Chương 12: Cung Mệnh: Thiên Đồng

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không,.v.v…

Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu Thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thiên Đồng và Thái Âm đồng cung tại Tý – Ngọ

Thiên Đồng Thái Âm tại Tý, Ngọ nhị cung đồng độ. Nhưng tại Tý cung nhị diệu đều nhập miếu vượng, tại Ngọ cung thì nhị diệu thất hãm, cho nên tính chất cũng có bất đồng. Thiên Đồng Thái Âm tại Tý cung, nam nữ đều đối với dị tính có hấp dẫn lực, mà tự thân cũng đối với dị tính ôn nhu thể thiếp (quan tâm chăm sóc). Gia tăng thêm cảm tình phong phú của Thái Âm, Thiên Đồng với bản chất ôn văn hữu lễ, cho nên rất dể dàng nhạ khởi cảm tình phiền nhiễu. Vưu kì là nữ tính, Thiên Đồng Thái Âm tọa Mệnh vốn đã chủ thiện trường tu sức mĩ dung, nếu có một hai điểm Sát tinh đồng độ, thì càng cảm giác dung mạo mĩ diễm đoạt mục, sắc da bạch tích (trắng ngần), thể thái phong mãn, cho nên dể hấp dẫn dị tính truy cầu, nếu Phúc đức cung Thái Dương Cự Môn gia thêm Dương, Đà, thì rất dể dàng thất túc sẩy chân sa ngã, đến nỗi nhân duyên bất lợi. Nếu tại Thiên di cung có Kình Dương xung chiếu, do là Kình Dương kích phát, ngược lại chủ là người năng lấy vũ chức vinh thân, thích nghi tòng sự quân cảnh hoặc bảo an công tác. Thiên Đồng Thái Âm tọa Ngọ cung, nếu phùng Sát diệu, cổ nhân nhận xét là chủ “Chi thể doanh hoàng” và “Nam nữ phiêu bồng”. Đây đều do duyên cớ là nhị diệu đồng thời lạc hãm, nếu nhật sinh nhân càng thêm nặng. Nhưng nếu đồng thời có Kình Dương đồng độ, thì đúng là “Mã đầu đái tiễn” đại cách, chủ chưởng ác binh quyền, lập chiến công tại biên vực. Nhưng tất cần phải kinh lịch gian nan hiểm trở về sau mới phú quý. Tại hiện đại, vị tất có cơ hội lập chiến công, nếu tòng sự công nghiệp, cũng có thể bạch thủ hưng gia. Nhưng phải bất tái hội với các Sát diệu khác mới là hợp cách. Nếu kiến Sát Kị, thì nhân sinh càng đa khảm khả trắc trở, mà thành tựu cũng không to lớn như người hợp cách. Thiên Đồng Thái Âm an Mệnh, tất hội Thiên Cơ Thiên Lương, đúng là “Cơ Nguyệt Đồng Lương” cách. Do vì Tài bạch cung tá hội Thái Dương Cự Môn, cho nên ngoại trừ lợi về phục vụ công chức, hoặc tham gia đại cơ cấu đại xí nghiệp công tác, còn đặc biệt lợi về tòng sự cùng với ngoại quốc nhân có liên quan với mọi sự việc, hoặc được ngoại quốc nhân đề bạt. Nếu Lộc Quyền Khoa hội Mệnh cung, mà Thái Dương Cự Môn Hóa Kị kiến Hình diệu các sao, thì có thể trở thành luật sư, hoặc tòng sự ti pháp, lập pháp. Thiên Đồng Hóa Lộc, chủ đời người sinh hoạt an nhàn thoải mái, có sinh hoạt tình thú, nhưng cũng tăng gia lực lượng khốn nhiễu; nếu Thái Âm Hóa Lộc, thì Thiên Đồng tất đồng thời Hóa Quyền, Thiên Cơ tất đồng thời Hóa Khoa, là “Cơ Nguyệt Đồng Lương” đại cách, có thể trở thành chính yếu hoặc xí nghiệp thủ não. Thiên Đồng Hóa Quyền so với Hóa Lộc càng thêm tốt đẹp hơn, giúp cho Thiên Đồng Thái Âm thụ đáo kích phát, sự nghiệp cũng càng dể phát triển, nhân sinh cũng đa thản đồ (bằng phẳng). Nhưng nếu Thái Âm Hóa Quyền, tuy dù giúp cho đời người đa nội tài, thiện quyền biến, có thể là trọn đời có sự nghiệp cũng đa biến động thay đổi.

