Chương 10: Cung Mệnh: Thái Dương

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không,.v.v…

Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu Thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thái Dương độc thủ tại Tý – Ngọ

Thái Dương tại Tý, Ngọ lưỡng cung đều là độc tọa, nhưng tại Tý cung lạc hãm thất huy, tại Ngọ cung thì nhật lệ trung thiên, cho nên lưỡng cá cung viên với tính chất có sự phân biệt. Thái dương tại Tý cung, với tác dụng hiệu lực thông cảm khoan dung lớn hơn (bao hàm dung nhẫn đích lực lượng giác đại), nhưng vì duyên cớ thất huy, quang và nhiệt đều không đủ để hóa giải loại tính chất cô khắc của Thiên Lương tại đối cung, cũng không đủ để hóa giải ảnh hưởng của Cự Môn ám diệu tại Sự nghiệp cung, do vậy nội tâm liền đa thống khổ, đồng niên thốn càng thêm khó đắc ấm tí (che chở) của phụ thân. Nhưng mà do vì có thể bao hàm dung nhẫn, cho nên khi hội chiếu Cát diệu, vẫn chủ sự nghiệp hữu thành, có thể là người đáng tin cậy mà được danh lợi (khả bằng thác nhân sở nhi đắc danh lợi). Đặc biệt đúng là khi Thái Dương Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, hoặc thu nhập tăng gia; hoặc năng phát huy lĩnh đạo quyền lực; hoặc vì phục vụ công chúng mà đắc danh dự, nếu canh kiến Phụ, Tá chư diệu, có thể từ sự nghiệp đem bù đắp nổi thống khổ ẩn trong nội tâm. Nhưng như quả Thái Dương tại Tý cung có Hóa Kị, canh phùng Sát diệu, thì đối với nhãn mục hữu tổn. Thái Dương tại Tý cung với nữ nhân, cảm tình nội uẩn nhưng ngoại biểu thì bất hiển lộ. Nếu nội tâm có thống khổ (ví dụ như đồng niên gặp cảnh ngộ bất hạnh, về cảm tình bị tỏa chiết) mà giúp cho người khác khai thác lợi dụng, tình cảm dể dàng băng hội tan vỡ sụp đỗ, ngược lại dể là người bị áp chế (sở thừa), thích nghi tiểu tâm chú ý tị miễn (tránh khỏi). Thái Dương tại Ngọ cung thì, dương quang cường liệt, đủ để hóa giải nhiễu khắc hình kị của Thiên Lương cùng Cự Môn. Nhưng vô luận nam hay nữ, đồng niên thốn vẫn đối với phụ thân bất lợi, hoặc cùng với phụ thân vô duyên, hoặc bất đắc phụ ấm, hoặc phụ thân tai bệnh đến nỗi tử vong ứng với tường tận sở hội Sát Kị Hình chư diệu với nhiều hay ít cùng tính chất mà xác định. Thái Dương tại Ngọ cung không có lực lượng tác dụng bao dung tha thứ, nhưng gặp hoàn cảnh bất như ý ngược lại thành lực kích phát, lực lượng tác dụng khai sáng rất to lớn. Nếu kiến Thái Dương Hóa Lộc, tuy dù chủ ấu niên vô phụ phúc hoặc tự thân đa tai bệnh, nhưng vẫn chủ tài bạch phong doanh, năng phú năng quý. Nếu hóa Quyền tinh, thì năng quý hiển, nan ngộ Sát diệu cũng có thể làm tiểu cục diện với lĩnh đạo, bất quá Ngọ cung Thái Dương đã hiềm ngại mãnh liệt, Hóa Quyền sau đó liền càng gia cường tính chủ quan của nó; nếu Thái Dương Hóa Lộc, tuy dù chủ có danh dự, lại cũng kị xuất phong đầu, bởi vậy cũng chiêu nhạ hiềm kỵ. Nếu Thái Dương tại Ngọ cung Hóa Kị, tảo niên cùng phụ mẫu vô duyên, tự thân mình cũng đa tai bệnh, nhưng nguyên nhân vì lực của Thiên Lương mà phùng hung hóa cát. Thái Dương tại Ngọ hiềm dương quang mãnh liệt, cũng chủ có mục tật, như cận thị tán quang chi cử. Lão niên thì thích nghi đề phòng bệnh huyết áp cùng tim mạch (tâm tạng), với người đại hạn thuận hành (tức dương nam, âm nữ) làm nhiên.

