Chương 18: Cung Mệnh: Thiên Tướng

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không,.v.v…

Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu Thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thiên Tướng và Liêm Trinh đồng cung tại Tý – Ngọ

Liêm Trinh Thiên Tướng tại Tý, Ngọ nhị cung đồng độ, hội chiếu Sự nghiệp cung với Vũ Khúc, Thiên di cung với Phá Quân, và Tài bạch cung với Tử Vi Thiên Phủ, tinh diệu cường liệt. Cho nên vô luận có hay không có Sát diệu hội chiếu, đều chủ không có phụ tổ sự nghiệp, dù có cũng tất do vì xã hội hoàn cảnh biến thiên mà phá bại, nhưng tự thân lại có năng lực tìm xuất lộ khác. Tại tính cách, thì là người dám phụ trách đảm nhậm, trọng cảm tình, xử sự cẩn thận, nhưng cũng úy thủ úy vĩ, cho nên khai sáng tính bất cường, cận năng phục vụ vì tha nhân. Nhưng nếu có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc tương hội hoặc đồng độ, thì năng từng bước một tiến lên, dần dần thăng thiên đến chức vị chủ quản thủ não. Nhưng lại chỉ thích nghi thủ thành, bất lợi chỉ là phá cựu sáng tân. Nếu là kinh thương, cũng thích nghi góp vốn cổ phần, bất nghi độc tư. Tối hiềm Liêm Trinh Hóa Kị, chủ là người hoành phát hoành phá, phú quý bất nại cửu. Đặc biệt là khi Liêm Trinh Hóa Kị lại vừa ngộ Đào hoa chư diệu, chủ là người vào cảnh ngộ thuận lợi, sự nghiệp hữu thành lún sâu vào lưu luyến phong nguyệt, trưng ca trục sắc, thế là vì tửu sắc mà chiêu phá bại. Kiến người với chủng loại kết cấu tinh hệ này, thích nghi khi hữu thành sau đó tự luật tự chế. Liêm Trinh hội Văn Xương Văn Khúc, thì chủ là người năng có tự chế lực, ngược lại chủ hảo lễ nghĩa, tái kiến Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc thì tinh hệ thêm trí phú năng lực. Nếu Liêm Trinh và Kình Dương đồng độ, chủ đa chiêu thị phi, canh kiến Thiên Hình hoặc Không Kiếp, chủ từ tụng hoặc khuynh bại. Nếu Kình Dương cùng Thiên di cung với Phá Quân đồng độ, bất lợi xuất môn viễn hành. Bính niên sinh nhân Liêm Trinh Hóa Kị, càng thêm chủ khách tử dị hương. Nếu kiến Cát diệu hóa giải, như Phụ, Tá chư diệu, cùng Thiên Đức, Giải Thần, Thiên Thọ, Thiên Phúc đẳng diệu hội chiếu, thì cận chủ tại dị hương chiêu nhạ phiền nhiễu. Tái phùng Thiên Nguyệt, thì chủ dị hương nhiễm bệnh. Liêm Trinh Thiên Tướng nếu kiến tứ Sát, Không Kiếp, Hình diệu hàm tập hoặc hội chiếu, thì có bất trắc chi họa, hoặc nguyên nhân là bệnh động thủ thuật, đa chủ thận thạch (sỏi thận), đảm thạch (sỏi mật), bàng quang kết thạch, hoặc lựu thũng (xưng bướu), mà lại trọn đời có nội tạng mẫn cảm dị ứng, bì phu quá mẫn với tật hoạn. Nhưng Liêm Trinh Hóa Kị, thì có áp thương (dè hay đụng bị thương) ngoại ý, hoặc xà khuyển các loại thú cắn bị thương, hoặc chịu ngoại ý mà có huyết quang chi tai.

Nữ mệnh bất kiến Lộc Tồn, Hóa Lộc, Văn Xương, Văn Khúc, cho dù bất ngộ Sát diệu, cũng chủ dể chịu lừa dối về tình cảm, nhưng kiến Sát diệu, hoặc kiến Đào hoa chư diệu trọng, cần phải đề phòng thất túc sa ngã lầm lỗi.

