Dương Lương Mão Dậu Cách

Xét cách cục Dương Lương đồng cung tại Mão. Cách cục này có tên gọi riêng là ” Nhật Xuất Lôi Môn” hay còn gọi là ” Nhật Xuất Phù Tang”, tượng mặt trời mọc ở phương Đông, vừa bước ra quẻ Chấn tượng sấm sét do âm dương bức bách nhau mà sinh ra, tiếng sấm động tức hanh thông, bên cạnh có sao Thiên Lương đồng độ thuộc Mộc Hỏa vượng tương sinh rất hợp cho bản mệnh hành Mộc Hỏa, Dương Lương là cách cục hay nhất của bộ Nhật Nguyệt hơn hẳn cách Thái Âm cư Hợi là “Nguyệt lãng Thiên Môn”, và cách ” Nhật Nguyệt Tịnh Minh”, tất nhiên là tốt cho nam, nữ nhân thì cách Thái Âm hay hơn. Thái Dương ở đây công khai nhưng không mãnh liệt, mà ở mức độ vừa phải, trái với cách Thái Dương ở Ngọ hỏa vượng cuộc sống tuy nhiệt huyết đầy năng lượng nhưng khó được thảnh thơi. Bố cục Dương Lương cư Mão hạn trải rất đẹp nên dễ được tiểu hạn và đại hạn đẹp dẫn đến thành công, không chỉ mệnh tài quan đều đắc cách, đây là tinh hệ Tử Vi độc tọa ở Ngọ ngồi đúng vị, bên hữu có Liêm Phủ ở Tuất và Vũ Tướng ở Dần, giáp Vô Chính Diệu được Nhật Nguyệt hội chiếu đều là các cung số đẹp. Tuy vậy do cung Quan Lộc vô chính diệu nên đa số là chỉ ở chức phó, tức phò tá cho người đứng đầu ( Tử Vi ).

Cách cục Dương Lương cư Mão rất ưa được Khôi Việt Xương Khúc hội họp, nếu không phải được Khoa Quyền Lộc mới kể là hay, xa lánh bằng được Hỏa Linh, nếu có phải được bộ hợp cách như Linh Kỵ Quyền hoặc Hỏa Tinh Lộc Tồn ( Hóa Lộc ), nhưng họa vẫn còn tiềm ẩn. Nhật Nguyệt rất cần bộ Khôi Việt chủ quý nhân, giúp tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt và kỵ Triệt đáo đầu chủ do đề phòng quá mức mà bộ Dương Lương bị ảnh hưởng, dễ dàng bỏ qua các cơ hội. Nếu có Triệt thì phải tránh bộ Triệt Kỵ, nếu có hung tinh ở ngoài chiếu vào hoặc bản cung thì Triệt rất tốt loại trừ nguy hiểm cho mệnh. Trái lại Dương Lương ở Dậu rất cần Triệt đáo đầu hoặc Tuần vì cung Dậu khi ngày đã chuẩn bị tàn, khí Kim tính thu về nên khó dương lên cho phù hợp với bộ Dương Lương mà phải đợi thời gian dài, trong trường hợp này cần cả Khôi Việt. Dương Lương không ngại sao Thiên Không ( Địa Không ) càng làm thêm đẹp bộ Âm Dương, tuy nhiên rất kỵ sao Địa Kiếp, thường thì Không Kiếp đi cùng bộ nên dễ gặp bộ sao xấu này Dương Lương trở thành người đàn ông kém may mắn. Bộ Nhật Nguyệt không kỵ Tang Hư Khách nhưng kỵ đại hoặc tiểu hạn gặp Đào Hồng sẽ tự gây ra tai nạn cho mình.

Dương Lương cư mệnh cung Thân không nên cư ở bộ Cự Đồng ở Sửu, còn lại các vị trí khác đều tốt đẹp, tùy vào hung sát tinh mà luận hoàn toàn cát hay giả cát, tàng hung trong đó. Thái Âm chính là Tháng và Thái Dương chính là ngày, ngày lành tháng tốt là khi Âm Dương hợp cách, ngày tháng chết chóc là khi bị phá cách. Tuổi Ất và tuổi Nhâm đều được thêm bộ Lộc Tướng Ấn, Thái Dương rất cần Lộc Tồn dễ tạo thành cách Dương Lương Xương Lộc chủ dương ra kiến thức, lợi thi cử và nổi danh, còn chủ ngày tháng tồn tại êm đềm, với tuổi Ất thêm bộ Quyền Kỵ khi Thiên Lương Hóa Quyền và Thái Âm Hóa Kỵ. Tuổi Nhâm được Thiên Việt, và Thiên Lương Hóa Lộc thành cách Song Lộc dễ giàu vì Thái Âm mang tính phú. Tuổi Giáp khá xấu vì Thái Dương Hóa Kỵ không có Khoa Quyền, không có sao Thanh Long hóa giải Kỵ, Lộc Tồn an tại Dần đối cung là Phá Quân Phi Liêm dễ thất bại khi đến hạn Sát Phá Tham. Các tuổi Bính Mậu Tân được Thanh Long ở cung tam hợp tốt với bộ Nhật Nguyệt. Cách cục này kỵ gặp Không Kiếp ở cường cung Mệnh Tài Quan và Phúc Phối Di, nếu có thì rất có thể bị cách Quế Sứ Hoa Thương ngộ Thất Sát, một yểu cách nếu gia thêm Sát Tinh kỵ với bộ Sát Phá Tham dễ gặp nguy hiểm, vì Sát Phá Tham ở đây là nơi hãm, được gọi là Trúc La Tam Hạn vì Thìn Tuất là cung của La Võng, Thất Sát kỵ rơi vào cung này, cũng là bất lợi của tinh hệ Tử Vi cư Ngọ, khi mà đa số các cung khác đều tốt, riêng tuổi Bính và Tân có thể giảm tính hung vì Xương Khúc được Hóa Khoa khiến Sát Phá Tham trở nên đắc dụng.

Xét đến cách cục Dương Lương cư Dậu, ở đây không tốt đẹp bằng vị trí ở Mão, khi mà Thái Dương ở cung Dậu và Thái Âm ở cung Tỵ đều lạc hãm, trong trường hợp này cần Tuần Triệt để làm lộ ra, phô ra những điều hay tốt, và Tuần tăng tính quan trọng, cũng cần được Khôi Việt, đó là tuổi Nhâm và tuổi Quý, kém hơn là tuổi Đinh và cuối cùng là tuổi Bính. Trường hợp này kỵ gặp Hóa Kỵ khiến hoàn cảnh càng khó khăn, nếu gặp Hóa Kỵ cần gặp các sao hợp cách với Kỵ, rất cần gặp Hóa Khoa chủ to lớn, khiến bộ Âm Dương vẫn được hưởng cách êm đẹp của buổi chiều. Gặp Xương Khúc đắc lực cho Âm Dương thành bộ ” Âm Dương Xương Khúc nhi đắc lực”. Trường hợp này thành công muộn, nếu gặp đủ cách tốt vẫn được gọi tốt hoặc rất tốt vì phụ tinh và tứ hóa quan trọng hơn chính tinh, và việc hợp cách mới quyết định kết quả, hơn rất nhiều cách cục Dương Lương ở Mão nhưng trợ tinh không đủ hoặc không hợp cách.

(Dẫn theo trang tuvinghiemli.blogspot.com)