Các phần ghi chép tử vi – Alexphong

– Hóa Quyền bị cảnh báo là “nếu gặp Tuần Triệt án ngữ” thì công danh trắc trở thành ít bại nhiều

– Các sao chủ quyền lực rất kỵ Tuần Triệt.

– Phần xem vận TTL có nói khi các sao lưu gặp các sao cố định thì mới tác dụng. Quan điểm này trùng với cách xem của Vương Đình Chi. Như vậy không phải lúc nào cách cục cũng được kích hoạt.

– Ta biết cách cục VCD Nhật Nguyệt thích Không Vong và ưa Mộc Suy Tuyệt. 

– Có những điều các tiền bối nói trước đây tôi rất coi thường, ví dụ như Nhật/Nguyệt thủ mệnh thì khắc đoạt phụ tinh/mẫu tinh nên cha mẹ mất sớm.

Sau này thực tế thấy nhiều lá số có Thái Dương hoặc Thái Âm thủ mệnh đều: hoặc sau khi cha/mẹ mất thì phát tài phát quyền, hoặc phát tài phát quyền xong trong thời gian ngắn cỡ vài tháng thì cha/mẹ mất. Đó mới chính là phần tâm linh thú vị khó lý giải của tử vi.

– Vòng Thái Tuế không chịu tương tác với Không Vong nhưng vòng Trường Sinh thì đặc biệt chịu sự tác động mạnh mẽ của Không Vong. Vị trí Tuyệt rất hợp với Triệt, thậm chí có người coi nó là Triệt thứ hai. Vị trí Mộ rất hợp với Tuần, cả hai cùng chủ tích lũy thu hút gom góp. Cho nên bạn biết Trường Sinh không ưa Triệt Tuần chút nào.

– Mệnh thân đắc cách VCD Nhật Nguyệt rất kỵ hành vận Sát Phá Tham do tính âm dương đối chọi nhau điên đảo. Còn mệnh Sát Phá Tham gặp vận Nhật Nguyệt bạn có thể hỏi vua Quang Trung.

– Cách cục Nhật Nguyệt đại diện cho trí thông minh, uyên bác trên bất cứ lá số nào. Cách cục Sát Phá Tham cho biết khả năng hành động. Cách cục Tử Phủ Vũ Tướng cho biết khả năng tổ chức quản lý. Sát Phá Tham thì thiên dương, Nhật Nguyệt thiên âm, còn Tử Phủ Vũ Tướng dung hòa ở giữa.

Cho nên nghĩ tới Nhật Nguyệt là nghĩ tới thông minh và trường thọ.

————————————–

Nhưng nghĩ cho kỹ Khôi Việt sinh ra để giải Kỵ phải chăng Khôi Việt hợp Kỵ. Nói thế tuy không đúng nhưng cũng không sai, vì nếu không gặp thì làm sao hóa giải. Như Quan Phúc sinh ra để hóa giải Hỏa Linh nếu không gặp Hỏa Linh thì ai trị Hỏa Linh,

Hóa Kỵ là cãi vã xích mích. Khôi Việt có tượng là trưởng là đầu. Có thể giải quyết cãi vã thì phải chăng Khôi Việt là tượng trưởng bối đứng ra dàn xếp lũ con nít tranh giành, hay Khôi Việt là công lý có thể giải nỗi oan Hóa Kỵ. Sau này khi bạn biết Quang Quý không ưa gì Hóa Kỵ bạn sẽ hiểu vì sao Khôi Việt phải đi cùng Quang Quý để giải Không Kiếp. Đơn giản vì Quang Quý có thể đặc trị Không Kiếp nhưng phòng ngừa Hóa Kỵ xâm nhập phá tan uy tín của Quang Quý, thì Khôi Việt phải chắp tay đứng đó sẵn sàng quét sạch bụi thị phi cho Quang Quý rảnh tay mà cải hóa Không Kiếp.

Quang Quý Hóa Kỵ là cảnh tai tiếng khi làm ơn. Ý nghĩa rất phong phú còn tùy các cách cục đi kèm. Như làm ơn mắc oán, hay lợi dụng tiền từ thiện để tiêu xài cho riêng mình đều là cảnh này. Ân Quang ban ân vì ân mà nên oán. Thiên Quý được người quý, quý quá mà lại thành thù.

