Chương 11: Cung Mệnh: Vũ Khúc

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không,.v.v…

Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu Thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng cung tại Tý – Ngọ

Vũ Khúc Thiên Phủ tại Tý, Ngọ lưỡng cung đồng độ, hơn nữa đồng cư vượng cung. Vũ Khúc tính cương, Thiên Phủ tính nhu; tuy đồng là tinh diệu chủ tài bạch, Vũ Khúc có thể là chủ sáng nghiệp lí tài; Thiên Phủ chủ thủ thành, chủ thủ tài; do vậy lưỡng khỏa tinh diệu này hội hợp, khiến cho không tránh khỏi dể phát sinh mâu thuẫn, duy mâu thuẫn trùng đột với trình độ thì không cường liệt như Tử Vi Thiên Phủ. Bính đáo chủng loại Mệnh cung với kết cấu tinh hệ này, ứng với nên tiên kiểm nhìn Phúc đức cung. Phúc đức cung Tham Lang độc tọa, nếu hội Hỏa Tinh Linh Tinh, thì tính tình cấp táo, dể dàng mất đi loại ưu điểm khiêm hậu của Mệnh cung, nhưng cũng lại tăng cường liễu hình sự khúc với cương cảnh chi khí. Nếu hội Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao đẳng diệu, thì là người đa tranh đa khí, mà lại dể nhiễm bất lương thị hảo (đam mê xấu), cũng thất khứ loại đặc tính thiện về thủ tài lí tài của Mệnh cung tinh diệu, phùng Không Kiếp chủ đời người cô lập, canh kiến Thiên Diêu, thì là người quyền thuật âm mưu. Kiến Cát diệu hội hợp, vưu kì là Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Phúc, Thiên Quý đẳng diệu, mới chủ là người ôn kiệm cung lương, năng công năng thủ. Lại vừa cần phải kiểm nhìn xem Phụ mẫu cung, nếu Sát tinh tịnh lâm, thì ấu niên nan đắc phụ mẫu ấm tí, giáo dưỡng có khả năng bất thiện, bởi vậy Mệnh cung tinh diệu với tính chất trùng đột, khả năng biến thành tiến thối thất cư. Vũ Khúc Thiên Phủ thích nghi kiến Hóa Lộc, chủ tài nguyên phong hậu, nhưng cũng lại bất hỉ kiến Lộc Tồn đồng cung, tuy phú cũng chủ khan tham, tính cách hơi ngại ích kỷ tự tư; Vũ Khúc Hóa Quyền, thì Vũ Khúc có lực lượng tác dụng tăng gia, mà Thiên Phủ với lực lượng tác dụng tương đối giảm thiểu, do vậy lợi về khai sáng, có thể tiến tài; Vũ Khúc Hóa Khoa, tuy chủ sự nghiệp thuận toại, nhưng không nên hảo cao vụ viễn, chỉ cần lược hội một hai điểm Sát tinh, đều dể chiêu thất bại. Duy Thiên Phủ Hóa Khoa thì chủ tại phương diện tiền tài tín dự rất tốt, không dể cùng người tá trái (cho vay), thấu chi, nhưng cũng lại là tín dụng cực kỳ tốt với trái vụ nhân (người đi vay). Tối hiềm Vũ Khúc Hóa Kị, chủ sự nghiệp thất bại, tiền tài chu chuyển khốn nan; nếu canh kiến Sát diệu, có thể đưa đến nhất bại đồ địa (thất bại thảm hại). Ngoài ra, có thêm một vài tổ hợp tinh diệu với tính chất đặc thù, độc giả ứng với gia tăng lưu ý. Vũ Khúc Thiên Phủ cư tại Ngọ, bất hội Sát chủ hữu thọ. Vũ Khúc cư Tý, kiến Thiên Mã, thích nghi viễn thiệp trùng dương (trung dương xa cách), tại dị quốc lập nghiệp. Vũ Khúc Thiên Phủ thủ Mệnh, đối cung tất là Thất Sát, nếu Thất Sát và Kình Dương đồng cung, thì chủ vì tài mà trì đao động vũ (cầm đao hành hung, sử dụng vũ lực). Vũ Khúc Thiên Phủ có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, canh kiến Đại Hao, Kiếp Sát, thì dể chiêu đạo tặc thương kiếp (bị cướp đoạt). Vũ Khúc Thiên Phủ tọa Mệnh, nếu Phu thê cung Phá Quân sở hội với tinh diệu bất cát, phu thê hình khắc tương đối nặng, thích nghi vãn hôn, hôn hậu lại vừa có phối ngẫu xuất môn ngoại cư đẳng sự (có chuyện chờ sẳn ngoài cửa). Nữ mệnh chủ thê đoạt phu quyền, tảo hôn hoặc phối ngẫu niên linh tương đương giả (hoặc lấy người bằng tuổi), dể thành oán ngẫu bất hòa.