Nữ mệnh phùng, ứng với cảm giác chủ động xử lí vấn đề theo tình cảm. Thiên Đồng Hóa Kị, tại Tý Ngọ nhị cung không ngại. Thái Âm cũng bất úy tại Tý cung Hóa Kị, duy tại Ngọ cung Hóa Kị thì, nam hay nữ đều đối với nữ thân bất lợi, nhưng lại cũng đối với số lí khoa kĩ có đặc thù thiên tài. Thiên Đồng bất hỉ kiến Hóa Khoa, nếu canh kiến Văn diệu, nhất sinh dể chịu ái tình thống khổ. Nhưng nói về mặt khác, lại cũng rất thích nghi tòng sự văn giáo, văn hóa sự nghiệp. Tòng sự học thuật nghiên cứu, tất cũng có thành tựu.

Đại hạn lưu niên Thiên Đồng Thái Âm Mệnh cung, chủ sự nghiệp có lương hảo biến động, nếu hội Cát diệu, thì động tĩnh đều thích nghi. Kiến tứ Sát, Không Kiếp, thì tiên phá hậu thành.

Thiên Đồng và Cự Môn đồng cung tại Sửu – Mùi

Thiên Đồng Cự Môn tại Sửu, Mùi nhị cung đồng độ. Cự Môn là thị phi khẩu thiệt quấy nhiễu, có Thiên Đồng đồng độ, ưu điểm liền cũng bất năng phát huy, thích nghi tòng sự lấy khẩu tài làm chủ đích công tác, Nữ mệnh thì có thể giáo thụ hóa trang, phát hình, cắm hoa, nấu nướng, tức một loại học vấn lấy khẩu truyền thụ hưởng thụ. Nếu tòng sự hành nghiệp tính chất có bất đồng, thì trọn đời dể chiêu khẩu thiệt. Thiên Đồng Cự Môn tất cần hội hợp Văn Xương Văn Khúc, hoặc Thiên Khôi Thiên Việt, hoặc Tả Phụ Hữu Bật; hoặc Tả Phụ Hữu Bật tại Mệnh cung Tả Hữu tương giáp mà Khôi Việt hội chiếu, thì khả phú khả quý. Thích nghi nhậm công chức giáo chức, hoặc tại đại xí nghiệp, hành nghiệp công tác có tính phục vụ. Cũng có thể tòng sự quảng cáo truyền bá đẳng nghiệp (đặc biệt là phát thanh viên, âm nhạc: vưu kì thị bá âm, âm nhạc hành nghiệp). Duy thiếu niên bất miễn khảm khả trắc trở, nhân sinh cũng bất miễn tương đối tân lao, cần phải phấn đấu nhiên hậu mới có thể hoạch trí thành tựu. Thiên Đồng Cự Môn tọa Mệnh, có một cái cách cục đặc thù, là Đinh niên sinh nhân, đồng cung Địa Kiếp, nguyên nhân vì Đinh niên sinh nhân Kình Dương tại Mùi, tức có Kình Dương và Địa Kiếp đồng cung hoặc hội chiếu nhất là do vì Tài bạch cung vô chính diệu, cần phải tá nhập từ đối cung với Thái Dương Thiên Lương, cho nên toàn bộ cả tinh hệ kết cấu, liền biến thành là Thiên Đồng Cự Môn, Thái Dương Thiên Lương, Thiên Cơ, Kình Dương, Địa Kiếp với hành nghiệp, xã hội công tác, giáo dục giới, hoặc truyền bá giới nhân sự, có thể trở thành lĩnh đạo nhân vật. Nếu Mệnh cung có Đào hoa hoặc Văn diệu, thì có thể tòng sự âm nhạc biểu diễn, hoặc tại văn hóa giới thành danh. Ngoài ra còn có một cái kì cách. Tại Mùi cung an Mệnh, vô chính diệu, tá Sửu cung với Thiên Đồng Cự Môn để sử dụng, xưng là “Minh châu xuất hải cách”. (Nếu Sửu cung vô chính diệu, tá Mùi cung Thiên Đồng Cự Môn các sao bất nhập vào cách này) Cổ nhân nhận xét là “Minh châu xuất hải, tài quan song mỹ”. (Hình 12) tinh diệu tại cung này, đắc Thái Âm Thái Dương hội chiếu, lại vừa có Thiên Lương ảnh hưởng đến tính chất của Cự Môn, đem thị phi khẩu thiệt tranh tụng hóa làm đối với học thuật có thâm khắc tham khảo (Tham khảo học vấn thật ra cũng đúng là thị khẩu thiệt và tranh tụng, cổ nhân xưng là “Tự tụng”, nguyên nhân là cần phải thâm nhập nghiên cứu đào sâu thấu đáo vào một môn học vấn, tất cần phải tự mình ngày ngày hỗ tương giao tranh, nhiên hậu học vấn mới có tiến bộ), đem tinh hệ tính chất này thỏa làm lợi dụng, có thể danh dự chương hiển, làm mọi người tán tụng. Nhưng “Minh châu xuất hải” canh kiến Tả Phụ Hữu Bật giáp Sửu cung hoặc Mùi cung, ngộ Văn Xương Văn Khúc, Thiên Khôi Thiên Việt, cách cục càng thêm tốt đẹp; Ất, Đinh, Tân, Quý niên sinh nhân đặc biệt tốt đẹp (vưu giai), cục diện sự nghiệp rất to lớn. Thiên Đồng Hóa Lộc, tăng gia hưởng thụ; Cự Môn Hóa Lộc, tăng gia thu nhập; nếu Thiên Đồng Hóa Quyền, thì tất hội Thiên Cơ Hóa Khoa cùng Cự Môn Hóa Kị, tuy trạng thái hôn nhân cải thiện, nam phong đắc hiền mĩ chi thê, nữ chủ đắc tài cán chi phu, nhưng tự thân thì đa khẩu thiệt thị phi; Cự Môn Hóa Quyền, tăng gia thuyết phục lực, mà lại tiêu giảm thị phi khẩu thiệt tính chất. Nếu là “Minh châu xuất hải cách” mà Cự Môn Hóa Quyền, thì là ưu tú với ti nghi (nghề MC) hoặc pháp luật nhân tài, rất thích nghi đối với công chúng phát biểu ý kiến. Thiên Đồng Hóa Kị, tăng gia tân lao đời người.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Thiên Đồng Cự Môn, cũng chủ tân lao thị phi, kiến Sát Hình Kị diệu hội chiếu càng thêm nặng. Thích nghi có Phụ Tá cát diệu phù trì. Nếu kiến “Minh châu xuất hải”, thì tất có thăng thiên chi cát, hoặc phúc lộc hỉ khánh trùng lai.