Nữ mệnh Thái Dương tại Ngọ, có nam tử khí khái, bản tính trinh liệt tiết tháo, tuy dù đối với phu tinh bất lợi, nhưng tự thân lại cũng có thể sáng tạo Mệnh vận. Nếu phùng Sát diệu Hình Kị Không Kiếp, ngược lại năng kích phát khởi cương liệt kiên trinh với bản tính thiên phú. Nếu Cát diệu hàm tập, có khả năng như nam tử sáng nghiệp.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung Thái Dương tại Tý, tác sự đa hư, phùng Sát diệu càng thêm chiêu tiểu nhân tao nhiễu. Nếu Thái Dương Hóa Lộc, ngược lại chủ tổn hại sức khỏe, dể đau nhức đầu choáng váng đầu. Đại hạn lưu niên Mệnh cung Thái Dương tại Ngọ, ngộ Cát tinh thì nhẹ bước thang mây, kết hôn sinh con; ngộ Sát diệu thì đa tân lao, cũng có đau nhức đầu choáng váng đầu với hậu chứng. Phùng Hóa Kị, nhãn mục bị tổn hại, hoặc đa nhãn phong.

Thái Dương và Thái Âm đồng cung tại Sửu – Mùi

Thái Dương Thái Âm tại Sửu, Mùi nhị cung đồng độ. Thái Dương tại Sửu cung lạc hãm, Thái Âm thì tại Mùi cung lạc hãm, lưỡng cá cung vị đều có một chính diệu lạc hãm. Cho nên cổ nhân dù có “Nhật Nguyệt tịnh minh” cách cục, chủ yếu là thật sự không nên ứng với tình huống Nhật Nguyệt tại Sửu, Mùi đồng cung, mà đúng là chỉ Thái Dương cư Mão, Thái Âm cư Hợi hội hợp. Khi Thái Dương Thái Âm đồng độ, tối cơ bản với tính chất dể đúng là có biểu hiện hốt âm hốt dương. Cụ thể mà nói, đối với người có thái độ hốt lãnh hốt nhiệt; đối với sự nghiệp nhất thời tiêu cực nhất thời tích cực; đối với tiền tài nhất thời đại phương nhất thời lận sắc (lúc thì phóng khoáng lúc thì bủn xỉn), tức đúng là tính cách hốt âm hốt dương. So sánh lưỡng cá cung vị, Sửu cung do vì là duyên cớ Thái Dương thất huy, Thái Âm với quang huy không bằng như Thái Dương đem chiếu lượng; nhưng tại Mùi cung, Thái Âm thất huy lại có thể đắc Thái Dương chiếu ứng, cho nên thông thường mà nói, Sửu cung bất như Mùi cung. Với người Sửu cung an Mệnh, dể dàng biểu hiện làm ra sự hư phù đặc sắc, mà khi Mùi cung an Mệnh, thì về cơ bản có cá tính hào mại (dũng cảm khí phách phóng khoáng). Nhưng khi Sát diệu hội chiếu chi thốn, thì lưỡng cung an Mệnh đều biểu hiện đắc lận sắc, giả như Thái Dương Hóa Kị, thì khả năng đồng niên cùng với phụ mẫu đều khuyết duyên phận, tự thân thì đa bệnh hoặc đa hư kinh. Thái Âm Hóa Kị thì đa ưu đa lự, đời người cũng gian khổ. Thái Dương tại Sửu cung Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, có thể gia cường lực lượng cho Thái Dương, được cân bằng với Thái Âm nhập miếu, do vậy cá tính liền dể không được bằng Hóa diệu thì là khai lãng (mở rộng sáng sủa), nhân sinh có ngộ hợp cũng giác thuận toại, tòng sự phục vụ tính hành nghiệp hoặc công giáo chức vụ cũng có thể có thành tựu. Vưu hỉ Văn Xương Văn Khúc tại Tị Dậu lưỡng cung lai hội, thì không những có khả năng tăng gia xã hội địa vị của đời người, đồng thời cũng tăng cường năng lực lĩnh đạo. Đây tức là Thái Dương với đặc sắc chủ quý. Thái Dương tại Mùi cung Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, giúp cho nguyên bản ban đầu với Thái Dương đắc địa càng thêm gia tăng sức sống (sinh sắc), cho nên cá tính có cảm giác thiên hướng về tích cực, nhưng lại làm mất đi sự lãnh tĩnh của Thái Dương. Đồng thời Thái Dương với đặc tính chủ quý mà bất chủ phú, cũng phát huy đắc lâm li đến tột cùng, chủ là người có địa vị mà tài lộc chưa hẳn phong hậu. Cũng hỉ Văn Xương Văn Khúc tại Hợi Mão lưỡng cung lai hội, thì Mùi cung với Thái Dương càng gia tăng xuất sắc. Tại Sửu Mùi lưỡng cung, Thái Âm Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, không bằng như Thái Dương đắc hóa diệu. Hóa Lộc thường bất lợi cảm tình, mà lại đa thị phi khẩu thiệt; Hóa Quyền thì thường dể cảm đáo lực bất tòng tâm, vô pháp khai triển sự nghiệp; Hóa Khoa thì chủ khả đắc hư danh mà thiếu thật tế. Thái Âm Thái Dương tại lưỡng cá cung viên này cũng không thích hợp kiến Hỏa, Linh, Dương, Đà tứ Sát.

