Chương 17: Cung Mệnh: Cự Môn

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không,.v.v…

Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu Thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Cự Môn độc thủ tại Tý – Ngọ

Cự Môn tại Tý, Ngọ cung độc tọa, đối cung phải là Thiên Cơ. Tên là “Thạch trung ẩn ngọc” cách. “Thạch trung ẩn ngọc” có ý tứ, là chỉ người có tài năng nhưng không biểu lộ ra ngoài, nhưng cũng có thể biểu hiện khi có cơ hội hay có việc quan trọng thì sẽ xuất đầu lộ diện. Nhất là đồi với Nữ mệnh, thoạt nhìn ban đầu thì không thấy tốt đẹp nhiều, nhưng nhìn lâu nhìn kỹ thì mới phát hiện ra sự mĩ diễm tốt đẹp không có vật gì có thể so sánh được. Cái cổ nhân trọng là “Nam tài nữ mạo”, cách “Thạch trung ẩn ngọc” với ý nghĩa là như vậy.

Chính là giống như cách cục “Thạch trung ẩn ngọc”, cũng có phân biệt cao thấp. Với Cự Môn Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền là thượng cách; Lộc Tồn đồng cung là thứ cách kế tiếp sau thượng cách. không Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn nhưng gia hội Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt cũng là thứ cách sau cùng. Nếu cát Hóa, Lộc Tồn, Cát diệu cũng bất kiến, mà ngược lại kiến Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, thì là phá cách.

“Thạch trung ẩn ngọc” với thượng cách, thích nghi dấn thân theo sự nghiệp pháp luật, ngoại giao, truyền bá các giới, có thể lấy khẩu tài để tranh giành phú quý. Thứ cách kế tiếp sau thượng cách cùng với thứ cách sau cùng, cũng lợi khi dấn thân theo sự nghiệp với các công việc phát huy khẩu tài, có thể có thành tựu; nếu Sát tinh hỗn tạp trộn lẫn, cũng không ảnh hưởng đến sự thành công của sự nghiệp, bất quá chỉ là khi phát triển thì bị nhiều thử thách trục trặc, mà thành tựu cũng vừa phải mà thôi.

Với phá cách, chủ đời người gặp cảnh ngộ đa khốn, tức phú quý cũng không bền vững. Lại kiến thêm Cự Môn Hóa Kị, Mệnh cung tại Tý cung thì không kị, khi phát triển thì đụng đến thử thách trục trặc, sau khi giải quyết xong thì càng tăng thêm sự vinh quang sự lẫy lừng; nhưng Mệnh cung tại Ngọ cung thì suốt cả cuộc đời nhiều khẩu thiệt thị phi.

Phàm với cách “Thạch trung ẩn ngọc”, bất kể phú quý như thế nào, suốt cả cuộc đời cũng không thích nghi với vị trí tối cao. Một khi đã ngồi ở vị trí cao nhất thì sẽ bị mất ghế, lập tức trở thành mục tiêu để mọi người chỉ trích, nhưng nếu nổ lực cố gắng chu toàn, ngược lại càng chiêu thêm sự nghiêm trọng về thị phi. Không bằng như dấu bớt tài nghệ đi, lại có thể đạt được địa vị và tài phú.

