Luận đại vận cách nữ mệnh Cự Môn độc tọa

Đại vận đầu tiên nhập cung Mệnh, cũng là vận hình thành tính cách từ nguyên cục. Do đó có tác động rất lớn tới các cung vận sau này. Là chỗ xuất tiến của khí nên luận là Mệnh. Bản cung mang Chính Tinh tọa mệnh tức cuộc đời sẽ xoay quanh hoàn toàn tính chất của Chính Tinh này, kết hợp với cung an Thân và biến hóa tính chất dựa vào các vận. Bẩm sinh người đều tồn tại tất cả Chính Tinh mang ý nghĩa đặc trưng khác nhau. Tuy nhiên Chính Tinh nhập bản mệnh là sự trọng tâm của cái thấy, gọi là tâm mệnh. Ở đây bố cục Mệnh và Thân đồng độ, tức chuyên chính luận Mệnh Thân ứng hợp. Cự Môn nhập Mệnh Thân, đây là một trong các sao đứng đầu, thuộc nhóm Cự Nhật. Hình thành bố cục Cự Nhật khi hoàn chỉnh, khi giao hội các nhóm sao thì sinh ra cách cục Cự Cơ Đồng. Ở đây Thái Dương cư Tí nhập hãm. Bố cục Cự Nhật đã luận ở phần Tổng Quan Mệnh, phầm luận đại vận xét cách cục liên quan tới khí hình gốc để dẫn tới tính chất biến hóa các vận sau. Cự Môn nhập vận đầu tiên chủ nữ mệnh có tính cương cường, có Quyền Tướng Khúc giao hội Tồn Ấn nhập vòng Trường Sinh. Tuy nhiên Cự nhập La Võng lại ở vị trí Mộ tính chất bất cát, chủ có khuyết điểm. Sát cách không gặp nên có phần ổn định hơn. Tuy nhiên Cự Nhật ngộ Tồn Tướng Ấn thì phân thành hai khuynh hướng. Với Khúc Tướng Cự nếu có khuynh hướng tình cảm thì Cự không chế hóa được Sát, do bố cục này không gặp Lục Sát Kỵ Hình nên Cự Quyền khá tốt, chủ có uy tín, lấy khả năng chuyên môn thành uy tín. Tuy nhiên vận này không có Sát cách để bộc phát, cũng không có trợ tinh mạnh hình thành cung trọng điểm cát hóa. Do đó không có nét nổi bật, khí hình gốc khá thấp. Đặc biệt với nữ mệnh cách dụng Cự Nhật không đắc dụng như nam giới. 

Thái Dương nhập cung Tí có Tồn Vượng Triệt tạm ổn, chủ khi dương lên, phát triển, phấn đầu có khó khăn nhưng không lâm bế tắc, ngược lại là cách cục tích lũy được kinh nghiệm qua khó khăn. Với Cự có Tồn Ấn thì nội tâm luôn hàm chứa sự bất mãn, Văn cách đắc Quyền Khúc hoàn toàn có thể thành tựu sự nghiệp. Đại vận đầu tiên sức cát hóa không lớn, chủ không có khuynh hướng tham vọng theo đuổi mạnh, với cố gắng với tham muốn. Khí hình gốc thấp, không gặp may mắn đột biến thành tựu, cần xét các khuynh hướng cương quyết của nữ mệnh. Bố cục khuyết sự quyết tâm, khả năng ứng biến linh hoạt do không gặp Tang Hư Mã và Phượng Khốc rất cần cho Cự Môn. Do đó cần dụng Văn cách ứng hợp Cự Tồn thời điểm vận thích hợp kích phát, rất lưu ý quan trọng là chuyên nhất với một mục tiêu, lấy tâm chủ nghiên cứu làm gốc, tức dụng được Khốc Hình thì Cự mới có thể hoạch phát. Trợ cách này như việc cố gắng quyết tâm với một mục tiêu, lấy nghiên cứu chuyên sâu hơn làm niềm vui, thì sau thời gian dài, bố cục Tồn Vượng là cách cục tích lũy, khi bộc phát do nhập vận tương ứng với quyết tâm của mệnh tạo. Đây là điểm dị biệt của vòng Trường Sinh giao hội với vòng Lộc Tồn là hai vòng sao mạnh quan trọng của Tử Vi, vòng sao thứ ba là vòng Thái Tuế. Mệnh Thân an tại vị trí Mộ không hay khi có vòng Trường Sinh, ở hai vị trí Sinh Vượng thực cát hóa lớn, may Thái Dương nhập Vượng toàn tổ hợp Cự Nhật cát hóa. Đại vận thứ nhất Cự Môn hình thành, Cự Môn theo khuynh hướng Cự Tồn Quyền Khúc, có chỗ khó khăn, không phải là vận cát, Cự Môn cũng không gặp Kỵ Khốc nên thực chưa phát huy tính chất quan trọng của Cự để thành tựu. 