Nữ mệnh tối hiềm Vũ Khúc Hóa Kị tọa Mệnh cung, hội chiếu Sát tinh, chủ kiện khang bất giai (sức khỏe không tốt), dể hoạn nham chứng, hoặc đối với phu, tử cùng có hình khắc. Nếu hội Văn Xương, Văn Khúc; Hàm Trì, Đại Hao; Liêm Trinh, Thiên Diêu, thì cá tính khinh điêu (ngã ngớn lẳng lơ), đối với dị tính dể sinh tình tố, lại vừa dể là hữu phụ chi phu truy cầu, duy người với Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa đẳng diệu hội Phúc đức cung có thể tự chế tự luật.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung là Vũ Khúc Thiên Phủ, kiến Hóa Kị chủ sự nghiệp thất bại, tiền tài khốn nhiễu; bất nghi tái kiến Dương, Đà, dể vì tài hưng tụng, canh kiến Thiên Hình, có lao ngục chi tai. Nếu kiến Địa Không, Địa Kiếp, chủ đột ngột chiêu khốn ách, tài bạch chu chuyển bất linh; nếu kiến Hóa Lộc, thì tài nguyên mậu thịnh, canh phùng Phụ, Tá cát diệu, cơ ngộ tần tần (cơ hội đến dồn dập liên tiếp), hoạn dũng vãng trực tiền tiến thủ (mạnh dạn tận dụng thời cơ tiến thẳng tới trước).

Vũ Khúc và Tham Lang đồng cung tại Sửu – Mùi

Vũ Khúc Tham Lang tại Sửu, Mùi nhị cung đồng độ, nếu Phúc đức cung tinh diệu cát, thì chủ là người trường thọ. Do vì lưỡng cá cung vị này đều đồng thời hội hợp Tài bạch cung với Liêm Trinh Phá Quân, cho nên tối hỉ Tài bạch cung với tinh diệu cát lợi, như kiến Hóa Lộc, Hóa Quyền, thì Mệnh cung đời người càng gia tăng thêm sinh sắc sức sống, chủ đời người tinh thần vật chất sinh hoạt đều cảm giác phong phú. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, thì bất nghi tự cường xuất đầu, không thì cũng chiêu phiền não. Đối với Vũ Khúc Tham Lang, cổ nhân nhận xét là “Chủ thiếu niên bất lợi, tiên bần hậu phú”. Kì thật đây đúng là chuyên chỉ “Vũ Khúc Tham Lang Hỏa Tinh đồng cung” tình huống mà nói. Nếu vô Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, thì ngược lại chủ thiếu niên hưởng thụ, thanh niên về sau lại cũng tất cần lực cầu tiến thủ, về sau mới có thể bảo tồn phúc ấm. Vũ Khúc Tham Lang kiến Hỏa, Linh, tức bất đồng cung cũng chủ bạo phát, nhưng bất nghi tái kiến Hóa Kị hoặc Dương, Đà, không thì khiến cho bạo phát, cũng có bạo bại, tối thích nghi rút lui kịp thời (tối nghi cập thì dẫn thối), trì doanh bảo thái. Vũ Khúc Tham Lang đồng cung, thiện trường giao tế, mà tính cách lại cảnh trực hào sảng dể làm bằng hữu hân thưởng. Nhưng nếu kiến Sát diệu Hóa Kị, cùng Đại Hao, Địa Không, Địa Kiếp đẳng diệu, thì thiết kị đổ bác (nhất thiết phải kiêng kỵ cờ bạc), không thì có thể khuynh gia, cũng bất nghi lưu luyến hoa tửu. Nói chung, người với Vũ Khúc Tham Lang thủ Mệnh đều có tài nghệ, nếu kiến Sát tinh, thích nghi học tập chuyên môn kĩ thuật mưu sinh, nếu bất kiến Sát, mà lại có Thiên Khôi Thiên Việt hội hợp, thì có thể thủ ác kinh tể trọng quyền; canh kiến Lộc Mã giao trì, tại tha bang (phương xa) có thể thành cự phú. Tối hỉ Vũ Khúc Hóa Khoa, hội hợp Liêm Trinh Hóa Lộc, Phá Quân Hóa Quyền, trọn đời quyền trọng lộc hậu, có thể thành tài kinh giới cự phú, hoặc tại chính phủ chủ chưởng tài quyền.

