Lưu ý cung Phối

Xem Phu Thê phải xét Mệnh, Thân Phúc

Các sự kiện trong cung Phu-Thê mà nhà thuật số có thể cân nhắc thuộc về các phương diện hạnh phúc đời người :

1. Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở ?.

2. Có sự hình khắc, tử biệt sinh ly không?

3. Có xung khắc nhau không ( những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già ?

4. Có mấy đời vợ chồng ? Đàn ông có mấy vợ không ?

5. Vợ hay chồng có tốt không ? (Vợ đẹp, ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện … )

Muốn biết đại cương cung Phu-Thê tốt xấu, phải xem các sao trong cung đó, nhưng trước hết, cũng phải xem cung Mệnh, Thân và Phúc Đức.

Sở dĩ phải xem Mệnh, Thân và Phúc Đức, là bởi vì người có Mệnh, Thân và Phúc Đức tốt, tất cả được hưởng ảnh hưởng tốt và hạnh phúc và cái đó phải ảnh hưởng vào Phu-Thê (đó là chưa kể rằng cung Phu-Thê thuộc nhóm cung Mệnh Thân, và có các cung Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di chiếu tới)

Nếu cung Phu Thê xấu mà được cung Mệnh, Thân và Phúc Đức tốt, thì cũng giải trừ được nhiều sự xấu (bớt sự xung khắc, bớt hình khắc chia ly).

Nếu Cung Phu Thê tốt, mà cung Mệnh, Thân và Phúc Đức lại xấu, thì những cái tốt của cung Phu-Thê cũng phải giảm đi.

Cũng có trường hợp Mệnh xấu, Phu-Thê xấu, lấy vợ lấy chồng gặp toàn cảnh ngộ tệ hại, thế nhưng sang đến Thân tốt , thì cũng Phu-Thê ấy, mà lại được hưởng tốt (Thân ăn về hậu vận, từ tuổi 30 trở ra; đương số lấy vợ lúc trẻ tuổi, gặp vợ lăng loàn, chịu cảnh xung khắc rồi phải … ở góa; nhưng sang đến Thân được ảnh hưởng tốt; lại lấy được vợ tốt, hiền hòa, ăn nên làm ra, vợ chồng hòa hợp)

Cần nắm vững Mệnh, Thân và Phúc Đức mới giải đoán được đúng cung Phu-Thê.

Ảnh hưởng Chính tinh

Quý vị có thể coi các sách Tử-vi, đã soạn sẵn những cách và ý nghĩa khi gặp những Chính tinh miếu hay hãm, rồi lại có những cách trung tinh (nhớ xét đến Ngũ hành của bản Mệnh và Thân với các Chính tinh và trung tinh). Xin tóm tắt sau đây ý nghĩa các cách ở cung Phu-Thê :

• Tử-vi tại Ngọ : Hòa hợp đến già, khá giả

• Tư-Phủ đồng cung : Hòa hợp đến già, khá giả

• Tử-Tướng đồng cung : Cùng cứng cỏi, xích mích. Nhưng khá giả, ăn ở được với nhau.

• Từ-Sát đồng cung : Tiên trở hậu thành và lập gia đình trễ mới tốt.

• Tử-Phá đồng cung :Hình khắc hoặc kém thuận hòa.

• Tử-Tham đồng cung :Thành hôn trễ mới tốt, ghen tuông.

• Liêm Trinh đơn thủ tại Dần Thân: Mấy lần lập gia đình.

• Liêm-Phủ đồng cung : Trễ mới tốt, chung sống tốt, khá giả.

• Liêm-Tướng đồng cung : Bất hòa.

• Liêm-Sát đồng cung : Hình khắc muộn mới tốt.

• Liêm-Phá đồng cung : Bất hòa.

• Liêm-Tham đồng cung : Xung khắc.

• Thiên Đồng tại Mão : Trễ mới tốt.

• Thiên Đồng tại Dậu : Bất hòa.

• Thiên Đồng tại Tý dễ gần, dễ xa.

