Luận tử vi mệnh cách ứng hợp

Trăm mệnh Cự Kỵ Hình đều là cách hình tướng khẩu lệch, tướng mệnh méo. Cách Cự Môn hóa Kỵ ở can Đinh nhập mệnh. Người nghiên cứu tử vi có thời gian nghiệm lý thì biết được Thiên Hình an theo cách khác với lệnh tháng là theo giờ sinh. Với mệnh tạo sinh giờ Sửu sao này an tại Tài cung. Sinh giờ Tị thì an tại Mệnh. Sinh giờ Dậu an tại Quan cung. Ba giờ sinh này có thể định cách sao Thiên Hình trong bộ Hình Diêu tác động mạnh tới mệnh cách. Do đó thường người viết định lá số chưa xác định thời gian lệch nhiều canh giờ hay khán hạn định số thường dùng các bộ sao an theo Giờ tác động tới tính cách để phối hợp đinh số. Mệnh tạo nếu có Cự Môn thuộc can Đinh, sinh giờ Tị Dậu Sửu trăm mệnh cả trăm đều có tướng trạng như vậy. Đây là nội cách bởi bản tính. Các bố cục Sát thường tác động quyết định mạnh tới bản tính. Tử vi diệu dụng ở định cách nội tâm. Khi chịu tác động bên ngoài xã hội, các bố cục như Cự Kỵ Hình bắt đầu ứng hợp và tác hóa phối hợp khí hình sinh ra biến hóa sai biệt với bên ngoài. Với bố cục này, mệnh tạo theo khuynh hướng hình pháp thì đắc dụng, theo khuynh hướng Quan Cách thì có họa do khẩu nghiệp. Sự biến hóa do chủ ý hay vô ý dẫn hóa bởi hoàn cảnh thực tế bên ngoài dẫn tới kết quả khác nhau, trong nội tâm tướng, bố cục ý nghĩa cơ bản vẫn không đổi. Cũng vậy nếu mệnh tạo gặp cách cục Cơ Kỵ Kình Hỏa Kiếp đồng độ trăm mệnh tất cả đều có vấn đề về đầu não, tư tưởng. Đây là cách cục ý nghĩa cơ bản của Thiên Cơ giao hội Sát cách lấy Hỏa làm nòng cốt. Thường là cách cục tâm ý cuồng loạn, luận rất nhiều lá số cách cục này mệnh tạo tâm thần bất ổn, có bệnh về dạng này, sát ý lớn có thể gây ra những hành vi tội ác. Trăm mệnh cách cục này đều luận vậy. Cũng với bố cục Tướng ngộ Đào Hồng Xương Khôi hay Tướng Phượng Khôi Khúc bản cung nhan sắc đều tốt đẹp. Trăm mệnh cách đều luận vậy. 

Khi biến hóa ứng hợp bên ngoài theo hoàn cảnh. Có mệnh tạo tạo tai họa hình pháp, có mệnh tạo cuồng loạn, có mệnh tạo dụng được bố cục Sát vượng tuy mưu tính nhưng thành tựu lớn. Cổ nhân luận toán mệnh chính tông nhắc tới trợ cách. Tuy nhiên an định cục diện xã hội không lưu truyền ngoài. Tử vi đông a luận cách cục lấy trợ cách là