Cự Môn và Thiên Đồng đồng cung tại Sửu – Mùi

Thiên Đồng Cự Môn tại Sửu, Mùi nhị cung đồng độ. Cự Môn là thị phi khẩu thiệt quấy nhiễu, có Thiên Đồng đồng độ, ưu điểm liền cũng bất năng phát huy, thích nghi tòng sự lấy khẩu tài làm chủ đích công tác, Nữ mệnh thì có thể giáo thụ hóa trang, phát hình, cắm hoa, nấu nướng, tức một loại học vấn lấy khẩu truyền thụ hưởng thụ. Nếu tòng sự hành nghiệp tính chất có bất đồng, thì trọn đời dể chiêu khẩu thiệt. Thiên Đồng Cự Môn tất cần hội hợp Văn Xương Văn Khúc, hoặc Thiên Khôi Thiên Việt, hoặc Tả Phụ Hữu Bật; hoặc Tả Phụ Hữu Bật tại Mệnh cung Tả Hữu tương giáp mà Khôi Việt hội chiếu, thì khả phú khả quý. Thích nghi nhậm công chức giáo chức, hoặc tại đại xí nghiệp, hành nghiệp công tác có tính phục vụ. Cũng có thể tòng sự quảng cáo truyền bá đẳng nghiệp (đặc biệt là phát thanh viên, âm nhạc: vưu kì thị bá âm, âm nhạc hành nghiệp). Duy thiếu niên bất miễn khảm khả trắc trở, nhân sinh cũng bất miễn tương đối tân lao, cần phải phấn đấu nhiên hậu mới có thể hoạch trí thành tựu. Thiên Đồng Cự Môn tọa Mệnh, có một cái cách cục đặc thù, là Đinh niên sinh nhân, đồng cung Địa Kiếp, nguyên nhân vì Đinh niên sinh nhân Kình Dương tại Mùi, tức có Kình Dương và Địa Kiếp đồng cung hoặc hội chiếu nhất là do vì Tài bạch cung vô chính diệu, cần phải tá nhập từ đối cung với Thái Dương Thiên Lương, cho nên toàn bộ cả tinh hệ kết cấu, liền biến thành là Thiên Đồng Cự Môn, Thái Dương Thiên Lương, Thiên Cơ, Kình Dương, Địa Kiếp với hành nghiệp, xã hội công tác, giáo dục giới, hoặc truyền bá giới nhân sự, có thể trở thành lĩnh đạo nhân vật. Nếu Mệnh cung có Đào hoa hoặc Văn diệu, thì có thể tòng sự âm nhạc biểu diễn, hoặc tại văn hóa giới thành danh. Ngoài ra còn có một cái kì cách. Tại Mùi cung an Mệnh, vô chính diệu, tá Sửu cung với Thiên Đồng Cự Môn để sử dụng, xưng là “Minh châu xuất hải cách”. (Nếu Sửu cung vô chính diệu, tá Mùi cung Thiên Đồng Cự Môn các sao bất nhập vào cách này) Cổ nhân nhận xét là “Minh châu xuất hải, tài quan song mỹ”. (Hình 12) tinh diệu tại cung này, đắc Thái Âm Thái Dương hội chiếu, lại vừa có Thiên Lương ảnh hưởng đến tính chất của Cự Môn, đem thị phi khẩu thiệt tranh tụng hóa làm đối với học thuật có thâm khắc tham khảo (Tham khảo học vấn thật ra cũng đúng là thị khẩu thiệt và tranh tụng, cổ nhân xưng là “Tự tụng”, nguyên nhân là cần phải thâm nhập nghiên cứu đào sâu thấu đáo vào một môn học vấn, tất cần phải tự mình ngày ngày hỗ tương giao tranh, nhiên hậu học vấn mới có tiến bộ), đem tinh hệ tính chất này thỏa làm lợi dụng, có thể danh dự chương hiển, làm mọi người tán tụng. Nhưng “Minh châu xuất hải” canh kiến Tả Phụ Hữu Bật giáp Sửu cung hoặc Mùi cung, ngộ Văn Xương Văn Khúc, Thiên Khôi Thiên Việt, cách cục càng thêm tốt đẹp; Ất, Đinh, Tân, Quý niên sinh nhân đặc biệt tốt đẹp (vưu giai), cục diện sự nghiệp rất to lớn. Thiên Đồng Hóa Lộc, tăng gia hưởng thụ; Cự Môn Hóa Lộc, tăng gia thu nhập; nếu Thiên Đồng Hóa Quyền, thì tất hội Thiên Cơ Hóa Khoa cùng Cự Môn Hóa Kị, tuy trạng thái hôn nhân cải thiện, nam phong đắc hiền mĩ chi thê, nữ chủ đắc tài cán chi phu, nhưng tự thân thì đa khẩu thiệt thị phi; Cự Môn Hóa Quyền, tăng gia thuyết phục lực, mà lại tiêu giảm thị phi khẩu thiệt tính chất. Nếu là “Minh châu xuất hải cách” mà Cự Môn Hóa Quyền, thì là ưu tú với ti nghi (nghề MC) hoặc pháp luật nhân tài, rất thích nghi đối với công chúng phát biểu ý kiến. Thiên Đồng Hóa Kị, tăng gia tân lao đời người.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Thiên Đồng Cự Môn, cũng chủ tân lao thị phi, kiến Sát Hình Kị diệu hội chiếu càng thêm nặng. Thích nghi có Phụ Tá cát diệu phù trì. Nếu kiến “Minh châu xuất hải”, thì tất có thăng thiên chi cát, hoặc phúc lộc hỉ khánh trùng lai.