Nữ mệnh vưu kị cùng với Hỏa Tinh đồng cung, dù không ngoan sắc sảo (tuy hung vô thành phủ), nhưng dể dụng sự theo tình cảm.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Thái Dương, Thái Âm, nên đề phòng xử sự khuyết phạp phương châm, hơn nữa không nên có lí tưởng cao thái quá.

Thái Dương và Cự Môn đồng cung tại Dần – Thân

Thái Dương và Cự Môn tại Dần, Thân nhị cung đồng độ. Cự Môn là Ám diệu, cần phải được quang huy Thái Dương tiến hành thêm vào chiếu diệu, nhưng sau đó có thể giải kì ám. Tại Dần cung, Thái Dương là Nhật húc đông thăng; tại Thân cung, Thái Dương gần với Nhật lạc tây sơn, cho nên tinh hệ tại lưỡng cá cung vị, dể không có cùng tính chất. Tại Dần cung, dương quang sơ lộ, cho nên mặc dù tiền đồ tương lai viễn đại rộng lớn, nhưng lại cũng nan miễn phải kinh qua một phiên giãy dụa vẫy vùng vật lộn, vưu kì đúng là chịu ảnh hưởng của Cự Môn, sở đắc lợi ích và danh dự, sự nghiệp, cùng có hiện tượng trì đắc trì phát, cảnh già tương đối khoan thai dịu dàng (vãn cảnh bỉ giác ưu nhu). Tại Thân cung, dương quang đã bắt đầu chuyển nhược, chịu ảnh hưởng của Cự Môn, liền dể nan miễn có hiện tượng không thể tiếp tục được nữa, cho nên nhân sinh dù có một đoạn thời khắc huy hoàng, cần phải chú trọng là làm thế nào để duy trì bảo thái tốt đẹp, nỗ lực ngoan cường không lùi bước. Theo phương diện tính cách mà nói, với người Dần cung an Mệnh có phách lực, xử sự ổn trọng, có lí tưởng hơn nữa năng vì lí tưởng mà nỗ lực; với người tại Thân cung an Mệnh, thì dường như là hữu đầu vô vĩ, xử sự thiếu nghị lực, nhưng là người hiền lành tùy hòa, về cảm tình dường như hồn nhiên ngây thơ thiện chân. Cho nên với người Dần cung an Mệnh có thể tòng sự pháp luật, chính trị, hoặc học thuật nghiên cứu; mà với người Thân cung an Mệnh, thì thích nghi tòng sự công quan, truyền bá, thôi tiêu, và công tác giáo dục. Vô luận tại Dần cung hoặc Thân cung, đều hỉ Thái Dương Hóa Lộc, người tại Thân cung dù có cảm giác tân lao, nhưng vẫn chủ tài bạch hanh thông, vưu kì lợi về dựa vào khẩu tài để cầu tài. Thái Dương Hóa Khoa thì chủ danh dự chiêu chương, Dần cung so với Thân cung là có lợi hơn. Cự Môn Hóa Quyền thì khả tăng gia tăng tính quyền uy cho ngôn ngữ. Nhưng Thái Dương Hóa Kị cùng Cự Môn Hóa Kị, thì chủ là người hỉ dĩ hạ phạm thượng, cùng với tôn thân là nam tính hoặc thượng ti bất hòa. Nếu gia tăng Tứ sát, càng chủ thị phi khẩu thiệt. Vưu kì là khi hội hợp Thiên Hình, Kình Dương, càng thêm bị liên quan liên lụy đến tranh tụng (canh khủng khiên thiệp từ tụng).