• Thiên Đồng tại Thìn Tuất : Xung khắc.

• Đồng Lương đồng cung : Đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

• Đồng, Nguyệt tại Tý đồng cung : Đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.

• Đồng, Nguyệt tại Ngọ : trễ mới tốt.

• Đồng Cự : Xa nhau một thời rồi mới đoàn tụ.

• Vũ Khúc tại Thìn Tuất : Trễ mới tốt

• Vũ Phủ đồng cung : Có bất hòa, nhưng khá giả đến già.

• Vũ Tường đồng cung : Vợ đảm, chồng sang. Có xích mích, nhưng khá giả đến già

• Vũ Tham đồng cung : Trễ mới tốt.

• Vũ Phá đồng cung : Giỏi, trễ mới tốt

• Vũ Sát đồng cung : Hình khắc, dễ xa nhau.

• Thái Dương sáng : Hòa hợp, khá giả đến già.

• Thái Dương tối : Cưới xin trắc trở , trễ mới tốt.

• Nhật-Cự đồng cung tại Dần : Bất hòa nhưng chung sống đến già.

• Nhật-Cự đồng cung tại Thân : Trễ mới tốt.

• Nhật-Nguyệt đồng cung : Khá giả, nhưng trễ mới tốt.

• Thiên Cơ ở Tỵ, Ngọ, Mùi :Thành hôn sớm, khá giả, ở được với nhau

• Thiên Cơ ở Hợi, Tý, Sửu : Trễ mới tốt.

• Cơ Lương đồng cung : Lấy dễ, khá giả hòa thuận đến già.

• Cơ Cự đồng cung : Người xứng đáng, trễ mới tốt.

• Cơ nguyệt đồng cung ở Thân : Người xứng đáng, cưới sớm.

• Cơ nguyệt đồng cung ở Dần :Hay khó khăn, trễ mới tốt.

• Thiên Phủ ở Tị, Hợi : Khá giả, hòa thuận đến già.

• Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu : Khá giả và chung sống đến già tuy hay cãi nhau.

• Thái Âm sáng : Khá giả, cưới sớm, chung sống bạc đầu.

• Thái Âm tối : Bất hòa, hôn phối không tốt, trễ mới tốt.

• Tham Lang tại Thìn, Tuất, Tý, Ngọ : Tốt, nhưng hay ghen. Trễ mới tốt.

• Cự Môn tại Tý, Ngọ, Hợi : Khá giả, ở được với nhau, nhưng hay bất hòa.

• Cự Môn tại Thìn, Tuất, Tỵ : Xung khắc, hay bỏ nhau.

• Thiên Tướng : Trai nể vợ, gái lấn áp chồng, trễ mới tốt.

• Thiên Lương Tý Ngọ :Vợ đẹp, chồng sang, khá giả.

• Thất Sát : Trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

• Phá Quân : Trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

Ảnh hưởng của Trung Tinh và Hung Tinh

Các trung tinh tốt cho thêm ảnh hưởng tốt, về vợ hay chồng khá giả và về sự thuận hòa : Xương, Khúc, Khôi, Việt.

Sát tinh (Không-Kiếp, Kình-Đà, Linh-Hỏa) : miếu vượng, thì chủ bất hòa, hoặc chia ly thời gian ngắn; hãm thì hình khắc, họa hại , người hôn phối xấu xa, bậy bạ … Cũng phải xét thêm ở chỗ giao ảnh hưởng với các sao khác :

• Tả-Hữu : Tăng ảnh hưởng cho sao tốt hoặc cho sao xấu.

• Hóa Lộc : hôn phối giàu.

• Hóa Quyền : Vợ lấn quyền, chồng sang.

• Hóa Khoa : Hôn phối có học, có chức.

• Hóa Kị : Bất hòa.

• Lộc Tồn, Cô-Quả : Nên cưới trễ sẽ tránh chia ly.

• Thiên Mã : Nên duyên ở nơi xa.