Cũng vậy như cách Cự Kỵ Hình hay Cơ Kỵ Hình Hỏa Kiếp, hay cách Cơ Khốc Kỵ chủ bệnh tật về phế tức phổi là cách cục chắc chắn mang kết quả như vậy. Trong tử vi hình thành các bố cục trọng điểm tạo tai kiếp tuyệt mạng khi ứng hợp với hoàn cảnh bên ngoài thực, cũng có cách cục hoạch phát tài danh với các hoàn cảnh khác nhau bên ngoài hay khí hình. Hoàn cảnh bên ngoài tức thực tế, trên lá số tử vi chỉ là bố cục là Khí, hoàn cảnh thực tế là Hình. Ứng hợp là Khí Hình. Tử vi đông a dụng trợ cách là dụng bởi Khí Hình. Hình tác động để dẫn hóa Khí mang ý nghĩa ngoài thực tế của cách cục. Do vậy khi Hình tức hoàn cảnh bên ngoài như vận nước gặp chiến loạn thì dẫn các cách cục của tổ hợp mang ý nghĩa hóa theo. Mệnh tạo các khuynh hướng thời bình khác nhau hay mệnh tốt, mệnh an ổn đều ứng hợp dẫn hóa nếu Hình suy tuyệt thì Khí không có điểm dẫn. Tới cách cục mạng vong mặc mệnh cách tốt. Ở thời chiến loạn biên giới phía Bắc năm 1979. Quân Trung Quốc sang xâm lược bất ngờ nước ta với vũ khí, sát thương, sát ý lớn chủ tiêu diệt, tạo thành Hình mang Sát khí cực vượng. Những người dân thường và bộ đội nhiều mệnh cách tốt xấu đều dẫn hóa bởi Hình khiến các bố cục biến hóa dẫn tới tuyệt mạng cả mệnh tốt xấu. Những mệnh cách xấu mang tổ hợp ứng hợp cách như có Kỵ Hình Linh Việt quyết định cách chắc chắn tuyệt khí. 

Ở vị trí và thời gian khác nhau Sát cách của Hình biến động khác nhau. Vạn vật luôn biến đổi là lý thực của trời đất. Với mệnh cách xấu Kỵ Hình Linh Việt ở Hà Nội thì chắc chắn không vong mạng với Hình vậy, tuy nhiên dễ chết ở thời điểm khác. Ở trong hoàn cảnh vậy, mệnh cách Sinh khí cực vượng sẽ thoát được tai kiếp này. Nếu mệnh cách bố cục Lương Sinh Việt Tồn bất giao lai Sát Kỵ thì tổ hợp hình thành trọng điểm cách mang ý nghĩa phát may, thoát tai kiếp ứng với Hình vậy có thể thoát nạn. Tuy nhiên nếu Hình cách tạo Sát bởi vũ khí sát thương lớn hủy diệt mạnh hơn như hạt nhân ở Nhật Bản thì bố cục cần cát hóa cực vượng. Nếu hình thành cách cục mệnh vận Đồng Lương Sinh Tồn Kỵ Khoa Việt là cách cục bất phạ tai ương, đa phần may mắn rời đi khỏi tai kiếp họa hoạn. Lấy thí như vậy để rõ hơn về Khí Hình. Vì vậy nếu mệnh vận khá tốt đẹp khi vận thiên hạ xấu vẫn phải gặp tai họa. Với hoàn cảnh tai họa thì vòng Trường Sinh có khả năng tác hóa cát rất mạnh, cũng có khả năng chế hóa Sát tuy nhiên nhiều người luận tử vi thường không coi trọng vòng sao này coi để luận sức khỏe. Các bố cục tai kiếp đa phần dẫn tới tuyệt khí tới tuyệt mạng. Với cách cục bệnh tật nan y cũng vậy. Vòng Trường Sinh tác động lớn tới Sát cách ở điểm trên, có thể chế hóa Sát cách. Trong tử vi có các mệnh cách nhất định hoạch phát tài danh, đây là cách cục do tổ hợp sao hợp hóa mang ý nghĩa tốt, bất luận xuất thân hoàn cảnh ban đầu đều có thành tựu lớn. Tuy nhiên các bố cục này không thường gặp như phú luận và có phần sai biệt với thường luận, đa phần ở bàng tinh, Lục cát tức Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc với Lục sát gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp với Khoa Quyền Lộc và Kỵ Hình, ba vòng Lộc Tồn, Thái Tuế ( Phượng Khốc ) và Trường Sinh và quan trọng tại tính đồng độ của các sao khiến tính chất hóa hợp của các bố cục. Có mệnh thượng cách và hạ cách. Mệnh hạ cách không phải chỉ bởi Sát tinh trùng phùng, nhiều khi là bởi Khôi Việt Xương Khúc phối hợp sai cách dẫn tới mệnh ưa an nhàn, không có chí tiến thủ, vượt qua khó khăn bế tắc. 

(Dẫn theo trang www.luantuvi.vn)