Cách giải mệnh vô chính diệu

Mạng Vô Chính Diệu là cung Mạng không có chính tinh. Mạng không có chính tinh cũng như cái nhà không có cột cái cho nên tuổi trẻ long đong, hay phải xa gia đình, không lang bang như thế lại yểu.

Vì không có chính tinh, nên phải có những cái thay thế, hoặc có trường hợp xấu tốt khác nhau không thể lấy lẽ thường để giải. Mạng Vô Chính Diệu có những cách như sau:

Cách 1

Là người mạng Kim, phải có hung sát tinh hợp thành. Mạng Kim làm nòng cốt, mà không bị Tuần, Triệt xâm phạm. Đây là trường hợp hung tinh độc thủ.

Nói chung thì mạng hành mộ cũng được, miễn phải có hung tinh đúng hành đó và đúng cung Mạng, lại không bị Tuần, Triệt thì số lên cao vượt bậc (như có Đà La độc thủ đối với người Mạng Kim, Tang Môn độc thủ với người Mạng Mộc).

Như là số Ấtt Sửu, ngày mồng 6 tháng 8, giờ Tý của Vua Lê Lợi.

Vua Lê Lợi, Thân Mạng đồng cung, ở tam hợp Thái Tuế, không có Không nào. Nhưng Kim Mạng được Bạch Hổ hành Kim làm coat cái, Tứ Linh làm thành người có lý tưởng, nhà đại ái quốc.

Đối cung có Cự, Cơ, Tồn, Lộc, thế vững mạnh, nhưng thế Kim của mạng khắc thế Mộc của Di, nên Lê Lợi đắc thắng.

Lại được thêm Tứ Hoá ở đúng chỗ: Hoá Khoa ở Ach, giải được Tử Tướng ngộ Hình. Gặp Nhật, Nguyệt, Thanh Long ở Quan, mây ngũ sắc.

Cách 2

Là cách Mạng Vô Chính Diệu, nhưng được Nhật Nguyệt tinh minh chiếu (Nhật ở Mão) Nguyệt ở Hợi, chính cung Mạng ở Mùi lại có Hoá Kỵ và có Tuần.

Cách này áp dụng cho mọi Mạng, hành nào cũng được.

Đức Trần Hưng Đạo, Mậu Tý ngày 30 tháng 12, giờ Ngọ.

Hoả Mạng, Hỏa Cục, Mạng ở thế Long Đức, chịu thua thiệt, nhưng chấp nhận, biết hy sinh, nhân hậu, hưởng phúc.

Mạng Hỏa, Vô Chính Diệu, có Tuần, được Nhật Nguyệt tinh minh chiếu: Nên thông ming, danh vị xứng đáng, Hồng Việt Tả Hữu Khoa Quyền = Văn võ toàn tài, đức độ, chính minh, quân tử (Song Long, Quan Phúc) (không có hung tinh ở cung Mạng, chỉ nhờ Nhật Nguyệt chiếu. Tuần thu hút Nhật Nguyệt tịnh minh, lại thêm nhiều trung tinh tốt)

Đối phương thế rất mạnh, áp đảo mạng. Nhưng vì đối phương bị Thiên Không ở Sửu nên đành phải thua.

Cách 3

Mạng Hoả, có moat Không thủ Mạng và 2 Không ở tam hợp chiếu sang, không có trung tinh đắc cách: Đúng cách đắc tam không (Mạng Vô Chính Diệu, đắc tam không, nhi phú quý khả kỳ).

Không (Tam Không):

1 – Là Tuần Không (Tuần trung không vong)

2 – Triệt Không (Triệt lộ không vong)

3 – Địa Không hay Thiên Không

Nên ghi: Nếu có Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không mà đồng cung lại có trung tinh đắc cách thì hết cả cái hay của trung tinh. Vậy nên trung tinh phải lánh để tam không chế giảm những cái xấu của Mạng Vô Chính Diệu mới hay.

Ba cách 1, 2, 3 của Mạng Vô Chính Diệu kể trên là những cách hay nhất, tốt nhất.

Cách 4

Mạng Vô Chính Diệu, không có Hung Sát tinh đắc cách làm sườn, cũng không có Không nào, thì phải có nhiều trung tinh tốt mới đỡ.

Trường hợp này, phải có nhiều Hung tinh tốt mới không bị Tuần Triệt chế giảm, nếu bị Tuần Triệt chế giảm lại hỏng mất các trung tinh. Vậy nên ghi rằng, qua các cách 1, 2, 4, không cứ phải “đắc tam không mới phú quý khả kỳ”, có khi gặp Không mà có hại thêm.

Cách này kém 3 cách trên, nhưng còn đỡ.

Tuổi Canh Dần, mồng 8 tháng 9 giờ Dần, Mạng Vô Chính Diệu, không có Không nào, nhưng có các trung tinh tốt: Phụ, Cáo, Tướng An; Khoa, Quyền, Lộc; Quang, Quý; Tả Hữu; Mã, Tràng Sinh; Tồn; Xương, Phương Mã. Nếu có Tuần, Triệt, thì các trung tinh tốt đi lại hỏng.

Xin so sánh với cách sau (cách 5)

Cách 5

Mạng Vô Chính Diệu có hung tinh và trung tinh đắc cách, nhưng lại đủ tam Không phân ra 1 Không thủ mạng, 2 Không ở tam hợp. Đó là cách “kiến tam không” (chỉ thấy tam không mà không thực có) = đó là hình thức, that sự không có miếng.

Đây là moat cách Vô Chính Diệu mà không đắc cách, không phú quý, chỉ vì 3 Không đã dàn ra mà phá các trung tinh đắc cách.

Cách 6

Mạng có Sát tinh là khắc Mệnh, 2 Không ở tamhợp, là Ngộ Không (gặp Không chứ không phải là đắc Không)

Đây là cách yểu

Sở dĩ xấu là vì Sát tinh khắc Mạng ở chính cung Mạng, mà chính cung Mạng lại không có Tuần Triệt nên không thể cản được Sát tinh.

Cách 7

Mạng không có Sát tinh đắc địa thủ, nhưng có Sát tinh khắc mạng thủ và hợp chiếu; nhưng có Triệt ở ngay Mạng giải trừ Sát sinh khắc Mạng.

Nhờ có Triệt mà giải thoát được.

Đây là cách mà trong phú đoán có nói “tam phương xung sát, đắc nhất triệt nhi khả bằng”.

Cách 7 này là cách 6 thêm một Triệt ở Mạng cứu gỡ.

Cách 8

Mạng có Sát tinh đắc cách thủ, hợp chiếu có trung tinh đắc cách, Mạng lại có Tuần:

Cách này hão (hỏng) là vì Tuần phá mất cả Sát tinh đắc cách, cả trung tinh đắc cách.

Tóm lại, nên ghi nhớ rằng có Sát tinh đắc cách và trung tinh đắc cách là tốt thì phải không có Tuần, Triệt chế giảm; còn như không có Tuần Triệt chế giảm; còn như không có những cái hay đó thì cần đến Tuần, Triệt mới tốt.

(TỬ VI GIẢNG MINH – Thiên Phúc Vũ Tiến Phúc)