• Phục Binh : Đi lại với nhau rồi mới cưới.

• Tướng Quân : Đi lại trước, cưới sau.

• Ân Quang, Thiên Quý :Vì ân tình mà lấy nhau.

• Song Hao : Cưới dễ hoang tòan.

• Cô, Quả : Bất hòa, hay xa cách.

• Đào, Hồng : Cưới xin dễ dàng, nhưng nếu Đào Hồng hãm : hình khắc chia ly.

• Thiên Diêu : Hoang dâm, bất chính.

• TUẦN-TRIỆT : Trễ mới tốt (để khỏi bị hinh khắc)

Ảnh hưởng Chính Tinh so với Trung Tinh

Trong cung Phu-Thê, có cả chính tinh và trung tinh gặo nhau thì ảnh hưởng của Chính tinh mạnh hay ảnh hưởng Trung tinh mạnh ?

Xin thưa : Ảnh hưởng Chính tinh mạnh hơn ảnh hưởng Trung tinh.

Vậy nên chính tinh mà tốt, gặp Trung tinh xấu, thì cái tốt chỉ giảm đi chứ không bị xấu.

Nếu chính tinh có ảnh hưởng xấu gặp trung tinh tốt, thì cái xấu bớt đi chứ

cái tốt chưa có

Tuy nhiên có nhưng cách cố định, gặp phải là có một ảnh hưỡng nhất định, hoặc có những Trung tinh, hung Sát tinh mạnh thì ảnh hưởng có khi lấn át cả Chính tinh.

VÀI DỮ KIỆN THÍ DỤ

– Phu-Thê có Cô-Quả, Đào-Hồng hãm, Tả Hữu, Không -Kiếp là báo hiệu sự hình khắc, chia ly.

– Lộc Tồn, Vũ Khúc, Cự Kỵ cũng thường báo hiệu sự chia ly.

– Một người có Tử-Phủ, Không Kiếp ở Thê, là cái tốt bị phá mất, mai mối nhiều lần không xong. Nhưng nếu sang Thân (ứng về hậu vận từ 30 tuổi trở ra), tốt thì lại dở. Người đó lập gia đình muộn,từ năm 35 tuổi trở đi, được tốt.

Sự kiện được ghi ở các cách chính tinh nêu ở trên (trễ mới tốt) được nghiệm ra là rất đúng. Gặp những chính tinh đó lập gia đình trễ thì không sao, tức là tránh được hình khắc chia ly.

-Xem vợ bé, phải xét cung Nô.

Tuy nhiên, cũng có cách người góa vợ, lấy vợ sau, phải đoán ra. Như gặp Tả-Hữu, Hồng Đào hãm, Không Kiếp, Cô Quả là cách góa vợ, nhưng lấy vợ sau thì khác đi.

– Có Tuần Triệt thì lập gia đình gặp cản trở. Hai người chê nhau, hoặc gặp khó, nhưng chỉ khó lần đầu thôi. Không phải có Tuần Triệt là không có vợ chồng. Còn Tuần Triệt gặp Tướng thì hình khắc (Tướng ngộ Tuần hay Triệt là cách độc).

Một người Mệnh có Liêm Trinh đắc địa, Thiên Không, Hồng Loan tại Dần, Thân, Tị, Hợi , là người đứng đắn, lòng chỉ muốn tu, thì không nghĩ đến việc lập gia đình. Tuy nhiên đến năm 35 tuổi gặp Đào, Thai, Phục, Vượng, Tướng… lòng tự nhiên thấy mở rộng ra tình yêu hoặc gặp trường hợp đặc biệt (!?) , thế là thành vợ thành chồng. Có sao đứng đắn , phải gặp lúc có những sao thật bay bướm mới thành hôn.

Hạn lấy vợ, lấy chồng

Xưa lập gia đình, nay trễ. Như vậy, cũng những người đó, những lá số đó, hoàn cảnh đất nước (như chiến tranh, đời sống khó khăn, việc lập sự nghiệp đeo đẳng kéo dài ….) có thể làm lệch số mạng chăng ? Cũng không hẳn thế, là vỉ có số mạng, nhưng cũng có con người quyết định mới được.