Nữ mệnh kiến Cát diệu giả, chủ là nữ trung hào kiệt, nếu kiến Thiên Hình, tuy hôn nhân bất lợi, nhưng tự thân sự nghiệp tài bạch có thể so sánh với mỹ nam tử. Nói chung, Vũ Khúc Tham Lang với Nữ mệnh, so với Vũ Khúc độc tọa với nữ tính là tốt đẹp hơn, có thể nội ngoại kiêm cố, bất trí (dẫn đến không) chuyên chú về sự nghiệp, đối với trượng phu cũng trong cương có nhu, người kiến Thiên Diêu hoặc Hàm Trì đồng cung, càng phú nữ tính hấp dẫn lực.

Đại hạn lưu niên Vũ Khúc Tham Lang, kiến Cát diệu các sao cần phải lưu ý sự nghiệp có cơ hội. Nếu Tham Lang Hóa Kị, thì thích nghi lưu ý cải biến phương châm hoặc mục tiêu xử sự, không thể kiên trì nguyên định kế hoạch. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị, là thích nghi với thủ thành, không thể tùy tiện cẩu thả mù quáng phát triển. Hỏa Tinh Linh Tinh đồng cung, thì tuy có hạnh vận ngoại ý, nhưng cũng có ý định không chu đáo với nguy cơ tỏa chiết.

Vũ Khúc và Thiên Tướng đồng cung tại Dần – Thân

Vũ Khúc Thiên Tướng tại Dần, Thân nhị cung đồng độ. Do vì ảnh hưởng của Thiên Tướng, Vũ Khúc với tính chất cương trực được điều hòa, cho nên xử sự tương đối tùy hòa. Không ngại đem phần đã trình bày về tính chất của hai tinh hệ, nhất là cùng so sánh Vũ Khúc Thiên Phủ đồng cung với tính chất của bản cung, là dựa vào Thiên Phủ với cẩn thận để điều hòa Vũ Khúc với cương trực, cho nên là người cương trung hữu nhu; Vũ Khúc Tham Lang đồng cung, là dựa vào Tham Lang với viên hoạt để điều hòa, cho nên vật dục tuy dù thâm sâu mà thế cố (sành sỏi đường đời); Vũ Khúc Thiên Tướng không như Vũ Khúc Tham Lang với viên hoạt nhưng có sẳn cảm mến chính nghĩa mà không thế cố; không như Vũ Khúc Thiên Phủ cương nhu tịnh tể, nhưng cũng lại vui khi làm người phục vụ. Đây đúng là tính cách của Vũ Khúc đã chịu từng tinh diệu khác biệt điều hòa, biểu hiện ra sự sai biệt. Nhưng Vũ Khúc Thiên Tướng với đối cung là Phá Quân, cho nên đối với Vũ Khúc Thiên Tướng tinh hệ cũng có ảnh hưởng cường liệt. Giả như có Sát diệu tại Mệnh cung hoặc cùng với Phá Quân đồng cung, đặc biệt là khi Kình Dương Đà La giáp Mệnh cung với tình huống dưới đây, thì chủ là người chủ quan cường liệt, khả năng trở thành là độc sẳn có với tính chất tùy hòa hiền lành liền phi thường suy nhược, biến thành ngoại biểu tùy hòa, nội tâm kịch liệt, mà tính chất làm người phục vụ cũng biến thành tăng gia thống trị dục. Do đây có thể hiểu biết nhận định kết cấu tinh hệ này có yếu điểm. Nếu bất ngộ Sát Kị, thì Vũ Khúc Thiên Tướng ngược lại hỉ hội hợp Xương Khúc, có thể tòng sự chính trị, tài kinh công tác. Ngộ Sát tắc bất quá chỉ là thông minh xảo nghệ. Tối kị kiến Kình Dương, nếu hội Thiên Hình, Hóa Kị, chủ dể có tranh tụng.