Đó là tính chất tìm hướng đi khác biệt của Cự, hướng đi khác biệt với bố cục này tăng tính đứng đầu, khả năng lãnh đạo của Cự Môn. Cự Nhật cách vận đầu gặp cách Tồn Ấn càng tăng tính quan trọng. Vì bố cục Tồn Ấn là dấu ấn, kinh nghiệm, mang tính quá trình để tăng cường khí hình. Trong vận này tham muốn càng lớn, thành tựu sau này càng lớn. Nếu với Cự có khuynh hướng tình cảm trong vận này cũng để lại dấu ấn lớn trong nội tâm. Do đó nếu nữ mệnh có khuynh hướng mạnh về Tài Quan do Cự hóa Quyền trong đại vận đầu tiên thì khí hình gốc luận vượng, nếu khuynh hướng tham muốn định hướng không lớn thì luận bình hòa. Khả năng chế hóa Sát của Cự cũng vậy, do Cự Nhật ngộ Tồn Ấn, trong vận này với mức độ khó khăn vượt qua sẽ làm nhân để thành tựu hóa Sát thành Quyền cách ở các vận sau. Đặc biệt khi Mệnh Thân đồng độ cát hung đồng bởi bố cục Cự Nhật. Tức với suy nghĩ trong bản tính và ý thức khi gặp tai họa sẽ gặp tai họa. Cung Mệnh là suy nghĩ ban đầu phản ứng với hoàn cảnh, không có sự tác động của suy nghĩ ý thức. Khi trưởng thành thì suy nghĩ ý thức bắt đầu mạnh, tác động lẫn với bản tính là phối hợp Mệnh Thân. Ở đây Mệnh và Thân đồng độ mang ý nghĩa này. Trong đại vận thứ nhất là xét về khí hình gốc của Cự Môn. Bản thân mệnh tạo tùy khuynh hướng ban đầu xác định ở trên để định cách. Với cách cục biến hóa thành bị cô lập trong vận này thì ứng hợp cách cục không mấy hay, do đó định hướng về tham vọng lớn lưu sâu sắc trong tâm sẽ không xuất hiện do đã ứng hợp với bố cục khác biệt bởi sự cô lập. Cự Môn khi đó tác họa, Sát cách bất chế hóa do tính bất mãn và khởi phát dương lên quan điểm của Cự Nhật cách. Cự Môn có tính ám, trong bố cục này lại không gặp Khoa nên tính cách có phần bất ổn, trong nội tâm thường phản ứng, lo âu suy nghĩ nhiều với những sự việc. Khi có Quyền hóa thành cảnh giác, suy nghĩ sâu hơn nên rõ hơn về sự việc. Tuy nhiên cần định tâm, tức rèn luyện sự lãnh đạm, bình tĩnh ổn trọng của Cự Môn để tích lũy và chế hóa được Sát cách do đại vận đầu tiên bố cục Cự Tồn không được chế hóa hoàn toàn, tác họa khá lớn. Cự khi tốt thành tựu sự nghiệp với bố cục này cốt nằm ở chữ đa nghi, thâm trầm với nam mệnh, với nữ mệnh dụng Tài Danh chủ sâu sắc, đoán tâm ý của người khác tốt. Do bố cục Cự Nhật với nữ mệnh thực luôn có khuyết điểm, dụng theo Văn cách thì trung hòa. Với bố cục Sát khi gặp có điểm đặc biệt khi càng loạn, mất thế chủ động thì tai họa, tai kiếp sẽ đến. Ở đây chính là đại vận Liêm Sát từ 35 người viết sẽ luận sau. 

