Luận bàng tinh phần tổ hợp cách cục

Luận bàng tinh phần tổ hợp cách cục

Người luận tử vi hay mắc phải khó khăn trong phần luận đoán các tổ hợp sao. Các tổ hợp sao vĩnh viễn tam hợp có tính chất đặc trưng riêng biệt cho từng nhóm sao, và quan trọng hơn việc biến hóa các tính chất do giao hội khiến các cách cục trở nên nhiều ý nghĩa khi giao hội chúng gồm các Chính Tinh và Bàng Tinh khác. Ngay trong phần nội tính chất của tổ hợp đã tồn tại các tính chất ý nghĩa của bản cung với các sao tọa thủ trái ngược nhau, như phần luận cung mệnh có nhiều tổ hợp sao và các Chính Tinh ở bản cung mệnh hoặc tam hợp. Các Chính Tinh dẫn đầu này không chỉ bản tính chịu tác động bởi Chính Tinh bản cung mà còn chịu tác động bởi Chính Tinh tam hợp, rất nhiều tính cách ẩn chỉ chờ vận và hoàn cảnh bên ngoài để lưu xuất ra. Vì vậy thường có khái niệm luận về mệnh tạo ăn vào Chính Tinh nào thì chịu tác động lớn bởi Chính Tinh ấy dù bản cung hay tam hợp, tuy nhiên cách này vẫn có thiếu sót, cũng chính vì lý do này khiến việc luận tổ hợp các Chính Tinh kết hợp Bàng Tinh giao hội có phần phức tạp hơn và rất dễ sai lầm so với việc xét riêng. Ở đây xét phần giao hội hoàn toàn do thế đứng bắt buộc của các Chính Tinh riêng, hay của Bàng Tinh riêng. Các tổ hợp sao tam hợp gồm cả Chính Tinh và Bàng Tinh với phần Chính Tinh là các cách cục như Sát Phá Tham, Tử Vũ Liêm, Phủ Tướng, Cơ Đồng, Âm Lương. Phần bàng tinh bao gồm như các cách cục sau Tuế Hổ Long Phù, Tang Hư Mã Khách, Phượng Khốc, Lộc Tướng Ấn Bệnh, Thanh Phi Phục, Hình Diêu. Cách tổ hợp này có đặc điểm chung là ngay bản thân mỗi cách cục đều có phần khi xét tính chất riêng như mâu thuẫn ở tính chất mỗi sao, tuy nhiên khi xét chung tính cách toàn bộ tổ hợp lại mang ý nghĩa thống nhất biểu thị tính chất chung. Tất nhiên có trường hợp bổ sung tính chất lẫn nhau do tương đồng.

Xét ở ngay các tổ hợp sao có hai bàng tinh hay hai Chính Tinh như tồ hợp Chính Tinh gồm Âm Lương, Cơ Đồng và Phủ Tướng. Ở phần bàng tinh gồm Phượng Khốc, Hình Diêu. Thực chất ở tổ hợp Hình Diêu đầy đủ là Hình Diêu Y nhưng có thể lấy hai sao Hình Diêu vì Thiên Y đồng cung Thiên Diêu và có ý nghĩa cơ bản bổ trợ cho Thiên Diêu, luận Diêu Y như một sao có tính chất chung bổ trợ của hai sao. Cách cục Cơ Đồng gồm tính chất của hai sao là Thiên Cơ và Thiên Đồng, trong đó Thiên Cơ có tính chất đặc trưng là cơ hội, tính toán riêng, suy nghĩ lợi ích về cá nhân, lợi ích ngắn mang tính thời cơ. Với sao Thiên Đồng có tính chất làm việc chung, phúc hậu, lợi ích cộng đồng, xã hội chung, toan tính thâm sâu, lợi ích lâu dài. Hai sao này có nhiều tính chất khác biệt đối lập nhau và cùng ở trong một tam hợp chiếu là cách Cơ Đồng. Đây là phần xét riêng về bản cung của Thiên Cơ hoặc Thiên Đồng. Tới phần xét chung tổ hợp của hai sao này tức giao hội tính chất của hai sao thì nhóm Cơ Đồng có ý nghĩa về mô tả lợi ích bên trong một tổ chức xã hội, Cơ Đồng cũng là cơ hội tới chung với tất cả, là việc tìm kiếm những điều phúc thiện trong cái lợi ích riêng tư của mỗi người. Các tính chất khi giao hội chịu sự tác động của hai sao này. Trong trường hợp bộc lộ rõ nét là khi chịu tác động bởi Lưu Phi Tinh hay đại vận. Tức như khi giao hội Không Kiếp thì vì mục đích riền có thể bỏ mặc cái phúc thiện vì tập thể xã hội. Một trường hợp khác là vì đại nghĩa diệt thân, hy sinh cái bản thân để cứu giúp phần còn lại rất nhiều người. Cách Cơ Đồng luận quan trọng nhất là khi giao hội với ngay Chính Tịn bộc lộ tính chất cốt lõi, gồm hai trường hợp khi giao hội với Âm Lương hoặc với Cự Môn hình thành bộ Cơ Đồng Âm Lương hay Cơ Nguyệt Đồng Lương. Trường hợp thứ hai giao hội với Cự Môn hình thành cách Cự Cơ Đồng.

Với hai cách cục này rất đặc trưng cho tính cách vì liên quan tới Chính Tinh, tạo thành hai tổ hợp sao tách biệt, ở các vị trí chịu tác động khác của phần dịch đại vận bộc lộ tính chất ngay bố cục của các vị trí trong Cự Cơ Đồng việc Cự Cơ đồng độ hay Cự Đồng đồng cung mang tới tính chấy khác nhau của tổ hợp. Không phải là do vị trí này ngũ hành hợp như Cự Cơ cư Mão do nhập cung Mộc nên Cự Môn hành Thủy, Thiên Cơ là Mộc thuộc Thủy sinh Mộc gặp nơi Mộc nên phát, cư ở Dậu xấu hơn là cách giải thích khiên cưỡng, mang sở học giải thích ngũ hành dụng cả cung độ ngũ hành mà sai lý cơ bản của Tử Vi khiến việc truyền đời tử vi trở nên khó khăn do sở học lại đa năng thêm hiểu biết thêm các cách giải thích mới lạ sử dụng không liên quan tới tử vi, và đơn giản nhất để trừ bỏ các cách luận này là phần nghiệm lý là tối quan trọng. Ngay cả khi nhờ người có kiến thức tử vi luận cũng luôn cần tự xem xét với kiến thức bản thân đã có về môn này và tự suy diễn xem việc luận như vậy là đúng hay sai, không phải tất cả những người nghiên cứu tử vi đều có khả năng luận giải được lá số. Tiếp đến sau cách cục Cơ Đồng tới nhóm sao Âm Lương. Hai sao Thái Âm và Thiên Lương luôn tam hợp tạo thành cách Âm Lương. Cách cục này tính chất riêng của Thái Âm và Thiên Lương có một số phần đối lập với nhau. Thái Âm là ẩn, chù âm nhu. Thiên Lương là lộ, chủ sự bày biện. Hai sao này chịu tác động trở thành cách cục được sự che chở mang tính chất giúp đỡ âm thầm. Đây là một tính chất cơ bản trong nhiều tính chất của nhóm sao này khi giao hội. Ở đây Âm Lương giao hội với Cơ Đồng như trên hoặc Thái Dương của nhóm Cự Nhật thành cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Âm Dương Lương.

(Dẫn theo trang www.luantuvi.vn)