So sánh Tử vi với các khoa Chiêm tinh học khác

KHOA TỬ VI LÂU ĐỜI NHẤT, RÕ RÀNG HƠN CẢ CÁC KHOA CHIÊM TINH KHÁC

  • Đối với các nhà Tử vi Đông Phương, không phải Thái Dương (mặt trời) có ảnh hưởng quyết định toàn bộ, mà chính Thái Âm (mặt trăng) mới quan trọng!
  • Chính đức Phật, Ngài đã chia thời gian ra làm 12 năm Âm lịch, mỗi năm có một con Giáp tượng hình.

Anh Thông

(Viết theo tài liệu chiêm tinh học ngoại quốc)

Từ trước tới nay chúng ta thường chú trọng đặc biệt đến việc nghiên cứu chiêm tinh Tây Phương qua 12 cung hoàng đạo với 12 biểu tượng, còn mỗi cung tuỳ theo ngày sinh tháng đẻ Dương lịch như : Miên Dương, Kim Ngưu, Song Nam, Bắc Giải, Hải Sư, Xử Nữ, Thiên Xứng, Hổ Cáp, Nhân Mã, Nam Dương, Bảo Bình, Song Ngư.
Rất ít người quan tâm đến những cái hay và những điểm chính xác của khoa Tử vi Á Đông mà điển hình là Tử vi Trung Hoa.
Tử vi Trung Hoa khác biệt hẳn với các khoa chiêm tinh hiện nay của Tây Phương, căn cứ trên âm lịch. Ngay từ buổi đầu, Tử vi Trung Hoa đã là một khoa nghiên cứu lâu đời nhất và cũng đầy đủ nhất so với các khoa chiêm tinh khác.
Chẳng hạn khi muốn lập lá số Tử vi của một người, trước hết ta phải biết ngay giờ sanh của người đó theo âm kịch. Khi lá số đã được lập rồi, ta mới nghiên cứu đến tính tình, khuynh hướng số mạng của người đó từ lúc chào đời cho đến lúc tắt thở, theo từng Đại hạn 10 năm một, hoặc theo Tiểu hạn từng năm và nếu cần từng tháng và từng ngày. Rồi từ đó, phân tích những đặc tính về gia đình cha mẹ hay người phối ngẫu hoặc con cái, về thân phận, sự nghiệp, của cải tài lộc và về nô bộc (bạn bè, người cộng sự).
Người ta có thể tìm hiểu đại cương tính tình một con người khi nghiên cứu tuổi của người đó thuộc con Giáp nào. Theo Tử vi Trung Hoa, có 12 con Giáp, mỗi con Giáp tượng trưng cho mỗi năm lịch.
Các nhà Tử vi Trung Hoa cho rằng những người cùng một tuổi thường tính tình có những nét chung giống nhau. Tuy nhiên muốn khảo sát kỹ lưỡng tính tình một người, cần phải lập cho người đó một lá số Tử vi thật đầy đủ, bắt đầu từ ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và nhất là giờ sinh, và đôi khi cả nơi sinh.
Căn bản của Tử vi là Âm Dương, ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ), phương hướng các cung (trục Tý – Ngọ, Mão – Dậu được dùng để chỉ bốn hướng Bắc, Nam, Đông, Tây, Tý là hướng Bắc, Mão là hướng Đông, vì hướng và phương của các cung có ảnh hưởng nếu ý nghĩa tổng quát của cung) những nguyên tắc căn bản về Thái cực cùng 111 vì sao. Chinh các sao trong khoa Tử vi khi thì nghiên cứu riêng rẽ, khi thì phối hợp với các sao khác để tạo thành một số vô tận các Cách, rất cần thiết cho việc nghiên cứu vận mạng từng người.
Giờ đây, ta thử tìm căn nguyên vì sao có 12 con Giáp, và tại sao 12 con Giáp lại theo thứ tự như hiện nay.
Theo tục truyền, Đức Phật sinh tiền khi ngồi thiền sưới gốc Bồ Đề, muốn truyền cảm tư tưởng và ý nghĩ với thế gian loài vật, trước khi xuất thần.
Một vài con vật nghe được lời truyền cảm của Đức Phật bèn đến trình diện Ngài.
12 con vật len lỏi ra khỏi khoảng rừng thưa lần lượt theo thứ tự như sau:

  • Chuột
  • Trâu
  • Hổ
  • Mèo
  • Rồng
  • Rắn
  • Ngựa
  • Khỉ
  • Chó
  • Lợn

Đức Phật từ đó quan niệm thời gian theo một chu kỳ vĩnh viễn là 12 năm cho một Giáp.
Cũng vì vậy Đức Phật xác định thứ tự 12 năm như sau : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
12 năm đó họp thành 1 Giáp hoàn hảo, cứ thế kế tiếp nhau mãi đó là 12 năm Âm lịch.
Mỗi năm do một con Giáp tượng hình, mỗi con Giáp giữ một vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người tại Viễn Đông, và trong việc nghiên cứu các đặc tính các nhân mỗi người (tướng mạo, cơ thể, tính tình, bệnh tật) các đặc tính về gia đình ( cha, mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái), các đặc tính về sinh kế (nghề nghiệp), tài lộc, tài sản, các đặc tính về dòng họ (phúc đức, ảnh hưởng của âm phần) và các đặc tính về vấn số (các giai đoạn của đời người, các biến cố lớn trong mỗi thập niên).
Ý kiến của Ban biên tập.
Như vậy quý bạn đã thấy trên đây chỉ là nhận xét của một chiêm tinh gia Tây Phương nhìn vào khoa Tử vi của người Á Đong và cho rằng chỉ sao Thái Âm mới có ảnh hưởng quyết định toàn bộ trên lá số.
Chúng tôi phổ biến tài liệu này là đế quý bạn đọc biết giới chiêm tinh học Tây Phương đã hiểu thế nào về Tử vi, Đức Phật không phải là người sáng chế ra 12 con Giáp và 12 năm trong một Giáp.
Điều đang chú ý là học phải công nhận là khoa Tử vi Đông Phương lâu đời nhất và rõ ràng hơn các khoa Chiêm tinh khác.

————————————————————————————————————————————————-

(Ko rõ mục đề vì mất trang trước)

Tử vi theo Hi Di Tiên sinh, mỗi lá số có 93 sao.
Các sao trong bộ Tử vi chính nghĩa là :

a. Các chòm :

  • Chòm sao Tử vi : gồm 6 sao

Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh.

  • Chòm sao Thiên Phủ : gồm 8 sao

Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

  • Chòm Thái Tuế : Thài Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khác, Quan phù, chỉ có 5 sao.
  • Chòm Lộc Tồn : 17 sao

Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Quốc Ấn, Đường Phù, Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại hao, Phục Binh, Quan Phủ.

  • Chòm Tràng Sinh :

Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

b. Các sao an theo tháng : 7 sao

Tả Phụ, Hữu Bật, Tam Thai, Bát Toạ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Đẩu Quân.

c. Các sao an theo giờ : 8 sao

Văn Xương, Văn Khúc, Ân Quang, Thiên Quý, Thai Phụ, Phong Cáo, Thiên Không, Địa Kiếp.

d. Tứ trợ tinh : 4 sao

Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa, Hoá Kị.

e. Các sao an theo Chi : 17 sao

Long Trì, Phượng Các, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Mã, Hoa Cái, Đào Hoa, Phá Toái, Kiếp Sát, Cô Thần, Quả Tú, Hoả Tinh, Linh Tinh, Thiên Khốc, Thiên Hư.

f. Các sao an theo Can : 5 sao

Lưu Hà, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tuần Không, Triệt Không.

g. Các sao cố định : 4 sao

h. Thiên Thương, Thiên Sứ, Thiên La, Địa Võng.