Sau đại vận thứ nhất với cách cục Cự Nhật hoàn chỉnh giao hội Tồn Tướng Ấn. Nhập đại vận thứ hai từ 15 tới 24 nhập cách cục Thiên Tướng độc tọa cư Tị hình thành bố cục Phủ Tướng đơn thủ. Với mệnh cách Cự Môn nhập đại vận Phủ Tướng không mấy hay về vấn đề tình cảm. Ở đây cách cục Phủ Tướng ngộ Kình Phượng Khốc, bản cung là cách cục Tướng Hổ. Bố cục này mang ý nghĩa khá tốt cho tài danh, cũng chủ sự tương trợ, được đánh giá cao về sự thay đổi. Nữ mệnh Cự Môn nhập đại vận có Kình Tuế Phượng ưa bày tỏ các quan điểm của bản thân ra bên ngoài. Cách cục này mang ý nghĩa thay đổi do bất mãn của bản thân với hoàn cảnh tức bố cục Phủ Tướng. Thiên Tướng trong cách cục này khá tốt về mặt sự nghiệp, chủ tạo ra hướng đi thay đổi, xây dựng đường lối của Cự Môn. Sang đại vận thứ ba từ 15 tới 24 nhập cung độ Thiên Lương độc tọa cư Ngọ. Bản cung Thiên Lương ngộ Tả Hồng Đào Thai Phi giao hội Đồng Linh Xương cư Tuất và Cơ Âm Thanh Khoa hình thành cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh. Cách cục này mang ý nghĩa những ngày vui vẻ, tự bản thân quyết định về phúc may. Thiên Lương đầy đủ Cơ Nguyệt Đồng Lương thì được sự an ổn, ổn định về các mặt. Tuy nhiên ở đây hình thành cách Đồng Linh Xương có tính nghe theo tập thể, tuy Cự Môn trong cách Cự Nhật có tính phản kháng, tuy nhiên nhập vận này dễ tin theo một số ý định, lời khuyên của người khác. Trong trường hợp này bản thân Cự Môn luôn có tính quan sát định hướng tốt nhất cho bản thân, do đó tự bản thân ra quyết định thì dễ đạt được thành tựu hơn việc nghe theo người khác. Ở đây Thiên Lương trong bố cục Đào Hồng hàm chứa may mắn, do đó nếu mạnh dạn làm các công việc thì dễ thành công hơn. Trong vận này nếu muốn xuất ngoại thì năm Tí tức năm 2020 sẽ có khả năng di chuyển cao, cũng là cách cục mang ý nghĩa rời xa tổ quốc nếu hướng ý định sang nước ngoài. Năm Mậu Tuất tức năm nay nhập đại tiểu vận về cung độ Thiên Lương với cách Lương Đào Hồng tại bản cung, với lưu Quyền Kỵ về tổ hợp đại tiểu vận. Trong năm nay sẽ có phát sinh về tình cảm, cũng có phát may. Nữ mệnh tùy lựa chọn của bản thân định cách hướng đi theo tình duyên cách hay tài quan cách. Nhìn chung năm nay là năm khá tốt đẹp và bình ổn. Năm Tân Sửu tức năm 2021 nhập tiểu vận Tử Tham ngộ Tam Ám Hỏa Hư Không Kiếp Hình Mã là tiểu vận xấu, mang ý nghĩa khó khăn bế tắc rất lớn, gây biến động mạnh cho bố cục ổn định của Cơ Nguyệt Đồng Lương. Trong năm này đặc biệt dụng trợ cách hóa Sát, tránh dụng tình duyên cách, hướng Văn cách không hướng tình cảm, cả tình cảm gia