Đại hạn lưu niên Mệnh cung kiến Liêm Trinh Thiên Tướng, hỉ kiến Xương Khúc, hoặc lưu Xương lưu Khúc, Hóa Lộc, hoặc lưu Lộc nhập Mệnh hoặc hội chiếu, thì có thăng thiên chi cát, hoặc sự nghiệp phát triển mạnh. Nếu Hóa Kị và Thiên Hình đồng hội, thì chủ nùng huyết chi tai, hoặc động thủ thuật. Nữ mệnh vào đúng năm sinh dục (sinh con) thì khả miễn. Nếu nhưng Kị Hình tịnh lâm. Vô Xương Khúc Lộc giải cứu, thì có tính mệnh chi nguy, hoặc lao ngục chi tai.

Thiên Tướng độc thủ tại Sửu – Mùi

Thiên Tướng tại Sửu, Mùi nhị cung độc tọa, đối cung phải là Tử Vi Phá Quân. Nhưng Tài bạch cung hội chiếu Thiên Phủ. Bắt đầu đem ra so sánh, Sửu cung hội với Thiên Phủ thừa vượng, Mùi cung hội với Thiên Phủ thì cũng là đắc địa, cho nên người có Mệnh an tại Sửu cung được tốt đẹp hơn; theo tính chất nhất hoạch tài, có sự tốt hơn ở tính độc lập cùng với tâm cầu tiến; theo mức độ kiến giải, thì sự nghiệp phát triển tốt đẹp, có thể thích hợp với địa vị xã hội cao. Mừng nhất là được Văn Xương Văn Khúc, Tả Phụ Hữu Bật vấn cung hoặc hội chiếu, thì là người dù cho dấn thân theo bất cứ hành nghiệp nào, cũng chủ mang theo vài phần khí chất văn nghệ. Bất hỉ Sát diệu chiếu lâm. Nếu tứ Sát tịnh chiếu, lại kiến thêm Không Kiếp, Thiên Hình, Thiên Nguyệt Âm Sát, Thiên Hư các ác diệu, thì chủ hình khắc, thị phi. Thì lại trọng người trí mà tự thân xã tật. Nhưng như người có ít Sát diệu, thì vẫn có thể dựa vào công nghệ hoặc thủ nghệ để hưng gia. Nếu Cát diệu và Ác diệu tịnh lâm, không thích nghi kinh thương buôn bán, cũng gặp nhiều chu toàn tỏa chiết mất mát thất bại, nhưng có thể dấn thân theo sự nghiệp chức vụ trong chính phủ, hoặc trong công tác văn giáo. Cũng thích nghi đảm nhậm thư ký, liêu mạc.

Phàm Thiên Tướng tọa Sửu Mùi cung, lân cung tất phải là Thiên Đồng Thiên Lương. Nếu người sinh năm Kỷ với Mệnh an tại Mùi cung, một lân cung khác với Cự Môn và Lộc Tồn đồng độ, hoặc người sinh năm Tân với Cự Môn Hóa Lộc, tức cấu thành cách cục “Tài Ấm giáp Ấn”, chủ là người được hưởng thụ sung sướng đến trọn đời, không gặp ba chiết thăng trầm gian lao, sự nghiệp và tài bạch đều tiến bộ phát triển tăng thêm ích lợi.

Nếu Thiên Tướng tại Sửu, thì Cự Môn tại Tý, người sinh năm Quý có Lộc Tồn và Cự Môn đồng độ, hoặc người sinh năm Tân có Cự Môn với Hóa Lộc, cũng là cách “Tài Ấm giáp Ấn”.

Thân cung ngộ “Tài Ấm giáp Ấn”, và Mệnh cung tương đồng như nhau. “Tài Ấm giáp Ấn”, lấy Thiên Lương làm Ấm tinh, Thiên Tướng làm Ấn tinh, Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc làm Tài. Nhưng Lộc Tồn không bằng như Hóa Lộc, nguyên nhân là nếu lân cung có Lộc Tồn, Mệnh hoặc Thân cung với Thiên Tướng tất nhất định trăm phần trăm là Kình Dương hoặc Đà La đồng độ, là cát thấp hơn.