Khôi Việt tượng là đầu. Là đầu nên làm chủ được cái lưỡi Hóa Kỵ mà giải Kỵ. Là đầu nên sợ sét Hỏa Linh đánh, vì sét đánh trúng đầu không ai nói sét đánh trúng cái mông Thai Tọa. Ông tăng Quan Phúc ngồi thiền Thai Tọa trong đèn nhang Hỏa Linh mà thành được việc. Nhưng để sét đánh thì Hỏa Linh Khôi Việt chưa đủ, khi đó bạn mới chỉ mắc bệnh nhức đầu nhức óc. Để thành cách sét đánh phải có Thiên Hình là hình phạt là hành hạ thì mới rõ nghĩa trời phạt. Cho nên sét đánh phải là “Hỏa Linh Hình Việt”.

Sau này bạn sẽ biết vì sao phải có Hình mới gây thương tổn đánh đập trừng phạt trực tiếp, phải có Diêu mới mang ý nghĩa lừa đảo dụ dỗ trực tiếp. Không có Hình thì Hỏa Linh Khôi Việt mới là nhức đầu. Không có Diêu thì Kỵ Đà Khôi Việt là ẩn sĩ, thêm văn tinh thì kẻ ẩn sỹ có tài, có tài nhưng vô dụng nên ẩn sĩ. Nhưng họ không lừa ai vì không có Thiên Diêu.

Dù là một sao, nhưng xúc tác cho ý nghĩa quyết định. Đến đây bạn hiểu phép dụng tượng.

Quay lại tử vi cho bạn xem sự tầm thường được rèn luyện theo phương pháp đúng sẽ thành vĩ đại ở sao Khôi Việt. Thường thì xem số, nếu mệnh thân có Xương Khúc, ngoài trường hợp đặc biệt bị phá cách thì đa phần đó là người có tài học, là người học giỏi. Nhưng khi bạn xem số, có người không có Xương Khúc mà văn bằng cũng cao, bạn soát thật kỹ thì thấy Khôi Việt Quang Quý. Nếu bạn luận Khôi Việt là bằng sắc, đó là cách luận của phàm phu tục tử. Cao thủ họ sẽ hiểu rằng Khôi Việt là chính khí, Quang Quý là sự sáng suốt. Người có Khôi Việt Quang Quý thì bản thân người đó họ chăm chỉ thực hành đúng những gì thầy cô dạy, những gì trưởng bối dạy. Những người đó thành công của họ do thực hành và đi theo cái đúng, chứ về tài hoa tự thân thì không bao giờ bằng người Xương Khúc.

Thái Tuế chưa tuổi gì để so bảo thủ với Khôi Việt. Thái Tuế bảo thủ về quan điểm, nhưng Khôi Việt bảo thủ về cả con đường. Thái Tuế mới là cái mồm, thì Khôi Việt là cả cái đầu.

Nếu tóm tắt về Khôi Việt, tôi dùng một chữ Chính. Tóm tắt về Thái Tuế, tôi dùng một chữ Trung.

THÁI TUẾ VÀ LỘC TỒN-CHÍNH DANH VÀ CÔNG BẰNG

Chính danh là Thái Tuế. Công bằng là Lộc Tồn. Thái Tuế Hoá Kỵ, chính danh phê phán. Rất lẫm liệt, không hề nặc danh. Công kích một tác phẩm bằng một tác phẩm tốt hơn. Công kích một công trình bằng một công trình đúng hơn. Rất chính đại quang minh. Có Kỵ nhưng là chính Kỵ chứ không phải đố kỵ.

Nhưng Lộc Tồn Hoá Kỵ lại thành xấu, vì khi này là sự ăn miếng trả miếng. Lời qua thì tiếng lại, đao qua thì búa lại. Ông ăn chả, bà ăn nem. Ông chơi gái thì bà đánh bạc. Sự công bằng của Lộc Tồn thành cảnh ăn miếng trả miếng.

