúa không thể bị giới hạn với cá nhân và bất kỳ ai cũng được tự quyền tiếp xúc với dòng chảy đó. Trong pháp niệm Phật thì cây công đức của bạn không gián đoạn từ Đức Phật Adi đà và gia đình của bạn là các vị Phật bồ tát tương ưng.

Một trong các biểu hiện để nguồn chảy công đức chảy tới ta không hạn chế là Sự Biết ơn hay tri ân. Ân sủng của tổ tiên cũng là một dạng ân sủng, nếu tổ tiên không có công đức thì đã tuyệt tự từ lâu rồi sao lại có ta, do vậy dùng công đức thế gian tuy hạn hẹp nhưng bạn vẫn phải tri ân nó, thậm chí chính bạn sẽ vun bồi ngược lại cho cây Công Đức Tổ tiên. Do vậy ông bà thường vẫn thờ cúng tổ tiên không chỉ là lo việc hương khói mà đích thực là đang tri ân tổ tiên. Có ông bà cha mẹ rồi mới có ta, do vậy công đức tổ tiên dù tội hay phước cũng nên tri ân và biết ơn. Việc hương khói chỉ là một phần nhỏ, việc lớn hơn là các công đức chảy ngược của bạn có thể giúp ích cho vô số tổ tiên liên hệ với mình giải thoát khỏi các khổ đau họ đang chịu đựng. Với công đức Xuất thế, sự tri ân và sùng tín là không thể tránh khỏi. Việc thực hành tri ân với Dòng công đức xuất thế không chỉ mang lại lợi ích cho 1 kiếp mà vô số kiếp và có thể dẫn tới giải thoát rốt ráo. Có nhiều cách thức để thể hiện lòng tri ân sùng tín. Lễ lạy, cúng dường là một hình thức phổ biến với nhiều người hiện nay. Với thiên chúa thì họ cầu nguyện và dâng hiến cho Thiên chúa, nguyện đưa cuộc đời phụng sự nhân loại và thiên chúa. Kết quả tối mãn của sùng tín tri ân là hành giả hoàn toàn hòa nhập vào suối nguồn công đức đó, dòng chảy đó. Cái đó gọi là Nước chúa hay Thiên đàng hay niết bàn tùy tôn giáo.

(Sưu tầm)