Hóa Kỵ và phối hợp cách

Hóa Kỵ và phối hợp cách

Hóa Kỵ hay Khoa Quyền Lộc chính là khí thuần khi chịu biến đổi của Thiên Can với các Chính Tinh. Hóa Kỵ là sự cản trở, trái nghịch, thu lại, u tối,… thường là những khuyết điểm về các mặt của Chính Tinh. Mệnh có Hóa Kỵ thường mang sự khiếm khuyết các tính chất tốt đẹp của Chính Tinh. Như nếu có Cự Môn Hóa Kỵ là cách lo nghĩ thái quá, cũng là cách vọng ngôn khiến tâm trí phải khổ sở, tướng miệng méo, thường môi thâm và cái miệng trở nên nổi bật so với toàn bộ khuôn mặt. Hóa Kỵ mang đến những thứ đen tối, phù động cho tinh thần. Tuy nhiên, trong một vật luôn tồn tại hai thiên hướng do tách từ Thái Cực mà ra phân biệt ra đúng sai, tốt xấu. Một Hóa Kỵ là mặt tính chất mà con người, tức tư tưởng của đa số con người cho là xấu, hung. Hóa Kỵ chính là sự nghi kỵ, ngờ vực, sự thất bại, khó khăn khi thực hiện một công việc. Vì thế có Hóa Kỵ thủ Mệnh thường làm bỏ dở một công việc khi bắt đầu gặp khó khăn. Hoặc do suy nghĩ quá nhiều tới một vấn đề dẫn đến không dám làm các công việc, các kế hoạch. Hóa Kỵ đi với Xương Khúc là cách cản trở rắc rối về giấy tờ, khi thi dễ trượt do tính ngăn cản, khiến tâm rối loạn do nghĩ thái quá. Hóa Kỵ ngộ Xương Khúc thường được bình giải uổng đời tài hoa vì không gặp thời, không gặp may, xui xẻo hơn là mất mạng, khi đó Xương Khúc Kỵ là tác phẩm nghệ thuật dành cho tang lễ. Hóa Kỵ có tính Ám trong tính chất cơ bản, đi cùng với Diêu Đà hình thành bộ sao nổi tiếng tai họa trong Tử Vi là Tam Ám hay tên khác là Diêu Đà Kỵ. Bộ Tứ Hóa không chỉ quan trọng nguyên cục mà Lưu Tứ Hóa theo tiểu hạn có tác động rất mạnh. Việc xảy ra Lưu Kỵ nhập cung nào cung ấy có biến động tức thời. Nhìn chung, khi xem trên lá số Tử Vi ngoài Không Kiếp cần xem tới Hóa Kỵ thứ hai. Trong tử vi thường gọi là sao Hóa Kỵ. Với sao này, việc hợp chiếu thêm sát tinh gây họa cấp số nhân. Cách Kình Kỵ, Đà Kỵ, Hình Kỵ, Hỏa Kỵ, Linh Kỵ, Kiếp Kỵ đều mang tính chất xấu của Sát Tinh trở nên mạnh hơn. Để thay đổi tính chất của các cách này cần thiết nhất phải có các sao trong bộ Khoa Quyền Lộc. Hóa Khoa khiến đặc tính tốt trong Sát Tinh phát khởi, như việc Hỏa Tinh trở thành nhiệt huyết, soi sáng, thành công lan tỏa khắp nơi.

Với Hóa Kỵ khiến Hỏa Tinh có tính nóng vội, mù quáng, giận giữ, đốt cháy, tro bụi,… Nếu Hóa Quyền tính chất biến đổi theo Quyền tinh như uy lực mạnh, hiệu lệnh khẩn cấp, quyền sinh sát trọng,… Với Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp cũng như vậy. Cách Khoa Kình chủ sự khoa học, định hướng, tranh luận khoa học, thành công sớm,.. Cách Kình Kỵ chủ chống đối, thất bại sớm, khai trận tử chiến, ác tính, tranh đoạt,…. Tuy vậy, Hóa Kỵ có tính phủ định cách cục tốt mạnh, nhưng vẫn có những cách hợp với Kỵ như Khoa Kỵ. Quyền Kỵ, Long Kỵ,… chuyển hóa một số đặc tính gia tăng khuyết điểm của Kỵ. Tuy nhiên không trở nên tốt đẹp hoàn toàn. Mệnh có Hóa Kỵ phải luôn sẵn sàng đối mặt với những tính chất xấu của Kỵ. Nhưng Hóa Kỵ cũng có những tính chất quan trọng khiến Mệnh trở nên phi thường cách. Nếu nghi kỵ trong kinh doanh là rất tốt. Nếu thất bại, trượt không đi sang các nước Trung Đông có chiến sự là tốt. Việc ngăn chặn, cản trở của Kỵ với những điều xấu là cần thiết. Vì vậy, Kỵ mang một tính ngăn cấm do hiểu biết tức là cách Khoa Kỵ. Hóa Kỵ còn là sao lập dị, nếu đắc cách là cách kỳ nhân, trí tuệ quái dị, khác thường. Đó là trường hợp Kỵ tốt. Không nên luận Mệnh như có Kình Linh Kỵ là cách xấu mà cần hiểu rõ xem tính chất của bản Mệnh có chế ngự được để trở thành cát lực hay không. Dĩ nhiên đa phần Kỵ phò tốt trở nên tốt đẹp hơn, đi theo xấu trở nên hiểm hung hơn. Quân tử không phải không có Sát Tinh, quân tử là người dám làm việc ít người dám làm, theo đạo lý của xã hội. Những việc khó khăn như vậy nếu không có lực sát của Sát Tinh theo chiều hướng tốt khó mà thành tựu. Và cái giá phải trả là khổ cực phải chịu đựng khi có cách Sát Tinh theo chiều hướng tích cực. Thời nay bảo cứu người tai nạn trên đường có mấy người làm được, đa phần sợ lý do này nọ, Cát Tinh vô lực không bằng Sát Tinh hữu lực.

(Dẫn theo trang www.luantuvi.vn)