Nữ mệnh Dần Thân nhị cung đều dể có cảm tình tỏa chiết, vưu dĩ tọa Thân cung thì có khả năng trượt chân sa ngã lỡ lầm, với người lấy trì hôn là thích nghi.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Thái Dương Cự Môn, kiến Cát diệu thì sự nghiệp phát triển, kiến Hung diệu thì lí tưởng bất năng thật hiện.

Thái Dương và Thiên Lương đồng cung tại Mão – Dậu

Thái Dương Thiên Lương tại Mão, Dậu nhị cung đồng độ. Nhưng lưỡng cung có tính chất cơ bản lại có sự khác biệt. Tại Mão cung, xưng là “Nhật chiếu lôi môn”. Đây giống như Thái Dương lúc rạng sáng, quang mang sơ lộ (ánh sáng rực rỡ vừa xuất hiện). Nhất là điều gọi là “Lôi môn”, thì đúng là chỉ Đông phương Chấn cung. Nhưng Thái Dương tại cung vị này, kì quang và nhiệt lại vẫn chưa đủ sức giải trừ loại tính chất cô khắc hình kỵ của Thiên Lương tinh diệu, do vì là dương quang sơ lộ, tiền trình mặc dù viễn đại, nhưng đúng là quang và nhiệt đều hữu hạn, với người lập Mệnh tại cung vị này, tất tiên kinh qua gian nan và hiểm trở, nhiên hậu tài năng tại sự nghiệp hữu thành tựu. Nhưng bản cung tinh diệu vẫn giữ nguyên chủ quý mà bất chủ phú, vì vậy mà lại thích nghi tòng sự về công chúng phục vụ hành nghiệp; giả như ngộ đáo văn tinh, thì thích nghi tòng sự học thuật nghiên cứu, hoặc đảm nhậm giáo chức. Nhưng nếu Mệnh cung có Lộc Tồn và Văn Xương đồng độ, thì đúng là điều gọi là “Dương Lương Xương Lộc” cách. Cổ nhân nói: “Dương Lương Xương Lộc, truyền lưu đệ nhất danh”, cho nên với người có Mệnh cung phùng cách cục này, tối lợi tham gia quốc gia điển thí, hoặc tham gia tư cách khảo thí, như kiến trúc sư, nữ kế sư (kế toán) các loại. Nếu tham gia học vị khảo thí, thì càng dể hoạch thành công. Vô luận tham gia thập yêu (bất cứ) khảo thí, đều có thể dựa vào đây đạp thượng thành công với chổ dựa vững chắc. Cho nên chiếu theo “Trung Châu Phái” sở truyền, Thái Dương Mão cung tọa Mệnh, chủ là người đa nghệ đa tài, danh hiển phú dụ. Giả như tại Dậu cung an Mệnh, Mệnh cung vô chính diệu, cần phải tá Mão cung Thái Dương Thiên Lương nhập cung an tinh, thì các sao sở hội hợp là Thái Dương Thiên Lương, Thiên Đồng Cự Môn và Thiên Cơ, thì không như người với nguyên bản tại Mão cung đắc hội Thiên Đồng Cự Môn cùng Hợi cung với Thái Âm rất tốt đẹp. Nguyên nhân là Mão cung có Thái Dương Thái Âm hội hợp, chủ kí phú thả quý (cả phú lẫn quý), nhưng với người tá tinh Dậu cung, thì nguyên nhân là có Thiên Lương Thiên Cơ hội hợp, có liên quan về xiển thích sự lí chi ngoại, đặc biệt thích nghi học thuật nghiên cứu, cũng thích nghi tòng sự pháp luật công tác, nhưng xã hội địa vị tuy dù cao, phú dụ, thì bất như người nguyên bản tại Mão cung an Mệnh.