Lộc Tồn Hoá Lộc là trao nhau yêu thương. Ông có chân giò thì bà thò chai rượu. Anh trao kỷ niệm còn em đợi chờ. Nên song Lộc tốt cho mọi cách cục

—————————————–

– Nhược điểm song Hao: có tiền là tiêu, có sức là chơi. Đặc điểm song Hao: tích độc nhanh, thải độc nhanh. Nên song Hao đi kèm sát tinh dễ trúng độc cấp tính mà đột quỵ. Song Hao kèm cát tinh phú quý không thể bền.

– Nhược điểm Lộc Tồn: tụ không thể tán. Nên Lộc Tồn khả giải sát tinh nhưng lại làm ngưng trệ tam hóa. Dẫn đến hóa khí khó phát tác. Dễ nhiễm độc mạn tính. Khi phát hiện không thể cứu.

– Hóa Kị phúc đức có xu hướng tự kỉ. Đi kèm Đà Riêu thì khó chữa. Hay nghĩ đến việc tự sát hoặc bi quan không lối thoát.

– Quy luật tự nhiên có nhịp điệu có chu kỳ. Mặt trời mọc rồi lặn hàng ngày. Từ lâu loài người đã phát hiện ra chu kỳ 7. Tại vị trí số 7, năng lượng yếu nhất và cần phải tĩnh dưỡng. Trong tử vi đó là ngôi Thất Sát đứng thứ 7 kể từ vị trí sung mãn là Thiên Phủ. Phủ trù phú thì Sát rất nghèo. Phủ đầy năng lượng thì Sát ít năng lượng. Phủ vượng thì Sát diệt. Trong Tarot, con bài số 7 của cả bốn nguyên tố đều mang nghĩa xấu. Thất côn chủ tranh đoạt. Thất kiếm chủ trộm cắp. Thất cốc chủ mê muội. Thất tiền chủ sự nghỉ ngơi. Thất tiền mang ý nghĩa khá nhất tứ nguyên tố thì cũng không thể hoạt động được.

– Tứ hóa là bốn loại tâm lý cảm xúc, nói gọn là tâm thế. Hóa Kỵ là tâm thế tiêu cực. Tứ hóa phái cho rằng lục sát tinh không đáng sợ, đáng sợ là khi Hóa Kỵ đến kích phát lục sát tinh tác họa. Lục sát tinh nó như tính xấu tiềm ẩn trong con người bạn do DNA quy định khi chúng ta sinh ra. Nhưng nếu không có tâm lý tiêu cực thì lục sát tinh đó cũng không tác họa. Con người sơ sinh mang hai tính thiện ác. Thiện như cát tinh, ác như lục sát. Nhưng nếu không vào hoàn cảnh nhất định của cả thân và tâm, thì những căn ác đó không có điều kiện nảy nở mọc thành quả, thậm chí còn lặn mất. Hóa Lộc bản chất là loại tâm lý tích cực, có tác dụng kích phát theo hướng lạc quan. Khi đi cùng lục sát, Hóa Lộc biến lục sát thành kỳ cách. Ví dụ như sự tinh xảo của các nghệ nhân hay các cầu thủ bóng đá. Họ dùng cái quái cái tinh xảo đó để phục vụ cái tốt. Hoa sen trong bùn là tượng tương ứng của Hóa Lộc trong lục sát. Diêu Đà Kỵ là một cách cục thể hiện sự kích phát của Hóa Kỵ. Bản chất là Kỵ kích phát Đà Diêu. Trong cách cục có thể chỉ có Đà Diêu, khi gặp vận có Kỵ kích phát sẽ xảy ra chuyện không hay.

Qua bài này, bạn hiểu thêm về tứ hóa, cảm thấy sờ được, nắm được tứ hóa chứ không mơ hồ như kinh điển từ ngàn xưa. Ngoài ra, chịu khó áp dụng bạn còn hiểu được ứng kỳ. Cứ khi nào Hóa Kỵ nhập hoặc xung cung lục sát thì xấu. Cứ khi nào Hóa Lộc nhập hoặc xung thì khả quan. Không có Lộc Kỵ kích phát thì không sợ sát tinh.

– Thái Âm cặp với 3 người đàn ông: Cơ Nhật Đồng.

Thái Dương cặp với 3 người đàn bà: Cự Nguyệt Lương.