Thiên Tướng và Vũ Khúc đồng cung tại Dần – Thân

Vũ Khúc Thiên Tướng tại Dần, Thân nhị cung đồng độ. Do vì ảnh hưởng của Thiên Tướng, Vũ Khúc với tính chất cương trực được điều hòa, cho nên xử sự tương đối tùy hòa. Không ngại đem phần đã trình bày về tính chất của hai tinh hệ, nhất là cùng so sánh Vũ Khúc Thiên Phủ đồng cung với tính chất của bản cung, là dựa vào Thiên Phủ với cẩn thận để điều hòa Vũ Khúc với cương trực, cho nên là người cương trung hữu nhu; Vũ Khúc Tham Lang đồng cung, là dựa vào Tham Lang với viên hoạt để điều hòa, cho nên vật dục tuy dù thâm sâu mà thế cố (sành sỏi đường đời); Vũ Khúc Thiên Tướng không như Vũ Khúc Tham Lang với viên hoạt nhưng có sẳn cảm mến chính nghĩa mà không thế cố; không như Vũ Khúc Thiên Phủ cương nhu tịnh tể, nhưng cũng lại vui khi làm người phục vụ. Đây đúng là tính cách của Vũ Khúc đã chịu từng tinh diệu khác biệt điều hòa, biểu hiện ra sự sai biệt. Nhưng Vũ Khúc Thiên Tướng với đối cung là Phá Quân, cho nên đối với Vũ Khúc Thiên Tướng tinh hệ cũng có ảnh hưởng cường liệt. Giả như có Sát diệu tại Mệnh cung hoặc cùng với Phá Quân đồng cung, đặc biệt là khi Kình Dương Đà La giáp Mệnh cung với tình huống dưới đây, thì chủ là người chủ quan cường liệt, khả năng trở thành là độc sẳn có với tính chất tùy hòa hiền lành liền phi thường suy nhược, biến thành ngoại biểu tùy hòa, nội tâm kịch liệt, mà tính chất làm người phục vụ cũng biến thành tăng gia thống trị dục. Do đây có thể hiểu biết nhận định kết cấu tinh hệ này có yếu điểm. Nếu bất ngộ Sát Kị, thì Vũ Khúc Thiên Tướng ngược lại hỉ hội hợp Xương Khúc, có thể tòng sự chính trị, tài kinh công tác. Ngộ Sát tắc bất quá chỉ là thông minh xảo nghệ. Tối kị kiến Kình Dương, nếu hội Thiên Hình, Hóa Kị, chủ dể có tranh tụng.

Liên quan về tính chất của Nữ mệnh và đại hạn lưu niên, có thể tham khảo hai loại tinh hệ đã trình bày trước đó. Duy liên quan về phương diện hôn nhân, nữ Mệnh chủ phu có ngoại ngộ, không thì dể dàng sinh li, là đặc sắc của bản tinh hệ này.

Thiên Tướng độc thủ tại Mão – Dậu

Thiên Tướng tại Mão, Dậu nhị cung độc tọa, đối cung phải là Liêm Trinh Phá Quân, Thiên Tướng đều lạc vào hãm cung, sở Hội tài bạch cung có Thiên Phủ cũng là đắc địa, cho nên không bằng như cách cục tại Sửu, Mùi nhị cung an Mệnh. Chủ là người quá mức bảo thủ cẩn thận, mà lại nhiều lo lắng đa tư đa lự. Chủng loại kết cấu tinh hệ này, Mệnh cung mừng nhất là kiến Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, nếu hội chiếu Liêm Trinh Hóa Lộc, thì tăng cường cho Thiên Tướng về năng lực quản lí tiền tài; nếu hội Phá Quân Hóa Lộc, thì tăng cường cho Thiên Tướng về năng lực quản lí cùng với năng lực khai sáng, đều có thể tương trợ cho sự nghiệp phát triển. Nhưng Thiên Tướng là sao làm chức phó chuyên phò trợ, cho nên dù có sự phát triển, nhưng một mặt cũng không thích nghi một mình đảm đương công việc đảm đương trách nhiệm. Kết cấu tinh hệ của bản cung, cũng có thể cấu thành cách cục “Tài Ấm giáp Ấn”, nhưng do bởi Thiên Tướng lạc hãm, cho nên thành tựu đạt được vừa phải.