2. Bộ Triệu thị minh thuyết Tử vi Kinh

Quyển 2, Thiên 2 dạy cách an sao, Quyển 3 thiên 1, phần tính chất các sao. Quyển 4, thiên 5, chép các lá số chiêm nghiệm. Tất cả đều ghi có 93 sao giống như bộ Tử vi tinh nghĩa.

3. Bộ Đông A di sự

Quyển 2 thiên 2, bàn về tính chất các sao. Quyển 3 chép các chiêm nghiệm, thấy ghi 88 sao. Không ghi các sao Bác Sĩ, Thiên La, Địa Võng, Thiên Thương, Thiên Sứ.
Các nhà Tử vi đời Trần quan niệm rằng, sao Thiên La bao giờ cũng ở cung Thìn, sao Địa Võng bao giờ cũng ở cung Tuất, sao Thiên Thương bao giờ cũng ở cung Nô, sao Thiên Sứ bao giờ cũng ở cung Ách, nên không cần an. Như vậy số sao trong Đông A di sự cũng giống như bộ Tử vi tinh nghĩa, gồm 93 sao. Cách an, tính chất giống nhau, không có gì thay đổi.

4. Bộ Tử Vi Đại toàn

Quyển 4, thiên 2 ghi rõ ràng : Trong một lá số Tử vi phải đúng 93 tinh đẩu như Hi Di tiên sinh định, dư, thiếu, an, khá đi đều là tạp thư, man thư, của bọn thuật sĩ bịa đặt ra để lừa nhau, và tỏ ra là người bác học, song chẳng qua… làm hạ cho kẻ học rất nhiều, cần huỷ bỏ không cần bàn tới. Qua bao đời khoa Tử vi không được san định lại, kẻ học muốn muốn sửa chữa sao cũng được. Giống như người vẽ mà, vẽ quỷ. Vẽ thế nào, rồi bảo đó là quỷ, không ai cãi được, vì có thấy quỷ bao giờ.

5. Bộ Tử vi đẩu số Toàn thư

Nói về số sao rất lờ mờ. Phần dạy cách an sao, thấy có ghi 85 sao. Các sao cũng giống nhau như 4 bộ trên. Duy thiếu các sao sau đây : Đào Hoa, Phá Toái, Kiếp Sát, Ân Quang, Thiên Quý, Côn Thần, Qủa Tú và Lưu Hà. Nhưng khi lọc các bài phú, nói về các sao thì lại thấy nói tới sao Đào Hoa, Ân Quang, Thiên Quý. Về tinh đẩu sách này ghi chép rất lờ mờ. Nhưng trong bài biểu dâng cho vua Càn Long, văn thần viện Tứ khố toàn thơ liệt bộ này voà chính thư vì theo sát Hi Di tiên sinh.

II . SỐ SAO TRONG TẠP THƯ

Tạp thư thì nhiểu vô kể song ở đây chỉ nói tới mấy bộ chính ảnh hưởng vào học giới Việt Nam mà thôi.

1. Bộ Tử vi Âm Dương Chính nghĩa Bắc tông

Quyển 2 thiên 3 dạy cách an sao, thấy ghi đến 104 sao. Các sao cũng giống như chính thư song thêm 11 sao sau đây : Thiên Tài, Thiên Thọ, Giải Thần, Địa Giải, Thiên Giải, Thiên Lộc, Lưu niên văn tinh, Thiên Quan quý nhân, Thiên Phúc quý nhân.