Cự Môn và Thái Dương đồng cung tại Dần – Thân

Thái Dương và Cự Môn tại Dần, Thân nhị cung đồng độ. Cự Môn là Ám diệu, cần phải được quang huy Thái Dương tiến hành thêm vào chiếu diệu, nhưng sau đó có thể giải kì ám. Tại Dần cung, Thái Dương là Nhật húc đông thăng; tại Thân cung, Thái Dương gần với Nhật lạc tây sơn, cho nên tinh hệ tại lưỡng cá cung vị, dể không có cùng tính chất. Tại Dần cung, dương quang sơ lộ, cho nên mặc dù tiền đồ tương lai viễn đại rộng lớn, nhưng lại cũng nan miễn phải kinh qua một phiên giãy dụa vẫy vùng vật lộn, vưu kì đúng là chịu ảnh hưởng của Cự Môn, sở đắc lợi ích và danh dự, sự nghiệp, cùng có hiện tượng trì đắc trì phát, cảnh già tương đối khoan thai dịu dàng (vãn cảnh bỉ giác ưu nhu). Tại Thân cung, dương quang đã bắt đầu chuyển nhược, chịu ảnh hưởng của Cự Môn, liền dể nan miễn có hiện tượng không thể tiếp tục được nữa, cho nên nhân sinh dù có một đoạn thời khắc huy hoàng, cần phải chú trọng là làm thế nào để duy trì bảo thái tốt đẹp, nỗ lực ngoan cường không lùi bước. Theo phương diện tính cách mà nói, với người Dần cung an Mệnh có phách lực, xử sự ổn trọng, có lí tưởng hơn nữa năng vì lí tưởng mà nỗ lực; với người tại Thân cung an Mệnh, thì dường như là hữu đầu vô vĩ, xử sự thiếu nghị lực, nhưng là người hiền lành tùy hòa, về cảm tình dường như hồn nhiên ngây thơ thiện chân. Cho nên với người Dần cung an Mệnh có thể tòng sự pháp luật, chính trị, hoặc học thuật nghiên cứu; mà với người Thân cung an Mệnh, thì thích nghi tòng sự công quan, truyền bá, thôi tiêu, và công tác giáo dục. Vô luận tại Dần cung hoặc Thân cung, đều hỉ Thái Dương Hóa Lộc, người tại Thân cung dù có cảm giác tân lao, nhưng vẫn chủ tài bạch hanh thông, vưu kì lợi về dựa vào khẩu tài để cầu tài. Thái Dương Hóa Khoa thì chủ danh dự chiêu chương, Dần cung so với Thân cung là có lợi hơn. Cự Môn Hóa Quyền thì khả tăng gia tăng tính quyền uy cho ngôn ngữ. Nhưng Thái Dương Hóa Kị cùng Cự Môn Hóa Kị, thì chủ là người hỉ dĩ hạ phạm thượng, cùng với tôn thân là nam tính hoặc thượng ti bất hòa. Nếu gia tăng Tứ sát, càng chủ thị phi khẩu thiệt. Vưu kì là khi hội hợp Thiên Hình, Kình Dương, càng thêm bị liên quan liên lụy đến tranh tụng (canh khủng khiên thiệp từ tụng).

Nữ mệnh Dần Thân nhị cung đều dể có cảm tình tỏa chiết, vưu dĩ tọa Thân cung thì có khả năng trượt chân sa ngã lỡ lầm, với người lấy trì hôn là thích nghi.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Thái Dương Cự Môn, kiến Cát diệu thì sự nghiệp phát triển, kiến Hung diệu thì lí tưởng bất năng thật hiện.