Thiên Tướng và Tử Vi đồng cung tại Thìn – Tuất

Tử Vi Thiên Tướng tại Thìn, Tuất nhị cung đồng độ. Tử Vi là Đế diệu, Thiên Tướng là Ấn tinh, thoạt nhìn đúng là một cái kết cấu rất lí tưởng, nhưng lưỡng khỏa này đồng cung với nguyên nhân nằm ở chổ đối cung có Phá Quân mà cải biến tính chất. Nhất là “Trung Châu Phái” trọng thị toàn bộ đặc tính của kết cấu tinh hệ, đây là một ví dụ rõ ràng của Tử Vi (giá tức thị nhất cá minh hiển đích lệ tử). Tử Tướng tinh hệ, tối hỉ đắc Lộc Tồn hội chiếu, chủ là người năng phú, duy chủ quan thành kiến cực thâm, mà lại hảo tranh quyền, dể chịu người khác bài trừ. Nếu vô Lộc Tồn, mà Tử Vi Hóa Quyền, thì tranh quyền chi tâm càng thêm kịch liệt; nhưng nếu Hóa Khoa, thì tranh quyền chi tâm giảm bớt, có thể là tự tôn tâm và danh dự thích lại càng trọng, vẫn dể gặp người ngoài nghi kị. Nhưng như bất ngộ Lộc, Quyền, Khoa, thì tinh hệ này vẫn hỉ đắc “Bách quan triều củng”, mà bất hỉ Sát Kị hội hợp, đắc Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, vẫn có khả năng sự nghiệp hữu thành, là lĩnh đạo nhân vật, hơn nữa ôn hòa đôn hậu. Nhưng do là ảnh hưởng của Phá Quân tại đối cung, trong đời người tất vẫn cần phải kinh quá nhất thứ ba chiết. Nếu bất kiến Cát diệu, mà tứ Sát hội hợp, thì lấy Kình Dương, Đà La là giác giai (tốt đẹp hơn), thích nghi tòng kinh thương. Nếu kiến Hỏa Tinh, Linh Tinh, liền dể là nguyên nhân phí hao lực hóa giải của Tử Vi, mà tăng tân lao và gian khổ. Giả như kiến Hỏa Linh tái kiến Không Kiếp, Thiên Hình, thì có khả năng tao phùng bất hạnh, đến nỗi tinh thần chịu thứ kích, hoặc tâm tạng (tim mạch) có bệnh hoạn. Nhất là phàm Tử Tướng thủ Mệnh, cho dù bất ngộ Sát diệu, cũng thích nghi chú ý tâm tạng, cùng bảo trì tinh thần tu dưỡng. Nếu Sát diệu đa hội, chủ là người hoành phát hoành phá, hơn nữa dề dàng biểu hiện ra vô tình vô nghĩa. Nếu có Cát diệu tương hội, thì vẫn chủ là người trọn đời đa kinh ba chiết, hoặc ngộ đặc thù biến hóa, hoặc ngộ phùng bất hạnh ngoại ý, hoặc có cảnh ngộ đặc thù hạnh vận. Nhưng vẫn hội tại hữu ý vô ý gian ngẫu nhiên biểu hiện ra tình nghĩa đạm bạc.

Nữ mệnh Tử Vi Thiên Tướng, cần phải chú ý cảm tình sinh hoạt, đồng thời cần phải lưu ý đây là tinh hệ có đặc tính vô tình vô nghĩa, tất cần phải gia tăng tự kiềm chế, thì vẫn có kết quả cuối cùng là, nhưng ái tình sinh hoạt thì vẫn tất đa ba lan sóng gió. Đại hạn hoặc lưu niên Mệnh cung kiến Tử Vi Thiên Tướng, nếu phùng Sát Kị, thì tất đa xế trửu (cản trở), thì sinh tâm cải biến, như ao ước chuyển công chuyển nghiệp các loại, nhưng lại không được như ý nguyện; kiến Cát diệu thì vẫn vận đồ thuận toại, sự nghiệp hữu thành.