Tử Vi làm việc với 5 đồng đảng: Phủ Tướng Sát Phá Tham.

Nhóm sao âm chủ quan hệ con người hơn là nhóm sao dương. Nhóm sao dương chủ quan hệ công việc hơn là nhóm sao âm.

– Tứ sinh là nơi vấn đề phát sinh. Thích hợp với các sao ưa tung hoành như Thiên Mã Không Kiếp, song Hao Thất Sát Vũ Tướng Đồng Lương cung dương.

Tứ bại là nơi vấn đề vừa phát sinh. Thích hợp với các sao bại tinh như Khốc Hư miếu tí ngọ. Tang Hổ miếu mão dậu. Song Hao miếu mão dậu. Cơ Cự miếu mão dậu. Cho nên có ý kiến cho rằng Cơ Cự phù hợp với các bại tinh như Tang Hổ Khốc Hư Song Hao. Thực ra chúng là những kẻ đồng hương.

Tứ mộ là nơi an tĩnh, nơi tập hợp lại binh lực, nơi ủ mưu để chuyển hóa từ cũ sang cái mới. Cho nên tứ mộ phù hợp với những sao ưa sự an định như Tả Hữu Xương Khúc Hóa Kị Thai Tọa Quang Quý Cơ Lương Liêm Phủ. Và không phù hợp với các sao thích động như Đồng Cự. Đồng ở mộ như đứa trẻ bị nhốt ở nhà. Cự vốn là ám tinh ở mộ u ám càng không ai soi rọi làm sáng cho, nên càng hôn ám.

Tuy nhiên nhìn lại 3 phân cách trên. Thì tứ bại và quê hương của lục bại Tang Hổ Khốc Hư Hao tuy có gây mệt mỏi nhưng không phải là sự sát phạt tột cùng cực đoan. Bại và hao có thể hiểu như cơn ốm, như vụ tai nạn có thể đền tiền mà xong, như sự mệt mỏi nhọc nhằn không xấu để chết mà chẳng tốt để vui.

Sát địa chính là tứ sinh. Tứ sinh chính là tứ sát. Quê hương và hộ khẩu vĩnh viễn của Kiếp Sát Thiên Mã. Nơi thường trú và địa bàn ưa thích của Không Kiếp. Ở tứ sinh sự việc chỉ có hai thái cực, một là tột cùng vui sướng, hai là tột cùng bi thảm. Không có chỗ cho kiểu nửa buồn nửa vui nửa âu sầu như tứ bại. Ở đây tính chất con bạc của Không Kiếp được ủng hộ triệt để.

Tứ sinh chính là tứ sát.

Tứ bại chính là tứ thành.

Tứ ám (mộ) lại chính là tứ vinh.

—————————-

Không Kiếp là dối trá. Hỏa Linh là điên loạn. Kình Đà là cố chấp.

Địa Không: trộm.

Địa Kiếp: cướp.

Trộm cướp gặp nhau rất tâm đầu ý hợp.

Địa Không là không được.

Địa Kiếp là có rồi mất.

Cự Môn hoá Lộc: tán dương, khen ngợi

Cự Môn hoá Quyền: đe doạ, hạ lệnh

Cự Môn hoá Khoa: giảng giải

Cự Môn hoá Kị: oán trách

Cự Môn Không Kiếp: nói dối

Khôi Việt đi với Hình Diêu thì trách phạt. Khôi Việt đi với Tả Hữu là giúp đỡ.Khôi Việt chủ việc quan việc xã hội nên chỉ giải hoạ kiện cáo thôi. Còn bệnh tật không giải được. Bệnh tật hay mâu thuẫn gia đình thì Khôi Việt không giải được. Việc không phải việc quan, việc không phải chủ lý mà chủ tình thì phải tìm Quan Phúc. Tượng Quan Phúc là thầy tu là cố vấn tâm linh.

Thiên Cơ là hỏi. Cự Môn là đáp. Cơ Cự gặp nhau là là có hỏi có đáp nên miếu địa.

Thiên Đồng là đồng ý. Cự Môn là phản đối. Đồng Cự là phản đối gặp đồng ý nên hãm địa.

Cự là gái trẻ. Cơ là trai trẻ. Trai trẻ gặp gái trẻ thì đăng đối.