Liên quan về tính chất của Nữ mệnh và đại hạn lưu niên, có thể tham khảo hai loại tinh hệ đã trình bày trước đó. Duy liên quan về phương diện hôn nhân, nữ Mệnh chủ phu có ngoại ngộ, không thì dể dàng sinh li, là đặc sắc của bản tinh hệ này.

Vũ Khúc và Thất Sát đồng cung tại Mão – Dậu

Vũ Khúc Thất Sát tại Mão, Dậu nhị cung đồng độ, tinh diệu kết cấu phi thường cường liệt tất cần phải đắc Tả Phụ Hữu Bật củng chiếu, canh đắc hội Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, đời người với tế ngộ sau đó mới đắc thuận toại, không thì dể dàng cô lập vô viện mà phá tài. Bổn tinh hệ kết cấu với đặc tính, đúng là mẫn duệ mà tính cấp; có mưu lược nhưng vô viễn kiến; thông minh tài giỏi nhưng dể cản tẫn sát tuyệt (cạn tàu ráo máng), cũng tất đắc Tả Hữu Xương Khúc để điều hòa, nhiên hậu mới biến thành thông minh tinh luyện mà bất lưu vào đoản lự bạc tình. Nếu canh phùng Hóa Lộc, Hóa Khoa, Thiên Mã hội chiếu, thì phúc trạch dư hậu. Tại Mão cung an Mệnh, Hóa Kị hoặc ngộ Sát, cổ nhân nói là có mộc áp lôi kinh chi tai, tại xã hội hiện đại, thì là tao ngộ thổ mộc áp thương và xúc điện (cây đè điện giật). Tại Dậu cung an Mệnh, Hóa Kị hoặc ngộ Sát, chủ ngoại ý bất trắc, dể sinh nham chứng, hoặc não bộ tật hoạn. Mão Dậu nhị cung an Mệnh, Hỏa Linh đồng độ, thì là tài lợi chi sự mà sinh ý ngoại, tái kiến Vũ Khúc Hóa Kị cùng Kiếp Sát, Âm Sát hoặc Đại Hao đồng độ, thì có đạo kiếp chi tai; Kình Dương đồng độ, chủ do vì tài lợi mà động vũ. Nếu sở hội với Liêm Trinh Hóa Kị, thì ứng với đề phòng huyết quang chi tai, hoặc sinh bệnh động thủ thuật. Do vì tinh diệu cường liệt, cho nên chủ là người tác sự có phách lực có nghị lực, nhưng cũng chủ thanh thiếu niên bất lợi, tất cần phải kinh qua phấn đấu nhiên hậu hữu thành, vưu kì bất khả đầu cơ, ứng với tòng sự công chức, hoặc kinh doanh thật nghiệp, cũng có thể tại tài kinh giới công tác. Mão Dậu cung an Mệnh, Tài bạch cung Liêm Trinh Tham Lang có Lộc Tồn đồng độ hoặc tại đối cung trùng chiếu, cũng có Thiên Mã cùng Cát diệu hội hợp, là hình tượng anh hùng mạt lộ ngộ quý nhân (hình 9), chủ vào trong khốn cảnh đột nhiên phát tích biến thái. Nhưng Mệnh cung hội hợp Hỏa, Linh, Dương, Đà, Không, Kiếp, Hình diệu, thích nghi tòng sự quân cảnh hoặc bảo an công tác. Sát quá nhiều, thì làm đồ tể. Nếu có Văn tinh, hoặc kiến Lộc Quyền Khoa hội, thì thích nghi tác ngoại khoa y sinh; hội Liêm Trinh Hóa Kị, thì là thích nghi với phụ sản khoa. Nếu hội Sát Hình đẳng diệu, kiến Lộc Mã, ngược lại thích nghi kinh thương.