Cự Môn và Thiên Cơ đồng cung tại Mão – Dậu

Thiên Cơ Cự Môn tại Mão, Dậu nhị cung đồng độ. Đây là cái tổ hợp có một cái đặc điểm, tức là Sự nghiệp cung vô chính diệu, tất cần phải tá nhập tinh diệu từ Phu thê cung (hình 4). Bởi vậy, Tam phương Tứ chính tự biến thành đúng là tổ hợp Thiên Cơ Cự Môn, Thái Âm Thái Dương cùng Thiên Đồng. “Trung Châu Phái” sở truyền, có một cái “Âm Dương Đồng Cơ Cự” tinh hệ, bản cung tức là chủng loại kết cấu này. Cái tổ hợp này với đặc sắc, chủ là người khẩu thiệt tiện cấp, phản ứng mẫn duệ, nhưng tố sự lại tán (lười biếng), dể dàng hữu đầu vô vĩ. Hơn nữa chịu ảnh hưởng của Thái Âm Thái Dương, nhân tình cũng hốt lãnh hốt nhiệt, kiêm mà lại khí lượng hiệp ải (hẹp hòi). Chủng loại Mệnh cục này, tối bất nghi kiến Sát Kị chư diệu, tuy dù phú quý cũng bất nại cửu, kị kiến Kình Dương, Đà La, đa bối diện thị phi, hơn nữa tảo vận khảm khả, thối thứ tổ nghiệp. Nữ mệnh bất lợi hôn nhân, dể phùng cảm tình tỏa chiết. Thiên Cơ Hóa Lộc, đắc tài tất phí thần thiệt; nếu Thiên Cơ Hóa Quyền, thì kinh lịch gian tân mà sự nghiệp hữu thành, tối lợi tòng sự công vụ, hoặc phục vụ tại đại xí nghiệp, nhưng nếu kinh thương, ba chiết tất đại. Nếu Thiên Cơ Hóa Khoa, thì vẫn chủ gian tân, nhưng có lợi về cạnh tranh, hơn nữa thường có thể vì nguyên nhân tân lao sách hoa mà đắc hưởng danh dự.

Nếu Cự Môn Hóa Lộc, chủ là người khẩu thiệt tiến tài, tuy dù đái phù hoạt, nhưng vẫn thích nghi tòng sự truyền bá sự nghiệp; Cự Môn Hóa Quyền, có sẳn thuyết phục lực. Tại bản cung thủ Mệnh giúp tăng gia xã hội địa vị, có thể nguyên nhân vì trung thành công tác mà chưởng quyền. Nhưng nếu Thiên Cơ Hóa Kị, hoặc Cự Môn Hóa Kị, thì chủ là người đa vô vị với tư lự, mà lại tác sự do dự, thường dể lỡ mất cơ duyên, đến nỗi cảm đáo hoài tài bất ngộ. Thiên Cơ thường mang đến cơ hội trong thoáng chốt tức thì, không chú ý nắm chắc thành công (bả ác), không thể quyết đoán kịp thời (đương cơ lập đoán bất khả). Thiên Cơ Cự Môn đồng cung, kiến Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, hoặc đối cung kiến Lộc Tồn, nếu vô Sát diệu, cùng chủ sự nghiệp có biểu hiện, được người khác đề bạt, địa vị sùng cao. Nếu kiến Sát diệu thì bình thường, duy vẫn có địa vị nhất định. Nhưng như vô Cát diệu, chư Sát tịnh thấu, thì bình sinh tất có hiểm trở.

Nữ mệnh Thiên Cơ Cự Môn, cũng bất nghi Hóa Kị, không thì dể dàng thất túc (sẩy chân sa ngã), hơn nữa hoan hỷ ngoạn hỏa (đùa với lửa). Nếu Mệnh cung tại Mão, tá nhập Dậu cung với Thiên Cơ Cự Môn; hoặc Mệnh cung tại Dậu, tá nhập Mão cung với Thiên Cơ Cự Môn, thì sở hội hợp không thật đúng là Thái Âm, Thái Dương, Thiên Lương, tính chất liền có biến hóa. Chủ yếu với phân biệt, đúng là càng thêm lợi phát huy khẩu tài; Tố sự càng thêm có điều lí, nhưng cũng có sẳn nội tài, có quyền thuật, mà cảm tình phương diện thì tương đối đạm bạc.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Thiên Cơ Cự Môn, như vô Cát diệu hội hợp, chủ khẩu thiệt thị phi phiền nhiễu. Canh kiến Sát Kị, thì chư đa bất trữ (không yên), xử sự đa biến, đến nỗi ưu tâm xung xung (tiều tụy). Nếu kiến Phụ Tá chư cát, thì thích nghi biến động. Kiến Lộc Tồn Thiên Mã, lợi biến động để cầu tài.