Cự là gái trẻ. Nhật vượng là trai trẻ. Nên Nhật vượng thì Cự vượng.

Cơ là trai trẻ. Nguyệt vượng là gái trẻ. Nên Nguyệt vượng thì Cơ vượng.

Nhật hãm là trai già. Trai già gặp gái trẻ thì khó hợp nên Nhật hãm thì Cự hãm.

Nguyệt hãm là gái già. Gặp Cơ là phi công. Nên Nguyệt hãm thì Cơ hãm.

Đồng là đồng ý. Âm là im lặng. Đồng Âm im lặng và đồng ý.

Cự là hỏi. Cự Nhật là người đàn ông hỏi ở dần thân. Khi đó Đồng Âm là người phụ nữ đồng ý ở tý ngọ. Đó là tượng thuận vợ thuận chồng.

Nhật còn là thông minh. Nguyệt là hiền ngoan. Cự Nhật là hỏi thông minh. Đồng Âm là sự đồng ý ngoan ngoãn. Nhật khôn thì Nguyệt ngoan.

Đồng là cậu bé trai. Lương là cô bé con của Nguyệt vĩnh viễn tam hợp Nguyệt. Đồng Lương gặp nhau thì đăng đối. Đồng đồng ý, Lương thì lành vì là con của mẹ hiền (Thái Âm).

Cơ Cự Đồng Lương về động từ là hỏi đáp thuận tòng, về tính chất là linh hoạt hiền lành nhẹ nhàng, về giới tính Cơ Đồng là trai Lương Cự là gái. Về tuổi tác thì Đồng Lương nhỏ tuổi Cơ Cự thì thành niên. Tham Liêm là trung niên. Nhật Nguyệt thể hiện chung lúc già lúc trẻ.

Cơ Lương cũng là cách miếu vì Cơ thiện Lương lành. Cơ trai thành niên gặp cô gái nhỏ.

Nhật là ý chí. Nguyệt là tấm lòng. Trai cần khôn. Gái cần ngoan.

———————————-

Ba sao có tính chất tiên thiên mặc định xấu của tử vi là Sát Phá Tham. Nó là hình bóng Mộc Suy Tuyệt. Trong đó Sát là Tuyệt, Tham là Mộc Dục và Phá là Suy. Sát Tuyệt nên hoành hành cung tứ tuyệt, miếu ở dần thân và đắc ở tị hợi. Tuy nhiên là sao dương nên thoải mái nhất ở dần thân. Tham lộng hành ở tứ bại áp chế và hủ hóa Tử Vi. Phá bất nhân nghịch tử ở tứ mộ và ngụy quân tử hóa Tử Vi. Ở cung âm trong trục sở trường, 3 sao trên đều đồng cung Tử Vi.

Đã là 3 sao xấu. Cho nên khi hãm địa là xấu nhất. Và sự xấu nhất nằm trên tị hợi mão dậu. Trục tị hợi có thể gọi thay bằng trục sát. Trục mão dậu có thể gọi thay bằng trục bại.

————————————

Trong chòm thái tuế 12 cung, việc hiếu được đánh giá bởi tam hợp Tang Tuế Điếu, trong đó ý nghĩa của Tang Môn và Điếu Khách khá rõ ràng chủ việc tang và người tới viếng. Việc hỉ được đánh dấu bởi chòm Đào Hồng Hỉ với Thiên Hỷ vĩnh viễn xung Hồng Loan. Tang và Hỷ là hai tam hợp liền kề nên không bao giờ xung chiếu nhau tạo cảnh dở khóc dở cười tróe ngoe.

Thiên Hỉ cũng được bố trí để không gặp được Thiên Mã. Nhưng chỉ khi đóng ở tứ chính là Hồng Hỷ không gặp Cô Quả. Còn lại Hồng Hỉ luôn gặp cô quả. Tức là có vui nhưng cô đơn.

Xét kĩ hơn thì Tuế Hổ Phù chủ cãi vã tranh chấp. Tang Tuế Điếu chủ tan buồn. Đào Hồng Hỉ chủ vui vẻ. Và Âm Long Trực chủ không cạnh tranh mà an phận.