Nữ mệnh Vũ Khúc Thất Sát, thích hợp lập gia đình với người chồng nhiều 8 tuổi trở lên.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung Vũ Khúc Thất Sát, chủ có biến động ở mức độ trọng đại, cát hung cần phải xem xét tường tận tinh diệu sở hội hợp mà xác định. Nếu hóa Kị tinh, thì có nguy hiểm đình chức (cách chức), đảo bế (phá sản). Kiến Sát các sao càng thêm thặng đặng trắc trở, mà lại kiện khang bất giai.

Vũ Khúc độc thủ tại Thìn – Tuất

Vũ Khúc Tham Lang tại Thìn, Tuất nhị cung hội chiếu. Chủ yếu tinh diệu hội hợp mặc dù cùng với Sửu Mùi có Vũ Khúc Tham Lang đồng độ tương đồng, nhưng nguyên nhân do bất hội Phá Quân, cho nên tính chất có cải thiện. Tại phương diện tính cách dung hòa hoặc tương cận, tức cá tính đồng dạng có cảnh trực mà hào sảng, mà lại có tài nghệ, nhưng tại phương diện tế ngộ lại cần một chút thuận toại, thiếu kinh qua một vài ba chiết, đồng thời có sẳn tài nghệ cảm giác dể được mọi người hân thưởng, có thành tựu cũng giác giai. Bất quá nếu Vũ Khúc và Lộc Tồn tương hội, thì với người Sửu Mùi cung an Mệnh đều tương đồng, ngược lại dể biến thành tự tư tự lợi. Vũ Khúc tại Thìn Tuất cung là người “Thiên La Địa Võng”, bởi vậy thường chủ trì phát. Cổ nhân vấn: “Vũ Khúc hội Tham Lang, thiếu niên bất lợi”. Lại vừa nói: “Vũ Khúc mộ trung cư, tam thập tài phát phúc”. Đúng là chỉ trì phát. Xã hội hiện đại cá nhân tòng sự Sự nghiệp giác cổ nhân là vãn, bởi vậy tú phát với niên linh cũng có khả năng tha trì (dây dưa kéo dài), chiếu theo kinh nghiệm của bút giả, có người duyên kéo dài đến gần 40 tuổi về sau mới trác nhiên kiến thụ (tạo lập tài tình), độc giả không ngại tham khảo. Vũ Khúc bất hỉ tại Thiên La Địa Võng Hóa Lộc, hiềm chịu Hóa Lộc với ki mi, làm đời người mất đi hùng tâm tráng chí, vì tiểu danh tiểu lợi mà không tự tiến thủ. Nhưng lại hỉ Hóa Quyền, giúp cho đời người đa nhất điểm biểu hiện. Tại Thiên La Địa Võng, Hóa Quyền cùng ngộ Sát đều có thể thứ kích Vũ Khúc thủ Mệnh với đời người phấn phát đầy triển vọng, có thể là tính chất lại bất tương đồng. Hóa Quyền là người xuất phát về tiến tâm đối với quyền lực tranh thủ, vì vậy mà đời người với các con đường tương đối dể bình thản; nếu ngộ Hỏa Tinh, Kình Dương với thứ kích, thì đời người với đạo lộ dể cảm giác gập ghềnh, tất kinh qua một vài lần ba chiết nhiên hậu hữu thành. Nếu Đà La đồng độ, thì ngược lại đời người dể biến thành dây dưa tằng tịu cẩu thả. Cho nên Vũ Khúc Đà La đồng cung, tối thích nghi lấy chuyên môn kĩ nghệ an thân lập mệnh. Vũ Khúc Hóa Khoa, tại La Võng rất không có lợi ích, kiến Sát diệu đồng độ, chủ có tài nghệ hưng danh. Bất kiến Sát thì thích nghi tòng sự tài kinh công tác. Vũ Khúc tại Thìn Tuất nhị cung, nếu có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc củng hội đồng độ, canh kiến Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa các sao, là tối thượng cách. Hoặc Vũ Khúc Hóa Kị hoặc đối cung Tham Lang Hóa Kị, canh kiến Kình Dương, Đà La các sao, vô Phụ, Tá, Lộc diệu và Thiên Thọ hóa giải, thiếu niên thì có tai bệnh rất nặng, Sát Hung chư diệu hàm tập, Phúc đức cung sở hội tinh diệu lại vừa không tốt đẹp sáng sủa, thì có nguy hiểm yểu chiết. Nếu năng đình thọ, thì trung vãn vận mới có cảm giác thuận toại.

