Nguyên văn:
Cách cục của mệnh hình thành từ Bát tự, nhưng khi phối với vận, cũng tùy đó mà thành cách hay biến cách. Khi thành cách, biến cách, so với hỷ kị thì họa phúc cũng tăng mạnh.

Từ chú thích:
Cách cục của bát tự có Thành cách và Không thành cách. Gặp vận phối hợp liền biến hóa, hỷ kị hay họa phúc không theo thường lý mà suy đoán được, do đó, hành vận trợ dụng hay hại dụng cũng khác theo. Chỉ có điều loại mệnh-vận này không thường thấy, như tứ trụ của một người cùng quê Diêu Văn Phu:

Tân Mùi/ Giáp Ngọ/ Bính Thân/ Mậu Tuất

Quý Tị- Nhâm Thìn- Tân Mão- Canh Dần- Kỷ Sửu- Mậu Tý

Nguyệt lệnh Dương nhận, Bính đóng ở chi Thân, vượng mà bất vượng, tuy lấy Thực thần làm dụng, e rằng rốt cuộc khí thế không đủ. Đến vận Dần, cách cục liền biến hóa, Dần Ngọ Tuất tam hợp, thân vượng được tiết tú, là Dương nhận dụng Thực, khí thế hết sức khác biệt, cách cục lập tức chuyển thanh thuần. Do nguyên cục Ngọ Tuất bán hợp bị cách bởi chi Thân, gặp Dần xung để tập hợp hỏa cục, bằng không, không thể khử Thân để biến đổi được.

Ông Diêu tại vận này (36 tuổi – vận Canh dần), một bước trở thành ủy viên Lưỡng Hoài Diêm. Đặc biệt loại mệnh này cần nguyên cục phải tốt, cách đã hình thành nhưng chưa hoàn toàn, gặp vận mới thành cách đầy đủ. Đã có thể biến thành quý cách, cũng có thể chuyển thành tiện cách, phúc hay là họa so ra càng mạnh. Nếu nguyên cục không tốt thì lên voi xuống chó, khác biệt không đủ.

Nguyên văn:
Như thế nào là Thành cách? Mệnh vốn có Dụng thần, thành cách mà chưa hoàn toàn, do đó cần thứ góp vào cho trọn vẹn. Như Đinh sinh tháng Thìn, thấu Nhâm là Quan, mà vận gặp Thân Tý để thành tam hợp; Ất sinh tháng thìn, có Thân hoặc Tý hội Ấn thành cục, mà vận gặp Nhâm Quý thấu ra. Các trường hợp như thế đều là Thành cách.

Từ chú thích:
Đinh sinh tháng thìn, Nhâm thủy Mộ khố, tuy dụng Quan tinh nhưng gốc chưa chắc, vận gặp Thân Tý, thì gốc Quan tinh mới vững để thể hiện sức lực. Ất sinh tháng thìn, tuy hội thủy cục nhưng Ấn tinh pha tạp, vận gặp Nhâm Quý thì Ấn mới thấu thanh. Đây là “bổ kỳ bất túc” (bổ khuyết nhược điểm), cách cục bởi vậy mà thành.

Nguyên văn:
Như thế nào Biến cách? Như Đinh sinh tháng thìn, thấu Nhâm là Quan, mà vận gặp Mậu, tức Thương quan trong Thìn thấu ra; Nhâm sinh Tuất nguyệt, Đinh Kỷ tịnh thấu, mà chi lại hội Dần hội Ngọ, thành Tài vượng sinh Quan, mà vận gặp Mậu thổ, tức Thất sát trong Tuất thấu ra; Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ quan làm dụng, thành kiến Lộc dụng Quan, mà vận gặp Mão Mùi, hội Hợi thành mộc, lại hóa thành cách kiến Lộc làm Thương quan. Các trường hợp như thế đều là Biến cách.

Từ chú thích:
Nguyên cục Địa chi vốn tàng, gặp vận làm thấu lên, lực của nó rất mạnh. Cho nên Đinh sinh Thìn nguyệt, thấu Nhâm dụng Quan, mà vận Mậu là nguyên cục Quan kiến Thương quan (chứ không phải xuất hiện cách cục thứ hai). Nhâm sinh Tuất nguyệt, Đinh Kỷ tịnh thấu dụng Quan, vận kiến Mậu thổ, nguyên cục Quan gặp Sát làm hỗn tạp. Đây là hành vận phá hoại dụng thần, chứ không phải biến hóa cách cục. Nếu Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ là kiến Lộc dụng Quan, mà vận gặp Dần Mão, là kiến Lộc hóa Thương, cách cục đã biến hóa (Đầu tiết có dẫn chứng tứ trụ ông Diêu, là do xung mà biến hóa, cũng chính là vì hội hợp mà biến). Giả sử có 5 năm vận hành Mùi, Hợi Mùi tuy hội nhưng hư hão bất thực, và Kỷ thổ Quan tinh đắc địa, cách cục biến mà không biến vậy.

Nguyên văn:
Nhưng cũng gặp trường hợp thành cách mà không hỷ là sao vậy? Như Nhâm sinh Ngọ nguyệt, vận thấu Kỷ Quan mà bản mệnh lại có Giáp, Ất.

Từ chú thích:
Nhâm sinh Ngọ nguyệt, vận gặp Kỷ thổ, Quan tinh thấu thanh, nguyên cục thấu Giáp, thì Quan tinh bị hồi khắc thành vô dụng. Nếu nguyên cục Đinh Giáp tịnh thấu thì Tài gặp Thực sinh làm dụng, thì Kỷ thổ hợp Giáp, phản thương hỉ thần thành kị vậy.

Nguyên văn:
Lại có khi gặp biến cách mà không kị là thế nào? Đó là như Đinh sinh tháng thìn, thấu Nhâm dụng Quan, gặp Mậu mà mệnh có Giáp; Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ dụng Quan, vận gặp Mão Mùi, mà mệnh lại có Canh Tân.

Từ chú thích:
Đinh sinh tháng Thìn, Nhâm Giáp tịnh thấu, nguyệt Ấn hộ Quan nên không ngại vận Thương quan; Nhâm sinh Hợi nguyệt, Quan thấu mà địa chi hữu Thân Dậu là Ấn, thì vận gặp Dần Mão, là có Thân Dậu hồi xung, không thể hội cục biến cách. Canh Tân, cũng tức là Thân Dậu, vận gặp Mùi thì bản cục hỏng. Xem phần biến cách phía trước.

Nguyên văn:
Thành cách biến cách, có quan hệ rất lớn với vận, khi thủ vận phải kỹ càng, cặn kẽ.

Từ chú thích:
Khi phối hợp ở vận, có sự tương đồng giữa vận và nguyên cục thì chẳng có quan hệ lớn.

 

Tử Vi Việt Nam Sưu  Tầm – Theo Tử  Bình Diệu Dụng