Tức là có 4 thái cực: cạnh tranh, an phận, vui, buồn. Vui buồn có lẽ là hai thái cực rõ ràng. Còn cạnh tranh hay an phận đều gây nên những ấm ức. Tuế Hổ Phù ngoài nghĩa cạnh tranh có thể gọi là THẮNG. Còn Âm Long Trực ngoài nghĩa an phận có thể gọi là THUA. Vậy là có Vui, Buồn, Thắng, Thua.

————————————

Cái gì hợp với Không sẽ ghét Mộ. Cái gì hợp với Mộ sẽ ghét Không. Vì Không là giải tỏa phóng khoáng thì Mộ là kìm nén tích tụ. Không là rộng thì Mộ là đọng. Không là cho thì Mộ là giữ. Nhật Nguyệt cần khoảng không để soi rọi. Nhật Nguyệt ghét tứ mộ o bế. Đồng Cự thích Không để đồng thoáng cửa mở, nên Đồng Cự ghét tứ mộ vì Đồng tắc còn cửa đóng. Hóa Kị thích tứ mộ an tĩnh như con mèo lười. Hóa Kị ghét Không thành mông lung. Nếu không gặp Không thì ít ra gặp tứ mã tung hoành. Quý nhân không cư tứ mộ nên Quý Nhân chẳng ngại Không Vong. Các cát tinh thích an định ở tứ mộ nên các cát tinh chẳng cần quý nhân. Quý nhân là dành cho hiểm cảnh. Tứ mộ như phe của bên bảo thủ bên có sẵn bên đang nắm quyền, chứ tứ mộ không hợp cho phe cách mạng. Cách mạng thích tứ mã xung động. Không Kiếp là sao âm nên thích tị hợi hơn dần thân. Đồng Lương phe chính nghĩa thích dần thân cung dương hơn tị hợi. Khi mộ gặp không vong thì không vong phá mộ. Dương mộ cứng như đá ong nên gia La Võng khẳng định. Âm mộ nhão như bùn lầy. Nên Triệt Kình phá La Võng vì Triệt chủ cắt phá chia tách. Âm mộ nhão nhoét nên cần Tuần để thu hút đóng khung. Cho nên Nhật Nguyệt ở sửu mùi cần triệt chia tách tại bản cung. Nhưng cung vcd ở mùi thì cần tuần để thu hút ánh sáng Nhật Nguyệt.

————————————-

xem phúc để rõ hơn về nguồn tử tức. Xem tật để rõ hơn nguồn phúc. Xem mệnh để rõ hơn nguồn họa. Xem tài để rõ hơn nguồn điền.

Nhưng cũng có nghĩa là xem tử để rõ hơn về hậu của phúc. Xem nô để rõ hơn về hậu của phối, cho nên có ý kiến cho rằng nô là vợ hai hoặc chồng hai. Cái đó đúng. Xem phúc để rõ hơn về hậu của họa. Xem điền để rõ hơn tiền có tích lũy được không. Bắc phái xem điền để biết có của tích lũy không. Xem họa để rõ hơn hậu của mệnh.

————————————-

Nếu tam hợp phái là phái của tam hợp thì tứ hoá phái là phái của chính xung.

—————————————

Vận đến vòng Thái Tuế là đến thiên thời, vận đến tam hợp mệnh như được là chính mình. Cát hung là do trời nhưng sướng khổ do mình cảm nhận. Giả sử tam hợp mệnh không trùng tam hợp Thái Tuế thì ví dụ tinh giản nhất là: đến tam hợp Thái Tuế được làm vua, còn đến tam hợp mệnh được sống như chính mình. Làm vua là thành công nhưng sống như chính mình là hạnh phúc. Kiếp nhân sinh ảo diệu ở chỗ là được cái này mất cái kia

————————————-

Người có Tuần Triệt mệnh thân là những người mang tính cách ẩn. Cách hành xử của họ cũng ẩn. Ví dụ chọn hai con đường: một là đường lớn chính thống và có đèn giao thông, hai là đường ngóc ngách nhỏ hẹp và có nhiều khúc quanh. Họ sẽ chọn con đường thứ hai. Trong cuộc sống, họ cũng không thích đối mặt hay ra mặt khi phải xử lý vấn đề. Điều này tương ứng với tính hư ảo của Không Vong.