Nữ mệnh Vũ Khúc, bất hỉ người Thiên La Địa Võng. Tuy dù chư Cát tịnh tập, cũng hiềm phu thê cảm tình thiếu ôn nhu thể thiếp (quan tâm chăm sóc), nếu Sát tập Mệnh cung, thiếu niên khảm khả lận đận, mà lại có đọa lạc phong trần hiểm.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Vũ Khúc tọa Thìn Tuất, nói chung, chủ kinh qua khốn nhiễu mà sau đó thuận lợi, cho nên bính đáo sự việc bất như ý, không thể hồi tâm chuyển ý nản lòng. Kiến Vũ Khúc Hóa Kị, đề phòng có tranh tài hoặc tài vật bị trộm. Người tại kinh thương chủ chu chuyển khốn nan.

Vũ Khúc và Phá Quân đồng cung tại Tị – Hợi

Vũ Khúc Phá Quân tại Tị, Hợi nhị cung đồng độ. Cổ nhân đối với kết cấu này rất không nghiêm túc, có kiến giải “Vũ Khúc Phá Quân nan quý hiển”, cái quan điểm này, có thể cùng với kiến giải “Vũ Khúc nhàn cung đa thủ nghệ”, hai cái có liên hệ khởi lai. Phàm người với Vũ Khúc Phá Quân tọa Mệnh, đa hỉ nghiên cứu chuyên môn kĩ năng, cho dù hội hợp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Văn Xương, Văn Khúc, cũng chủ đối với tài kinh sự nghiệp có chuyên môn thậm chí có tri thức về những ngành nghề hiếm lạ, quyết không hội đại hành đại lộ (đi đường bình thường), tòng sự công tác có tính phổ biến. Nếu Mệnh cung có Sát diệu đồng độ, thì càng thích nghi lấy xảo nghệ an thân. Tại cổ đại, người có sẳn chuyên môn tri thức cùng với xảo nghệ, thông thường xã hội địa vị bất cao, vì là thời đại khoa cử, cho nên liền có kiến giải “Nan quý hiển”. Tại hiện tại, nếu Mệnh cung hội hợp Phụ Tá chư diệu, hoặc kiến Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì khả năng là phi hoàng đằng đạt (thăng tiến vù vù) với chuyên nghiệp nhân tài, như công trình sư, lí công khoa giáo thụ, tài kinh giáo thụ, tài kinh chủ quản các loại. Cho dù kiến Sát, cũng có thể bằng kĩ nghệ mưu sinh. Nói chung, người với Vũ Khúc Phá Quân thủ Mệnh không thích nghi kinh thương, nhưng nếu sự nghiệp cung với Tử Vi Tham Lang kiến Lộc Mã, hoặc kiến Hỏa Linh, thì có thể có cơ hội đột phát.

Nữ mệnh Vũ Khúc Phá Quân, chủ có nam tử khí khái, nếu kiến chư Cát canh kiến Thiên Hình, tất là nhân sĩ nổi tiếng xã hội biết danh, nhưng bất lợi hôn nhân.

Đại hạn lưu niên Vũ Khúc Phá Quân, có cơ hội biến động thay đổi. Có hay không có biến động đắc hảo, ứng với xem xét tường tận tinh diệu sở hội Cát Hung mà xác định. Tối úy Hóa Kị, có nguy hiểm đình chức thất nghiệp, canh kiến Kình Dương Thiên Hình, hoặc cần phải động thủ thuật.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)