đình, nghiên cứu chủ động hay về những bí mật thì chỉ tác họa một phần. Nhìn chung đại vận này tiểu vận xấu thứ hai tại năm 2021. Tuy nhiên đây cũng hàm chứa tính phát phú, hoạch phát tài cách do hữu Tham Hỏa Kỵ Tang là cách cục tài cực vượng, nắm bắt được thì rất tốt, trong năm này sẽ hình thành nên tham vọng về vật chất, do chứa Sát tính rất mạnh nên cẩn trọng, có thể họa tới thân, nếu tuyệt khí có thể sát thân, tuy nhiên mệnh thân khí vẫn vững, dụng trợ cách thì có thể được thành tựu, họa thuộc về bế tắc lớn, nếu vượt qua thì hoạch phát. Trong đại vận này cũng qua tiểu vận cung Hợi tức năm 2025 nhập cách cục Vũ Phá Không Kiếp Tuần Hình Tang Mã tại bản cung giao hội đủ Tam Ám đây là bố cục bất ổn không mấy hay, thuộc tiểu vận xấu nhất trong đại vận này. Khi tiểu hạn dời tới năm này nên cẩn trọng đề phòng trước, cũng đề phòng về sức khỏe của bản thân hay gia đình. 

Nhập đại vận thứ ba từ 35 tới 44. Bản cung cách Liêm Sát cư Mùi giao hội Hỏa Kỵ Diêu Đà Tang Không Kiếp Tuần. Đại vận này mang ý nghĩa không mấy hay, xác định là đại vận xấu, khó khăn trong cuộc đời. Bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tạo nên xung đột, mâu thuẫn khó khăn bế tắc trong cuộc sống. Ở đây lại là cách giao hội với Hỏa Tang Hư Mã ngộ Diêu Đà Kỵ Không Kiếp có Tuần trúng họa. Thất Sát nhập vận ngộ Hình Kỵ đã là cách cục xấu, ở đây lại kiến bố cục Sát tính rất nặng không có chế hóa. Đại vận này cần rất cẩn trọng nếu không phải lộ đồ khảm kha. Ở đây chỉ có một điểm may mắn bởi bản cung Liêm Sát cư Mùi không gặp Sát Kỵ tại bản cung, Hỏa Kỵ hợp với Tham Lang và Không Kiếp đồng độ với Phá Quân có thể chế hóa một phần. Nếu đại vận này không hướng tâm toàn bộ theo Văn Cách thì họa thực không nhỏ, có thể tuyệt khí hay tuyệt mạng do bố cục Sát tác họa lớn. Đây là đại vận cũng nhiều thăng trầm, chữ mất nhiều hơn chữ được, biến động thất thường. Khôi nhập tại cung Mão với Hỏa Kỵ mang ý nghĩa bộc phát thêm họa. Đại vận này là đại vận xấu của cuộc đời, dụng trợ cách Văn Cách có thể tạo bất ngờ về thành tựu về nghiên cứu học thuật, tuy nhiên về bản mệnh suy, mang ý nghĩa không mấy hay, cần cẩn trọng đề phòng tuy nhiên không lo sợ dẫn tới Sát cách bị động không thể hóa cục tác họa bất ngờ càng lớn. Các mối quan hệ hay tạo tác bên ngoài của vận này nên giảm thiểu, do Cự Môn có thể chế hóa được một phần Không Kiếp tuy nhiên tối kỵ với Tam Ám và vận Thất Sát tới Kỵ Hình Tang Kiếp là tai kiếp lớn. Trong đại vận này nếu tiểu vận nhập năm Tị Dậu Sửu đều là các năm đáng lo ngại nên đề phòng. Sát cách