Cự Môn độc thủ tại Thìn – Tuất

Cự Môn tại Thìn, Tuất nhị cung độc tọa, đối cung phải là Thiên Đồng. Tại hai cái cung độ này, đều là các kì cách. Cự Môn tọa Thìn, Hóa Lộc; và Văn Xương đồng độ, nhưng Văn Xương Hóa Kị, đây chính là kỳ cách đại phú đại quý. Còn đây lại triều độ từ Tuất cung với Thiên Đồng có tác dụng hóa giải Văn Xương Kị tinh. Duy chỉ với người sinh năm Tân là có cách này. Bí nói: “Cự Môn Thìn cung vi hãm địa, Tân nhân Mệnh ngộ phản vi kì”, đây chính là chỉ về cái cách cục này.

Nếu Cự Môn tọa Tuất, có Văn Xương đồng độ, người sinh năm Tân cũng đều có Hóa Lộc, Hóa Kị, duy chỉ Thìn cung với Thiên Đồng, Hóa Kị có tác dụng với lực yếu, cho nên không bằng như người có Mệnh an tại Thìn cung. Nhưng tại Tuất cung an Mệnh, Cự Môn Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc, cũng là kì cách (không cần kiến Văn Xương đồng độ), đây là cái Thái Dương tại Ngọ, Nhật lập trung thiên, có thể tiêu giải cái âm ám của Cự Môn. Cách tốt đứng thứ nhất duy chỉ với người sinh năm Quý, hoặc người sinh năm Tân. Bí nói: “Tuất cung Cự Môn vi hãm địa, Quý Tân nhân ngộ phản vi kì”, tức là chỉ chủng loại kết cấu này. Người có Mệnh an tại Thìn cung là không đúng chổ, bởi vì sở hội với Thái Dương lạc hãm.

Ngoại trừ hai cái cách cục này ra, do tại Thìn cung cùng với Tuất cung làm Tham Lang Cự Môn hãm địa, lại là Thiên La Địa Võng, cho nên các tinh diệu khác rất khó phối hợp. Sát diệu có thể sinh kích phát lực, nhưng với Cự Môn bị lạc hãm phùng Sát diệu, chủ suốt cả đời người nhiều thị phi khẩu thiệt; Tứ Sát tịnh chiếu, thì quan tụng hung hiểm liên miên. Phụ Tá cát diệu hội hợp, có thể giảm thiểu thị phi khẩu thiệt hung nguy, nhưng cũng làm cho người dể chịu ki mi, không thể thoát khỏi la võng, bởi vậy sự phát triển của đời người cũng chỉ có hạn.

Căn cứ vào những nhân tốt kể trên, nói chung kiến Sát diệu thì có lợi khi dấn thân theo nghiệp bán hàng, để lợi dụng kích phát lực cạnh tranh của Sát diệu; Hội Phụ Tá cát diệu thì thích nghi dấn thân theo sự nghiệp giáo chức, để bảo vệ duy trì sự an định.

Cự Môn Hóa Kị, mừng nhất là có một hai Sát diệu đồng độ hoặc thấu hợp, thì cũng có thể khiến cho Kị tinh thêm đắc dụng, mà ngược lại đời người được an định. Nếu có Sát diệu, nhưng còn thêm Hóa Quyền, Hóa Lộc, thì dể không biết tiến không biết thoái, chần chừ do dự không quyết định, mà ngược lại tự chiêu khốn cảnh.

Cự Môn tọa Mệnh tại Thìn, Tuất nhị cung, thường thường chủ từ Mệnh cung bắt đầu tính toán đi tới đại hạn thứ tư, hào quang mới có thể phát mạnh.

Cự Môn độc thủ tại Tị – Hợi

Cự Môn tại Tị, Hợi nhị cung độc tọa, đối cung phải là Thái Dương. Tại Tị cung thì, Thái Dương tại Hợi cung là lạc hãm; tại Hợi cung thì, Thái Dương tại Tị cung là thừa vượng, Cự Môn nhờ vào Thái Dương hóa giải âm ám, cho nên Tị cung với Cự Môn không bằng như Hợi cung với Cự Môn.

