Luận lá số tử vi đúng hơn ( Phần 3 )

Quan trọng của các bố cục bàng tinh ở Thiên Can và Địa Chi

Trong lá số Tử Vi chia làm 12 cung độ ứng với 12 địa chi gồm Tí Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Daauu Tuất Hợi. Ở đây cần phân biệt giữa Địa chi của năm sinh và Địa chi trên Thiên Bàn lá số. Thiên Can và Địa Chi của năm tác động tới các sao và được biểu diễn trên Địa Chi hay các cung số. Điều này phân biệt khiến các tính chất đặc trưng được rõ ràng. Xét các Thiên Can tức khởi nguyên thuần khí của ngũ hành, tác động khiến vị trí các sao biểu hiện trên cung độ địa chi lá số. Địa Chi của năm là nơi tàng ẩn Thiên Can, chứa khí hỗn hợp của ngũ hành. Các sao an theo Thiên Can có tính chất hiển lộ, tác động trực tiếp thay đổi toàn bộ tổ hợp sao. Như các vị trí của Lộc Tướng Ấn, Thanh Phi Phục, Lưu Hà, Khôi Việt, Kình Đà. Đây là nhóm sao phân chia tính cách của mỗi con người dựa vào Chính Tinh thủ mệnh và tổ hợp của Chính Tinh mà biến hóa. Khi đi với các Thiên Can cùng với 6 địa chi phân làm hai loại tùy Thiên Can dương hay âm. Nhóm thứ nhất gồm các địa chi Thân Tí Thìn Dần Ngọ Tuất. Nhóm thứ hai gồm các địa chi Hợi Mão Mùi Tị Dậu Sửu. Các thiên can Giáp Bính Mậu Canh Nhâm đi với nhóm thứ nhất. Các Thiên Can còn lại là âm đi với nhóm thứ hai. Điều này chia ra các hạng người với tính chất chung trong Tử Vi theo Địa Chi. Với Thiên Can dương thì vị trí của cung Mệnh ứng với cách cục ban đầu của bàng tinh. Với Mệnh an tại các cung thuộc nhóm địa chi năm thứ nhất, tức các cung Thân Tí Thìn Dần Ngọ Tuất cho ra kết quả luôn có nhóm sao Tuế Hổ Phù, Tang Hư Khách, Phượng Khốc, Long Trì Quan Phù.

Với Mệnh an tại các cung thuộc nhóm địa chi năm thứ hai, kết quả luôn có bộ sao Đào Hồng Hỉ, Kiếp Sát, Cô Quả. Bản chất ban đầu của tính chất qua bàng tinh chia thành hai nhóm sao. Thứ nhất là bộ Tuế- Hư, nhóm còn lại là bộ Đào Hồng. Tương tự với Thiên Can âm chia làm hai nhóm của cung độ theo các địa chi và luận theo hướng ngược lại. Tính chất của Tuế Hư thuộc về thái độ cư xử, giao tiếp và suy tưởng của bản thân. Tính chất của bộ Đào Hồng mang tính tự tạo, tự khởi thiên về mặt hành động. Nhìn lá số sau khi luận chính tinh nếu rõ cách sắp xếp này cho ra bản tính của đương số là thiên về hành động hay suy tưởng. Chính vì vậy khi Đào Hồng xấu tức ngộ Không Kiếp dễ yểu tử, họa tai. Nếu Thái Tuế ngộ Không Kiếp là cách suy tưởng, thái độ mang tai họa không xấu như Đào Hồng. Xét về Thiên Can cho ta cái nhìn bao quát hơn về sự tác động của chính Thiên Can tới các vị trí của cung số. Cách cục này có uy lực lớn. Có thể chia ra làm 4 cách chính gồm Lộc Tồn Tướng Ấn, Thanh Phi Phục, Kình Hao, Đà Hao đủ cả 12 cung. Với Mệnh tọa ở mỗi tổ hợp có thể đưa ra các nét khái quát về tính cách. Kế đến do Thiên Can chứa đựng cả Hóa Khí của Chính Tinh, các tác động của Tứ Hóa Khoa Quyền Lộc Kỵ hiển lộ như việc kết quả của một quá trình. Bộ sao Khôi Việt có tính chất quan trọng với các bàng tinh nói chung và các sao an theo Thiên Can nói riêng. Đây là bộ sao quý nhân, chủ sự quý, vượt, hơn người nên đi với Chính Tinh như tác động khiến Chính Tinh trở về vị trí miếu địa. Thực chất do tính chất bộc lộ khi an theo Thiên Can mà ra. Thiên Can chủ hiện, Địa Chi chủ ẩn. Các sao an theo Địa Chi cũng có tính chất như vậy.

(Dẫn theo trang www.luantuvi.vn)