Người có Thái Tuế là người có bề ngoài đúng, người có Lộc Tồn là người có bên trong đúng. Cho nên Tuế mà không có Lộc thì như xác không hồn. Lộc mà không có Tuế thì như hồn không xác.

—————————————

Mệnh thân vĩ nhân ít khi bị tuần triệt, nếu có cũng là cách cục VCD Nhật Nguyệt tịnh minh. Độ số của lá số có thể từ Tuần Triệt mà nhìn ra. Nhìn Tuần Triệt mà ra độ số. Tuần Triệt đóng phá Mệnh Thân hoặc Tài Quan, lại không cát hoá lại lắm sát tinh, nhìn tự biết là xấu. Cái xấu nó thể hiện vô vàn ở tính cách không hợp lý. Dẫn đến hành động không đúng thời, đúng vị. Kiểu như hoang vọng, thiếu thực tế. Thiếu kiên trì, thiếu sáng suốt.

————————————–

NGÔI TỬ VI-CHỦ NHÂN ĐÍCH THỰC

1. Khát vọng làm chủ.

Đặc điểm cốt lõi của Tử Vi là tính làm chủ. Tử Vi khao khát làm chủ. Tử Vi giỏi làm chủ. Tử Vi tốt nhất làm chủ. Thế giới rộng lớn này có nhiều Tử Vi và có nhiều mức độ làm chủ khác nhau. Không phải ai cũng là người sáng lập, có thể họ thừa kế, có thể họ làm chủ bộ phận, có thể họ là đội trưởng của năm người thôi, nhưng tính Chủ của ngôi sao Tử Vi rất rõ. Và những người Tử Vi nên làm chủ từ đầu, chứ nếu Tử Vi đi làm thuê rồi thăng tiến lên làm chủ thì Tử Vi sẽ bị đè bẹp trên con đường đó bởi những người làm thuê chuyên nghiệp.

2. Điềm tĩnh mọi hoàn cảnh.

Điềm tĩnh chính là làm chủ bản thân. Người tử vi có ý thức rèn luyện và làm chủ bản thân họ từ rất sớm. Đây cũng là lý do vì sao tử vi hành thổ. Phương Tây gọi thổ là tinh tuý thứ năm, đứng giữa và vận hành bốn nguyên tố còn lại. Nếu không thể làm chủ bản thân, chắc chắn không thể làm chủ ngoại cảnh. Và điềm tĩnh đơn giản là không chạy theo những tác động bên ngoài. Tử Vi điềm tĩnh trước mọi tác động nên sự bát nháo của Không Kiếp làm Tử Vi phá cách.

3. Bí mật tuyệt đối.

Nếu bạn hay xem phim hay đọc sử về hoàng cung thì bạn hiểu cấm cung sâu như biển. Hoàng cung là nơi ẩn giấu rất nhiều bí mật. Và chủ nhân của hoàng cung chắc chắn không thể là người lúc nào cũng toe toe cái mồm. Cho nên sự bí mật của Tử Vi là tuyệt đối. Có thể nói Tử Vi định nghĩa thế nào là bí mật. Tử Vi chỉ hút thông tin của người khác chứ không chịu chia sẻ thông tin của mình. Tử Vi ít khi nói ra ý kiến trước giây phút cuối cùng. Và Tử Vi không bao giờ nói ra toàn bộ thông tin. Tử Vi nói với mỗi bộ tướng của mình một phần thông tin. Bạn nhìn Gia Cát Lượng điều quân là biết. Ông ta cho mỗi tướng nắm một lệnh bài để thừa lệnh. Tướng nào biết việc tướng đó và đến cuối cùng mới hiểu toàn trận đánh. Đó là nguyên tắc điều hành trung tâm của quân sự. Ngôi Hoá Kỵ chủ đêm đen huyền bí, chưa biết chứ không phải biết rồi mà cố tình giấu như Tử Vi. Cho nên tính chất của Hoá Kỵ khác với Tử Vi. Khi chính tinh là động từ thì Tử Vi là giữ bí mật.