Tại Dậu cung an Mệnh, mặc dù tổ hợp tinh diệu cùng với Mão cung tương đồng, nhưng do vì Dậu cung Thái Dương đã Nhật lạc tây sơn, vãn cảnh tuy giai (cảnh chiều dù đẹp), chỉ tiếc hoàng hôn đã cận kề. Cho nên với người tại bản cung an Mệnh, Mệnh vận thông thường bất như người Mão cung an Mệnh. Cho dù cùng đồng là “Dương Lương Xương Lộc” cách cục, kì thành tựu cũng không có giống như nhau. Đại khái là vãn cảnh cảm giác là cô độc, cho nên thích nghi với trung niên thì sáng lập danh thanh sự nghiệp, chú ý tích súc. Trung niên về sau, thích nghi nghiên cứu triết lí, kí thác thân tâm (gởi gắm thể xác và tâm hồn). Giả như Mão cung vô chính diệu, cần phải tá Dậu cung với Thái Dương Thiên Lương nhập cung an tinh, cũng thích nghi với tòng sự học thuật nghiên cứu hoặc tòng sự pháp luật công tác, hoặc tòng sự phục vụ xã hội hành nghiệp (Hình 7). Thái Dương có Thiên Lương đồng cung, cho nên bất hỉ Hóa Lộc. Nếu Thái Dương Hóa Lộc, vô luận Mão cung hoặc Dậu cung an Mệnh, đều dể chiêu khốn nhiễu, dể dàng thụ nhân chỉ trích, hoặc phàm hoạch tài lợi tất tiên kinh phiền nhiễu. Nhưng tòng sự học thuật nghiên cứu hoặc văn nghệ sáng tác giả thì không e ngại lo lắng, nguyên nhân là loại công tác giả này tất cần phải tiên thương tổn não cân, nhiên hậu tài hoạch danh lợi, tính chất tinh diệu phù hợp với sự nghiệp. Mão Dậu nhị cung với Thái Dương tối hỉ Hóa Quyền, có thể tăng gia quyền uy, nếu hội Thiên Khôi Thiên Việt, Ân Quang Thiên Quý, Tam Thai Bát Tọa đẳng diệu, thì có thể suy xét theo chính trị, hoặc trở thành nhân viên quản lí cao cấp tại đại xí nghiệp. Mão cung Thái Dương bất sợ Hóa Kị, xưng là “Biến cảnh”; nhưng tại Dậu cung Hóa Kị thì rất là bất khả, nếu tái hội Sát Hình đẳng diệu, chủ có lao ngục chi tai, duy có Thiên Lương đồng cung, chung cuộc có thể phùng hung hóa cát.