Thiên Tướng độc thủ tại Tị – Hợi

Thiên Tướng tại Tị, Hợi nhị cung độc tọa, đối cung phải là Vũ Khúc Phá Quân. Do vì Vũ Khúc Phá Quân có đầy đủ lực khai sáng, cho nên người có Mệnh an tại bản cung, có tính cách kiên nhẫn bền gan vững chí, giàu tính cách khai sáng, giỏi giải khai mở rộng cục diện mà sự nghiệp phát triển thành đạt, nhưng về một phương diện khác. Thiên Tướng hội chiếu Tài bạch cung có Thiên Phủ, Sự nghiệp cung tá nhập Tử Vi Tham Lang lai hội, Tử Vi Thiên Phủ hai tinh diệu sớm chủ có sự chiếu hội sau, khiến cho Thiên Tướng thiếu khuyết tính độc lập, cho nên không thích nghi tự hành sáng nghiệp, cũng thích nghi là người lập mưu tính kế hoạch định, là người khai sáng. Nhưng nếu toàn bộ Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương Văn Khúc, thì dù là người làm mướn không công làm dâu trăm họ, có khả năng độc sinh nhất diện. Lúc này không thích hợp với vị trí tối cao, thà rằng quyền lực độc lập mà trên danh nghĩa thì lại phải chịu dưới người khác. Nếu Sát diệu Hình Kị nặng kéo xuống. Thì thích nghi với công nghệ mưu sinh. Cát Sát tịnh lâm, cũng dấn thân theo sự nghiệp thủ công mỹ nghệ làm tốt đẹp, nếu dấn thân theo văn chức, chủ nhiều ba chiết thăng trầm trắc trở.

Do vì mối quan hệ của Phu thê cung có Tử Vi Tham Lang tá nhập vào Sự nghiệp cung hội chiếu, Nữ mệnh hôn nhân lợi thấp, chuyện tình cảm có nhiều khốn nhiễu rắc rối, thích nghi phối ngẫu với người chồng lớn tuổi; nhưng nếu kiến Vũ Khúc Hóa Kị, thì ít có sự vui thú nơi khuê phòng; Nam mệnh cũng thích nghi lấy vợ nhiều tuổi. Nhưng cả nam và nữ đều chủ phối ngẫu với người tài giỏi.

Phàm Thiên Tướng nhập Mệnh Thân cung, đều có khả năng đụng đến hai cái cách cục đặc biệt; tại trước Sửu Mùi nhị cung đưa ra “Tài Ấm giáp Ấn”, cũng là một ví dụ, trên thật tế Thiên Tướng tại thập nhị cung đều có khả năng thành cách. Ngoài ra có một cái cách cục khác, cũng trong thập nhị cung đều có thể thành cách. Tức là Kình Dương và Hóa Kị (tuyệt đại đa số tình hình sau là Cự Môn Hóa Kị) tại tả hữu giáp trì với Thiên Tướng, mà người có Thiên Tướng tại Mệnh Thân cung. Đây gọi là “Hình Kị giáp Ấn”, cái Kình Dương hóa khí chủ là Hình. Gặp cách cục này, chủ là người có lao ngục chi tai, hoặc có chuyện hình khắc thương vong.

Nữ mệnh Thiên Tướng nhập Mệnh, thông thường cũng chủ là người thông minh trì trọng, có thể giúp chồng dạy dỗ con cái. Nếu kiến Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Mã, thì suốt cả cuộc đời được hưởng phú quý song toàn; nếu hội chiếu Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Kị, Kình Dương, thì chủ hình thương cô độc, đồng cư chung sống với nhau hoặc thích hợp làm kế thất, nếu không dể chiêu sinh li tử biệt.

Đại hạn lưu niên kiến Thiên Tướng tại Mệnh cung, mừng được Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Thiên Mã hội chiếu, Chủ có hỉ khánh tin vui cùng với tài lộc, tác dụng mừng được thăng chức. Nếu cùng Phá Quân, Thất Sát, Vũ Khúc, Kình Dương, Đà La hội chiếu, thì chủ thị phi khẩu thiệt cùng thất bại quan phi, hoặc bị người nham hiểm ngầm hại, đến nỗi phá tài hao của, hoặc sự nghiệp khuynh bại. Ngộ thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Thiên Hư các ác diệu, hoặc có hình khắc, hoặc chủ tàn tật. Hung Sát Ác diệu đa hội, thì làm cho người có ý tự sát xem nhẹ cuộc sống. Không có cát Hóa cùng Phụ Tá cát diệu giải cứu, thậm chí có thể dẫn đến họa tử vong.

(Dẫn theo trang huyenhocvadoisong.com)