Tị cung an Mệnh, do từ đối cung có Thái Dương lạc hãm vô lực, cho nên lúc nhỏ tức bất lợi cho phụ mẫu. Kiến Địa Không, Địa Kiếp đồng độ càng thêm nặng, khả năng sinh ra người nam thì phụ mẫu không còn nguyên vẹn (nam xuất sinh tức tao phụ mẫu di tề tức bất nhiên), cũng chủ tuổi nhỏ đã khóc thương phụ thân, cần phải đề phòng sự việc xảy ra mới có thể tránh được; nghĩa là hoặc tự ti nhỏ tuổi mang nhiều tai họa bệnh tật, làm cho phụ mẫu lo âu.

Người có Cự Môn thủ Mệnh tại Tị cung, tuy thiếu niên có tai nạn bệnh tật hoặc khảm khả lận đận long đong, nhưng vẫn có thể học tập chuyên môn đặc biệt hoặc nghệ thuật biểu diển để mưu sinh, khả năng chịu tân lao, thì nhưng vẫn có khả năng mở một đường máu để tồn tại (sát xuất nhất điều huyết lộ). Nếu có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ tính tình cần kiệm chất phác, cũng có thể giàu có; nhưng Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền, thì chủ là người có lực khai sáng lớn mạnh, bằng trí thức chuyên nghiệp tạo lập được sự nghiệp vĩ đại, địa vị xã hội cũng cao.

Người có Cự Môn thủ Mệnh tại Hợi cung, nếu có Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn đồng độ, cổ nhân cho rằng “Danh chấn tha bang”, chủ phát phúc ở nước ngoài. Tại xã hội hiện đại, do bởi giao thông phát triển, cũng có thể an cư tại trong nước cùng với người ngoại quốc lai vãng, được người nước ngoài tôn sùng và trợ lực. Khi Hợi cung có Cự Môn thì phải chịu Tị cung có Thái Dương đối chiếu, dương quang cường liệt, khiến chủ là người có tài năng quá mức bộc lộ, dể dẫn đến thị phi với oán hận. Cự Môn là thị phi rắc rối lôi thôi, không thể tránh được.

Cự Môn tại Tị Hợi lưỡng cung nếu kiến Văn Xương Văn Khúc, Tả Phụ Hữu Bật, Thiên Khôi Thiên Việt, có thể phát triển tại giới quảng cáo, truyền bá, công quan. Nhưng tái kiến Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Mộc Dục, Thiên Diêu Đào hoa chư diệu, thì có thể dấn thân theo sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn. Nếu Phụ Tá chư diệu và Sát diệu Hình Kị tịnh lâm, thì thích nghi học tập công việc quản lý, hoặc chuyên môn nghệ thuật.

Nữ mệnh kiến Cự Môn, nhập miếu, được Lộc, cùng với được Hóa Quyền, Hóa Khoa cát Hóa các sao, được hưởng phú quý trường thọ. Nhưng Tị, Hợi với Cự Môn chuyện ái tình có nhiều phiền não. Nếu lạc hãm, Hóa Kị, thì khuất mặt sau lưng có nhiều thị phi, hơn nữa dể rơi vào hạng người phụ nữ ba hoa nhiều chuyện. Tái kiến tứ Sát, Thiên Hình hội chiếu, kinh khắc rất nặng, thích hợp làm kế thất hoặc không cử hành hôn lễ, nhưng vẫn có nhiều thị phi nhiều tranh giành chiếm đoạt.

Khi vào đại hạn người có Cự Môn tại lưu niên Mệnh cung, kiến Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn đồng độ, chủ sự nghiệp phát triển, nếu ngộ thị phi tỏa chiết mất mát thất bại, ngược lại có thể trở thành hung, thích được đủ sự trợ giúp thêm vào để thành danh nếu có tứ Sát hội chiếu, chủ quan phi hoặc hình khắc. Hoặc gặp hỏa tai, đạo kiếp trộm cướp, đó là điều mà mọi người gọi là tai bay vạ gió tai họa bất ngờ.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)