Nữ mệnh với người Thái Dương Thiên Lương tại Mão cung, chủ tiền hôn nhân có ba chiết, người tại Dậu cung, thì hậu hôn nhân vẫn đa khốn nhiễu ba chiết, lấy vãn hôn làm thích nghi.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Thái Dương Thiên Lương, nếu hội Văn tinh, cũng chủ nội trong niên hạn lợi về tham gia khảo thí, chân tuyển, hoặc thắng lợi tại sự nghiệp cạnh tranh. Nếu Phụ, Tá chư diệu tịnh chiếu, chủ là người bình bộ thanh vân. Cho dù lưu niên Mệnh cung Thái Dương Hóa Quyền, Hóa Khoa đúng là năm cũng tất có tính tiến bộ đột phát. Nếu Hỏa Linh Dương Đà và Kị tinh tịnh chiếu, thì có tiểu nhân xâm hại, gặp phiền nhiễu ngoại ý, hoặc đưa đến phá tài. Trung niên về sau cần phải chú ý huyết áp.

Thái Dương độc thủ tại Thìn – Tuất

Thái Dương tại Thìn cung an Mệnh, đối cung Thái Âm, nhị diệu đều nhập vượng cung, là điển hình của “Nhật Nguyệt tịnh minh” cách cục; nhưng Thái Dương như tại Tuất cung, thì Thái Âm Thái Dương đều tại hãm cung, lại đúng là điển hình của “Nhật Nguyệt phản bối” cách. “Nhật Nguyệt tịnh minh” thông thường chủ thiếu niên đắc chí, là người chính trực, hơn nữa xử sự luyện đạt cơ mẫn; nếu hội Phụ, Tá chư diệu Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, càng chủ quý hiển. Nhưng nếu Cát diệu và Sát diệu tịnh chiếu, thì thích nghi tòng sự pháp luật, hoặc đảm đương chức vụ giám sát, cũng có thể tòng sự truyền bá giới công tác, nếu Văn tinh đồng thời nhập Mệnh cung, thì thích nghi tòng sự văn giáo, văn hóa công tác. “Nhật Nguyệt phản bối”, cổ nhân nhận xét là cùng với phụ mẫu vô duyên. Nhưng xã hội hiện đại áp lực tiểu gia đình chế độ, hơn nữa li hương bối tỉnh và không tính toán về việc quay trở lại cố hương, cho nên “Phụ mẫu vô duyên” biểu hiện ra thật sự cụ thể, cũng không nghiêm trọng giống như cổ đại. Tại phương diện sự nghiệp, thì chủ thanh danh khó hiển đạt, nhưng khi hội chiếu Cát diệu, đặc biệt là Thái Dương Hóa Lộc, thì chủ có thể thành cự phú, duy dù tất cần phải kinh qua một phiên gian tân với tránh trát (đấu tranh vật lộn). Mà tính chất “Phụ mẫu vô duyên” cũng biểu hiện là tất cần phải bạch thủ khởi gia, nan đắc phụ ấm. Thích nghi tòng sự chức nghiệp, cùng với người tại Thìn cung tương đồng. Thái Dương tại Thìn, Tuất nhị cung Hóa Lộc, cùng tài bạch tiến ích; nếu hóa Quyền tinh, người tại Thìn cung chủ quyền lực tăng gia, tại Tuất cung Hóa Quyền, làm cho đời người chủ quan gia cường, tuy dù có quyền lực, nếu kiến Sát ngược lại chiêu hiềm kị thị phi, nên chú ý tự thân mình tu dưỡng. Thái Dương tại Thìn, Tuất nhị cung Hóa Khoa, thanh danh cùng hiển, nhưng người tại Tuất cung không nên cầu danh, danh càng cao tức thị phi càng nhiều. Nếu Thái Dương Hóa Kị, người tại Thìn cung nên chú ý quan hệ cùng với nam tính tôn thân bao gồm thượng ti, ông chủ; tại Tuất cung Hóa Kị, ngoại trừ chú ý nhân tế quan hệ, cũng đề phòng nhãn mục có bệnh. Nếu canh hội Kình Dương, Thiên Hình, chủ quan phi.