Thiên Đồng và Thiên Lương đồng cung tại Dần – Thân

Cũng là “Cơ Nguyệt Đồng Lương” cách cục. Nhưng mặc dù “Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân”, “Lại nhân” có tính chất lại ứng với chức vụ “Tuần lại” mà không phải là ác lại. Do vì nhị diệu đồng cung, chủ là người phẩm đức cao thượng, nội viên ngoại phương (trong tròn ngoài vuông), tâm tính ôn hòa thiện lương, cho dù Ác diệu Sát diệu tương gia, cũng bất quá trọn đời đa tao ngộ cần phải hóa giải khốn nan mà thôi, tịnh bất chủ phẩm cách đời người biến đổi hư hoại. Hỉ ngộ Phụ, Tá cát diệu, nhưng lại bất hỉ Lộc Tồn, Hóa Lộc cùng Thiên Mã. Người vô Lộc Mã có thể tòng sự văn hóa, truyền bá, quảng cáo sự nghiệp, cũng thích nghi công tác phục vụ xã hội; người có Lộc Mã thì có thể tòng sự ngu nhạc (vui chơi giải trí) sự nghiệp, duy dể cùng với dị tính phát sinh khắc cốt minh tâm, nhưng lại bất năng kết hợp với luyến tình. Thiên Đồng Hóa Lộc hoặc Thiên Lương Hóa Lộc, dể tăng gia về cảm tình với vô vị khốn nhiễu.

Nữ mệnh đặc biệt bất lợi, hội cả đời tích thành khổ luyến, nhưng mà lại chủ sự nghiệp tiến triển, kinh qua nhất phiên ma luyện, tức có đột phát biểu hiện; Thiên Đồng Hóa Quyền hoặc Thiên Lương Hóa Quyền cũng chủ tình cảm khốn nhiễu, duy thích nghi tòng sự phục vụ tính công tác, mà lại vô sự mang lực bận rộn; Thiên Lương Hóa Khoa, thì thích nghi tòng sự văn hóa công tác, hoặc ti vi nghệ viên, điện ảnh minh tinh, nguyên nhân là dể đắc nổi tiếng biết danh, mà lại thích hợp lộ diện. Nhưng Hóa Khoa cũng chủ tăng gia cảm tình khốn nhiễu. Nếu Thiên Đồng Hóa Kỵ, tái kiến Hình diệu, thích nghi tòng sự giám sát, kỉ luật công tác. Duy nam hay nữ đều hôn nhân bất lợi.