4. Nhìn xa trông rộng.

Tử Vi có tầm nhìn xa và sâu. Tầm nhìn của Tử Vi do vị trí trung tâm của nó mà có. Tầm nhìn của Tử Vi chỉ giới hạn ở vùng nó làm trung tâm. Nói cách khác tử vi như một tổng đài, thu và phát tín hiệu. Bạn thấy Tử Vi nhìn xa trông rộng là ở lĩnh vực của anh ta mà thôi. Chứ tử vi không sở trường ở sự phiêu lưu và phóng kiến ra vô tận. Tầm nhìn của Tử Vi dựa trên sự tính toán cụ thể trong hiện tại và những quy luật bất biến. Tử Vi co về làm chủ ở khu vực nó muốn, mà muốn làm chủ trong giới hạn nào thì phải có tầm nhìn trong giới hạn đó. Nếu không có tầm nhìn, sẽ không có sự chủ động.

5. Khác biệt và tôn trọng sự khác biệt của người khác.

Tử Vi là một trung tâm của những gì xung quanh nó. Tử vi như số nguyên tố, khác biệt và không chịu phân chia. Những người khác biệt có cái hay là họ chấp nhận sự khác biệt của người khác. Đơn giản vì họ hiểu sự khác biệt. Họ khác biệt vì họ có chủ kiến. Họ làm đầu lĩnh vì họ có sự chủ động. Họ tự tin vì họ nắm được đầu mối. Họ tôn trọng sự khác biệt của người khác nhưng không chịu đi theo người khác. Họ có thể có ông chủ, nhưng ông chủ đó phải chấp nhận sự độc lập của họ. Như nước Mỹ chấp nhận sự riêng biệt của các tiểu bang. Giám đốc phải tôn trọng ý kiến và quyền tự quyết của trưởng các bộ phận. Tử Vi không làm những việc mà người khác cũng có thể làm được. Nếu họ không làm tốt hơn, họ sẽ đi đến chỗ khác. Nếu họ làm, phải là khác biệt. Nếu việc giống nhau, thì họ phải làm tốt hơn họ mới làm, vì tốt hơn chính là sự khác biệt.

6. Tỉ mỉ chi tiết nên hợp với Lộc Tồn.

Tử vi không rõ tính tỉ mỉ chi tiết lắm. Chỉ là cụ thể và thực dụng. Không có Lộc Tồn thì Tử Vi thiếu một cái gì đó đường nét, thiếu cái gì đó rõ ràng. Đi với Lộc Tồn, Tử Vi như rồng gặp biển. Khi đó Tử Vi vô cùng chi tiết tỉ mỉ đến tận đơn vị cuối cùng. Người Tử Vi Lộc Tồn bất kể làm việc lớn nhỏ đều cụ thể rành mạch. Cảm tưởng cái gì họ trình bày đều rất hiện thực. Họ mô tả bầu trời sao, thì người nghe cảm giác có thể sờ được có thể nắm được các ngôi sao trong bàn tay mình. Người Tử Vi Lộc Tồn họ giao việc cho cấp dưới theo từng mục như checklist. Họ rất rõ ràng về thế nào là đạt thế nào là không đạt. Việc nào là phải làm, việc nào không cần làm.

7. Tính thực dụng cao.

Tử Vi rất thực dụng, cho nên mới ưa thích Lộc Tồn. Tử Vi thích khẳng định và quả quyết dựa trên các tính toán lợi ích có thực. Tử Vi là nhà quản trị tài năng. Nếu Nhật Nguyệt là vị vua đầy mơ ước và hoài bão tầm thế kỷ, thì Tử Vi là vị vua của hiện tại và của hành động. Cái gì cần làm trước, cái gì mơ hồ xét sau. Tử Vi đơn giản là làm việc. Nên lãnh đạo Tử Vi rất ưa bọn Thất Sát xông xáo tuyến đầu. Nếu Tử Vi làm tính thì đó là phép tính của kế toán, là phép đếm đơn giản của số nguyên chứ không có thập phân thực ảo gì phức tạp. Những con số xu hướng hay huyền ảo tương lai, đối với Tử Vi mà nói đều là nhảm nhí, trừ phi khi Tử Vi bị biến chất bởi Tham Lang.

(Dẫn theo trang vuihoctuvi.blogspot.com)