Nữ mệnh “Nhật Nguyệt tịnh minh”, cổ nhân nhận xét là có thể “Tảo phối hiền phu”, đây đúng là nguyên nhân vì phụ nữ cổ đại căn bản có thể nói là vô sự nghiệp; Nếu tại hiện đại, thì cũng chủ tự thân có thể phát triển sự nghiệp. Nhưng nếu phùng “Nhật Nguyệt phản bối”, thì nên trì hôn. Nếu Mệnh cung có thêm Hỏa Tinh Linh Tinh đồng độ, tảo hôn có thất túc lỡ lầm, mà lại tân lao thiếu nhân duyên.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung tại Thìn, Tuất, hội Cát diệu nhưng vẫn chủ hỉ khánh, nếu Sát Kị tịnh hội, thì đề phòng phá tài ngoại ý, hoành chiêu tổn thất.

Thái Dương độc thủ tại Tị – Hợi

Thái Dương tại Tị, Hợi nhị cung, đối cung tất là Cự Môn. Cự Môn ám chiêu cần phải dựa vào Thái Dương hóa giải, bởi vậy với người Tị cung an Mệnh, với duyên cớ Thái Dương cư tại vượng cung, có lực lượng hóa giải Cự Môn, tự so sánh với Thái Dương cư tại Hợi cung lạc hãm là mạnh hơn nhiều. Cho nên với người Tị cung an Mệnh dể dàng thiếu niên đắc chí, hoặc đắc phụ mẫu phúc ấm, nhưng kị đắc chí sau đó tâm cao khí ngạo, quá lộ phong mang. Nếu năng thu liễm, hoặc nguyên nhân vì khí ngạo tao ngộ tỏa chiết về sau này vẫn bất giải (liên tục) về sự nghiệp, thì vẫn chủ danh cao hiển đạt. Người với Hợi cung an Mệnh, ấu niên bất lợi phụ thân. Nếu Sát Kị tịnh chiếu, thì nên xuất tự ngoại tính (làm con nuôi mang họ khác). Tự thân mình thì đề phòng nhãn mục tật bệnh. Duy chủ là người có tư tưởng độc đặc, nhưng năng phấn đấu, thì tự nhiên trác lập hữu thành, bất quá chỉ là tư tưởng hành vi người bình thường vẫn không dể lí giải. Thái Dương Hóa Lộc, hỉ canh hội Thiên Mã, năng phú. Hóa Quyền, Hóa Khoa thì càng dể chiêu kị, tuy quyền lực thanh dự có thể cùng tăng gia; Nếu hóa Kị tinh, thiếu niên bất lợi, cũng không dể phục tùng thượng ti.

Nữ mệnh Tị Hợi nhị cung đều không nên kiến Sát Kị chư diệu, chủ lao lực và chiêu nhạ thị phi, đây chính là thông bệnh của Thái Dương Cự Môn tương hội. Đồng thời nguyên nhân là do Thiên Lương hội hợp, không thích nghi canh kiến Thiên Hình lai hội, không thì hôn nhân cũng có tỏa chiết. Nếu Sát Kị tịnh lâm, tuy chủ là người tính tình đoan trang, nhưng phụ phúc, phu phúc, tử phúc cùng bất như ý.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung Thái Dương tại Tị, Hợi, nói chung, người tại Tị cung đắc ý, người tại Hợi cung lao lực bôn ba nhiên hậu hữu thành, lạc hãm không vong cùng chủ tác sự không hư bất thật, người kiến Sát Kị trọng đề phòng hoành đắc hoành phá, không thể mong đợi may mắn.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)