Đại hạn lưu niên kiến Thiên Đồng Thiên Lương, Không Kiếp, Sát diệu, Hình Hao các sao tịnh tập, chủ tai bệnh hoặc quan phi, hoặc thậm chí có hình khắc lục thân, xí nghiệp phá sản các sự việc; kiến Phụ Tá cát diệu, thì đa tân cơ hội, mà chủ tăng thêm nhân khẩu, tài hỉ điệp điệp trùng trùng. Nếu kiến Đào hoa chư diệu, thì đem sản sinh cơ luyến.

Thiên Đồng độc thủ tại Mão – Dậu

Thiên đồng tại Mão, Dậu nhị cung độc tọa, đối cung là Thái Âm, tính chất cơ bản cùng với Thiên Đồng Thái Âm đồng độ tương đồng, nhưng bất thích nghi kiến Kình Dương đồng độ, chủ thân thể thương tàn. Nếu kiến Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, chủ là người tính hảo văn nghệ, tái hội Đào hoa chư diệu, thì càng thích nghi tòng sự diễn nghệ, đặc biệt là thích nghi ca xướng biểu diễn. Thiên Đồng tại Mão, Dậu cung hỉ kiến Lộc, vô luận Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, cùng chủ nhân sinh với cảnh ngộ bình thuận, có thể du nhàn hưởng thụ.

Nữ mệnh tuy hỉ mĩ dung đả phẫn trang sức, nhưng cảm tình không dể chịu khốn nhiễu. Duy nếu Đào hoa chư diệu tại Mệnh cung đồng độ, thì tất nhạ du phong lãng điệp. Thiên Đồng Hóa Lộc, có thể tăng gia tài lộc hưởng thụ; Hóa Quyền thì sự nghiệp đa biểu hiện; Hóa Khoa tăng gia thanh dự, tối thích nghi với người biểu diễn công tác, Nữ mệnh Thiên Đồng tại Mão Dậu nhị cung Hóa Khoa, diễm lệ dị thường.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung Thiên Đồng độc tọa Mão Dậu, chủ bình đạm mà hưởng thụ. Nếu hóa Kị tinh, thì chủ (trụ trạch) nhà ở hoặc (bạn công thất trang) nơi làm việc tu sửa hoặc bàn thiên (chuyển đổi). Sát Kị Hình diệu tất tập, thì nguyên nhân là hưởng lạc buông thả (giải đãi) mà chiêu vưu oán; nếu thêm Đào hoa biến tập, đề phòng hệ thống sinh thực tật bệnh; vô Đào hoa giả thì đề phòng can khí tật hoạn (bệnh gan).

Thiên Đồng độc thủ tại Thìn – Tuất

Thiên Đồng tại Thìn, Tuất nhị cung độc tọa, đối cung tất có Cự Môn lai hội, tính chất cơ bản cùng với Thiên Đồng Cự Môn đồng độ tương đồng. Tính chất chủ yếu là thị phi khẩu thiệt. Hóa giải chi đạo, là tòng sự công tác có tính chất khẩu thiệt, như giáo sư, thôi tiêu, công quan, truyền bá đẳng hành nghiệp. Có thể đây là chủng loại kết cấu tinh hệ “Cơ Nguyệt Đồng Lương đối Cự Môn” biến cách, vẫn tiếp tục có chứa sắc thái làm xã hội phục vụ và đảm nhậm công chức, cho nên dù Hóa Lộc hội Lộc, vẫn tiếp tục không thích nghi tòng kinh thương. Tối hỉ Đinh niên sinh nhân, cổ nhân nói “Thiên Đồng Tuất cung vi phản bối, Đinh nhân Hóa cát chủ đại quý”, kì thật Thìn cung cũng xác định như thế. Tại Thìn cung, Đinh niên sinh nhân, là Thiên Đồng Hóa Quyền, Thái Âm Hóa Lộc, Thiên Cơ Hóa Khoa, Cự Môn Hóa Kị hội hợp, nếu tòng sự chính trị, hoặc đảm nhậm đại xí nghiệp chức vụ, chủ kinh lịch gian tân mà có thành tựu rất cao, cho dù gia Sát, cũng có thể tòng sự giáo dục, văn hóa công tác, tất danh lợi tề lai. Tại Tuất cung, ngoại trừ liễu Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị tất tập, Thiên Lương canh đắc Lộc Tồn đồng độ, cho nên ban đầu với cảnh ngộ của đời người so với người Thìn cung an Mệnh càng thêm gian khổ hơn, có thể là trung niên về sau có thành tựu lại cũng không phải Thìn cung có thể nghĩ là so sánh, đây là phủ cực thái lai Mệnh cục.