không phân bố đều để ứng hợp chế hóa từng đại vận mà tập trung thành tổ hợp cung trọng điểm lại có Tuần Khôi tăng tính chất của tổ hợp nên xấu. Người viết luận đại tiểu vận trùng phùng cách Thất Sát Kỵ Hình Không Kiếp Tam Ám có Tuần Khôi trong thời loạn thì đa phần vong mạng, với mệnh cách Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Thái Dương, Vũ Phủ thường là vận cuối. Tuy nhiên ở thời bình bố cục này tuy có mệnh tuyệt khí tại vận này, đa phần do Sát cách cực vượng khó dụng, kẻ theo đường võ nghiệp hay xã hội, phi pháp nhập vận này cũng gặp tai kiếp. Người thường cũng gặp họa lớn với tổ hợp cung trọng điểm này. Với bố cục Sát tinh nếu nhập bản cung vận mang ý nghĩa xấu hơn. Với trường hợp Cự Môn dụng Văn cách, nên hướng tới tư tưởng khác biệt, hóa được Kỵ toàn cục giảm tác họa, cũng cần xem trọng ở vấn đề bệnh tật. Bản cung không có Sát là may mắn của nữ mệnh, tuy nhiên cần rất cẩn trọng do tổ hợp này tác họa lớn. Nghiệm lý qua nhiều lá số tử vi đông a với bố cục bởi thời bình với cách cục này dễ gặp bệnh nan y cũng có thể xảy ra do khí Sát vượng thì bản mệnh không vững, ứng hợp với bệnh tật ở đa phần trường hợp Cự Môn và Thiên Phủ. Ở đây nữ Mệnh Thân nhập vòng Trường Sinh nhưng vị trí Mộ nên cát hóa không mạnh. Một số ít mệnh tạo khí hình vượng hoạch phát qua vận Sát rất lớn, tuy nhiên thăng trầm hoạch phát hoạch phá bất ổn tai kiếp bởi cách cục này không nhỏ. 

Qua vận cung Điền Trạch. Từ 45 tới 54 nhập đại vận VCD có nội Cự Nhật, ngoại cách là Cơ Âm Khoa Thanh. Đại vận này nhập cung độ Trường Sinh, bản cung có Bật Ấn giao hội Quyền Khúc. Đây là bố cục khá tốt đẹp, vững bản mệnh khi qua đại vận trước. Bố cục này mang ý nghĩa khá bình ổn, là vận tốt đẹp của nữ mệnh. Tuy đại vận có phần xung đột và bất mãn phản đối của Cự Môn nhưng không gặp bố cục Sát. Trong bố cục ngoại Cơ Âm khá tốt đẹp bên ngoài thì tiếp xúc bên ngoài mang ý nghĩa hay. Cự Nhật nội cách là khởi tạo, mang dương tính lớn, với cách Cự Tồn thường bất cẩn ngôn trong đại vận này nên cân nhắc khi sử dụng ngôn ngữ phản kháng hay bày tỏ quan điểm. Nhìn chung mệnh Cự Môn tới vận này có nhiều bất mãn trong nội tâm nhưng không tác họa lớn. Cũng cần lưu ý thêm với bệnh tật hay sự đánh giá của người khác không mấy hay về bản thân dẫn tới phản kháng và họa tới do bất cẩn ngôn. Qua vận Cự Nhật tức về tổ hợp tam hợp của bản Mệnh Tài Quan nhập tới cung độ Tật Ách hay Nô Bộc là chịu tác động mạnh hơn của tật bệnh lão, và chịu tác động của bên ngoài hoàn cảnh tới bản thân. 

(Dẫn theo trang www.luantuvi.vn)