2. Bộ Tử vi Âm Dương chính nghĩa Nam Tông.

Quyển 2 thiên 2 dạy cách an sao cũng giống như bộ Bát Tông, song thêm 24 sao sau đây : Thái Cực, Thiên Xá, Niên Khôi, Nguyệt Khôi, Niên Thổ Khúc, Nguyệt Thổ Khúc, Thiên Thương ( Nghĩa là kho lúa, khác với Thiên Thương ở cung Nô, như vậy trong lá số của phái này có 2 sao Thương), Thiên Phú, Thiên Tiên, Địa Không, Hồng Diệm, Phù Trầm, Sát Nhận, Vòng Thái Tuế được thêm 7 sao nữa cho đủ 12 sao, đó là các sao : Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù, Tư Phi Tinh, Thiên Trượng, Thiên DỊ, Mao Đầu, Thiên Nhận.

3. Bộ Tử vi Thiển thuyết.

Quyển 1 thiên 4 dạy cách an sao. Các sao cũng giống như bộ Nam tông, sao thêm 13 tinh đẩu nữa rất quái dị, không có trong Thiên văn, mà chỉ thấy trong các tiểu thuyết thần kỳ chí quái, mà trâu đầu rắn thành 141 tinh đẩu. Đó là các sao : Nam Cực, Đông đẩu tinh quân, Bắc đẩu tinh quân, Nam đẩu tinh quân, Tây đẩu tinh quân, Cửu thiên huyền nữ, Dao trì Kim mẫu, Vũ Tinh, Lôi Tinh, Phong Tinh, Thiên Vương Tinh, Địa Tạng Tinh, Thái Bạch Kim Tinh.

4. Bộ Lịch số Tử vi toàn thư

Số sao cũng giống như bộ thiền thuyết song dạy an so ngược lại với các bộ trên. Như sao Trường sinh không ở Dần, Thân, Tị, Hợi mà còn thấy an cả ở Tỷ, Ngọ, Mão, Dậu nữa. Vòng Tử vi an xuôi, vòng Thiên Phủ an nghịch… Số sao cũng có 128 mà thôi.

III. SAO LƯU NIÊN

Bất cứ thư tịch Tử vi nào của Trung Hoa đều chú ý đến sao lưu niên : Sao lưu niên chiếm một địa vị rất quan trọng trong khi giải đoán vận hạn. Trong khi sách Tử vi VN không mấy chú ý.

1. Chính Thư :

Tất cả 4 bộ chính thư (Bộ Tử vi đẩu số toàn thư nói rất lờ mờ, phải cooi phần giải đoán các lá số mới thấy nói đến) đều nói đến các sao lưu niên sau đây:

  • Vòng Lộc Tồn : 15 sao. Bộ Tử vi đẩu số toàn thư chỉ nói đến 2 sao lưu Kình, Đà mà thôi.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt.
  • Thiên Mã, Vòng Thái Tuế 5 sao.
  • Thiên Khốc, Thiên Hư

Tất cả gồm 25 Sao.

2. Tạp Thư

Cũng gồm số sao trên song thêm vào số sao nữa :

  • Bộ Bắc tông thêm 2 sao Xương, Khúc, thành 27 sao.
  • Bộ Nam tông thêm 23 sao : Hoả Huyết, Lan Can, Quán Sách, Quyệt thiệt, Bạo Tinh, Thiên Ách, Thiên Cầu, Huyết Nhận, Huyết Cổ, Ngũ Quỷ, vòng Tràng Sinh 12 sao, Tử Vi.

IV. Kết luận

Căn cứ vào số sao trong thư tịch Tử vi Trung Hoa, học giới Tử vi có thể biết các sách Tử vi VN ảnh hưởng của phái nào. Khó mà tìm được những nguyên do ảnh hưởng về điểm này hay điểm khác trong quá trình tiến triển Tử vi VN.
Bộ Tử vi Khảo chứng của chúng tôi chỉ nghiên cứu sưu tầm chứ không đưa ra một kết luận, một đoán chừng nào, đúng với phương pháp nghiên cứu Đông Phương : Nghi di truyền nghi”

KHHB Xuân Ất Mão (1975)

TVVN Sưu Tầm – Theo Tử Vi Lý Số