Nữ mệnh tại cảm tình khốn nhiễu, không nặng như người Thiên Đồng Cự Môn đồng độ, cho dù ngộ Sát, sản sinh khổ luyến, tối hậu cũng trải qua nhiều loại biến thiên mà đắc chính thức kết hợp.

Bản cung ngoài tính chất này, cùng với đại hạn lưu niên vận trình, có thể tham khảo “Thiên Đồng Cự Môn” nhất tiết.

Thiên Đồng độc thủ tại Tị – Hợi

Thiên Đồng tại Tị, Hợi nhị cung đồng độ, đối cung tất là Thiên Lương. Cho nên tính chất cơ bản cùng với “Thiên Đồng Thiên Lương” tương đồng. Thiên Đồng tối hỉ cư Hợi cung, kì thứ là Tị cung, có thể giúp cho trọn đời người đa hưởng thụ. Nhưng như quả không có Phụ, Tá cát diệu lai hội chiếu, lại vừa bất kiến Lộc, thì khả năng là sự nghiệp bình phàm, thu nhập bình hành lại cũng là người thích hưởng thụ. Tài nghiệp bất túc để duy trì hưởng lạc, đang ở chổ thuận cảnh, thấy ngay nghịch cảnh, cho dù có khả năng trở thành người phó mặc cho trời định đoạt (thính thiên do Mệnh), ảnh hưởng sự nghiệp trọn đời. Cho nên người có “Thiên Đồng Thiên Lương” đồng cung, do vì tâm lí hưởng thụ không mạnh bằng người có Thiên Đồng độc tọa Tị Hợi, bởi vậy cũng thiếu đi một chút sắc thái lưu li lãng đãng. Tại bản cung, bất phạ kiến Sát. Cổ nhân nói: “Phúc tinh độc tọa, kiến Sát phản vi nam”, tức chính là chỉ chủng loại kết cấu tinh hệ này, nguyên nhân là Sát tinh trái lại năng giảm thiểu bản chất hưởng lạc của Thiên Đồng, giúp cho đời người tăng thêm tiến thủ; chủ lực. Tốt đẹp nhất cho tổ hợp tinh hệ chính là: Thiên Khôi Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, sơ lược kiến Hỏa, Linh, Dương, Đà, Không, Kiếp nhất nhị điểm Sát diệu, thì ngược lại định chủ quý hiển. Thiên Đồng tái hóa Lộc tinh, thì kí quý thả phú. Tòng sự chính phủ chức vụ, hoặc công dụng phục vụ xí nghiệp, có thể trở thành hành chính chủ quản. Nếu đối cung với Thiên Lương cùng Thiên Hình, Kình Dương hội chiếu Mệnh cung, thì rất tốt làm ngoại khoa, nhi khoa y sư. Nhưng Thiên Đồng tại Hợi, lại tối phạ Hóa Kị, nếu hội Sát, Hình, Không Kiếp chư diệu bang đa với tứ điểm trở lên, cổ nhân xưng là nô tì chi Mệnh, phục vụ xã hội với tính chất chuyển hóa thành lực thay nhân tác giá (làm dâu trăm họ), hoặc trở thành chuyên chịu mọi người sai khiến. Cổ nhân nói: “Thiên Đồng tại Hợi, tối úy Kị tinh chí, nam nữ nô tì”, đây chính là chỉ chủng loại kết cấu tinh hệ này. Người tại Tị cung an Mệnh giác cát, có Phụ, Tá cát diệu hóa giải cũng cát. Nhưng vô luận người tại Tị Hợi lưỡng cung an Mệnh, nếu kiến Sát Hình Hung diệu các sao tại tứ điểm trở lên, thì có chổ chung thân tàn tật, hoặc trọn đời đa chủ cô khắc.

Nữ mệnh Thiên Đồng tọa Tị, Hợi, chủ ngạch cao tị trực (trán cao mũi thẳng), thân thể năng phong doanh thích hợp, dung mạo mĩ lệ, cho nên dể chiêu dị tính truy cầu, hôn hậu vẫn đa phong dẫn dụ, nếu thất túc sa ngã, chung thân hôn nhân bất hạnh.

Ngoài ra với tính chất kiến Hóa diệu, cùng với đại vận lưu niên cát hung, có thể tham khảo “Thiên Đồng Thiên Lương” nhất tiết.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)