Vậy chăng. số vẫn có, bởi vì những cách báo hỉ vẫn xuất hiện, không năm nay thì qua năm khác.Năm nay không báo hỉ, không hôn nhân thì thi đậu, hay đi làm, không thi đậu, đi làm thì hôn nhân.

Sau đây là nhưng vận hôn nhân :

• Đại Tiểu hạn trùng phùng tại cung Phu hay Thê (Đại Hạn ở Thê cung. Tiểu hạn cũng vào cung đó.

• Hạn có Nhật-Nguyệt chiếu.

• Hạn có Đào Hồng Hỉ .

• Hạn có Sát, Phá , Liêm, Tham …..

Tức là những hạn có hỉ tinh. Phải xem cả Đại hạn và Tiểu hạn. Đại hạn có cách báo hỉ. Tiểu hạn cũng có cách báo hỉ, thì đó là hạn thành hôn.

Trường hợp Thân Cư Thê và chồng sợ vợ

Người đời thường bảo rằng Thân đóng ở Thê là người sợ vợ , hay nói cho nhẹ đi là người nể vợ, điều đó rất sai.

– Thân cư Thê : Không phải là sợ Vợ.

– Thân cư Thê cũng không đương nhiên là nhờ vợ, cũng không phải Thân cư Phu là đương nhiên nhờ chồng. Thật thế, Cung Thê hay Phu mà xấu thì nhờ được nỗi gì đây? Họa chăng là cung đó tốt, nghĩa là chồng hay vợ được giàu sang, mình mới nhờ.

Vậy Thân cư Thê có nghĩa là gì ? Có nghĩa là cuộc đời của đương số chịu ảnh hưởng liền vào với vợ. Thân cư Phu cũng vậy. Chịu ảnh hưởng thì rời ra không được. Một Ông Thân cư Thê mà chúng tôi biết được một bà xã rất tháo vác, một tay quán xuyến việc nhà, ông không phải lo gì hết. Một ông khác Thân cư Thê, giao hết con cái cho vợ để ông đi làm chính trị, đôi khi ông cũng léng phéng, nhưng các cô mèo chỉ đi thoáng qua và ông vẫn coi vợ trọng hơn hết. Cũng có thể là ảnh hưởng bà xã mạnh ông chồng nể vợ là ở chỗ đó.

Thế tại sao chồng lại sợ vợ ? Gặp cách nào thì chồng sợ vợ ? Đó là khi cung Thê có quyền tinh. Vợ mà có quyền thì ông chồng phải sợ. Các cách quyền tinh ở cung Thê là những cách đứng đắn và quyền hành :

• Thiên Tướng, Quốc Ấn (mạnh)

• Tướng Quấn, Quốc Ấn (mạnh vừa)

• Hóa Quyền

• Khôi, Việt.

• Tử-vi, Tả, Hữu.

• Thiên Phủ, Tả Hữu …

———-

1. Cách đa phu tại cung Phu:

Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia đạo đặc biệt là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là “ngọc có vết”, ám chỉ duyên số phụ nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng cho đến hậu quả trên hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là có hai đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn bà bị hắt hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ có Kỵ đơn thủ thì chỉ có nghĩa là bất hòa mà thôi.

Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn hãm địa sẽ bất lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài lần. Trái lại, nếu ba cung trên tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà thôi.

Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh: khắc phá, dễ đi đến tan vỡ, chắp nối.

Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê dù là đắc địa. Tuần, Triệt báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao thường báo hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba lần. Chỉ riêng Tuần hay Triệt cũng đủ hủy hoại một lần hôn nhân.

Tuần, Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung: chỉ sự gãy đổ một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau khi có lễ hỏi, nặng nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần, Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó tránh và có thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc phải ở vậy nuôi con, dù có “lắm mối” mà tối vẫn “nằm không”. Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có. Hai sao này phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ nặng nhẹ, số lần tan hợp còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.

Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia đạo nhiều lần, đặc biệt là khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.

Tử Vi, Tham Lang hội Tả, Hữu: Riêng Tả, Hữu ở Phu ám chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai đời chồng hoặc nếu Mệnh, Thân có nhiều sao tình dục thì có chồng và có cả nhân tình.

Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì Thiên Hình chỉ sự ghen tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám chỉ một vụ ngoại tình nào đó của người chồng (hay vợ) làm đổ vỡ gia đạo, sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính quá ghen tuông của người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn có Đào Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường tái diễn và việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.

Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có phần nặng hơn vì Thiên Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi Đào Hoa có thể chỉ bay bướm lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa là chồng ngoại tình song đây cũng là cách gái hại chồng, phản chồng để thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ khi Riêu thủ ở Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng, ngoại tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương tích) hoặc kiện ly dị.

Đào Hoa hay Hồng Loan gặp Hóa Kỵ: không nhất thiết phải có hai chồng. Chắc chắn nhất là bộ sao này chỉ sự đắc mèo của chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu là có sự lục đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan chính thì vấn đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa “phu”. Nếu nhân duyên bị gián đoạn, người đàn bà tái giá rất nhanh, nhờ luôn có kép hờ.

Long Trì, Phượng Các, Tả Hữu: Long Phượng chỉ hôn nhân, còn Tả Hữu ngụ ý có sự song đôi hay tái sinh, tái hợp nhiều lần. Vì bản chất tốt đẹp của Long Phượng nên trong cả hai lần, phụ nữ đều gặp nhân duyên ưng ý.

Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng và vợ đi đôi với Tả Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình hoặc tình trạng có gia đình mà có nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng sáng, hai mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ ám, thường là ngang trái, chia ly.

Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.

Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Riêu: Cự ở Phu chỉ trắc trở gia đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu chỉ sắc dục. Đây là trường hợp ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự ở Phu thường chỉ hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình xác thịt cho nên cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh lý.

Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới hợp thức hóa (tiền dâm hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ hoặc chồng có một đời con trước rồi mới họp nhau.

2. Cách đa phu tại cung Mệnh hay Thân:

Đào Hoa hay Hồng Loan với Thiên Riêu: đa tình, đa dâm, dù đã có chồng.

Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung: chỉ sự dâm đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi và vô điều kiện. Riêng bộ Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự hiện diện của sao Thai còn có nghĩa “không chồng mà chửa”.

Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn đề sinh lý và là biểu hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do thể xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp Riêu tại đó thì có thể là giang hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.

Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục: Mộc Dục và Hoa Cái chỉ sự chưng diện, se sua và háo dâm. Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm đãng vào tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh lý. Đây là người chưng diện sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi người phải chết mê, chết mệt vì họ.

Tướng, Khúc, Mộc, Cái, Đào: chỉ sự hoa nguyệt của hạng người quý phái, ngoại tình với các nhà tai mặt, quyền thế, sang trọng.

Tham Lang hay Thất Sát ở Dần, Thân: chỉ người con gái bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái hay quyền lợi hơn là vì tình yêu

Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội thêm Tả Hữu, có thể có hai đời chồng.

Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng trong tình trường, cụ thể như gặp nhiều mối tình hết sức ngang trái hoặc phải tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử. Người đàn bà như vậy gặp nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng tan, mỗi lần như thế đều phải điêu đứng, đau khổ, có khi đến tự tử (sát tinh).

Chính tinh hãm địa ở Mệnh: cũng là một bất hạnh có thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm Tham không bao giờ hợp với phụ nữ về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể quyền quý cao sang nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn, chắp nối.

3. Cách đa phu ở cung Nô:

Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có chồng.

Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên Đồng: háo dâm, hay thay đổi tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ có Riêu ở Mão, Dậu thì tương đối kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh giá, tai tiếng. Nếu có Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn thận, nhờ tài khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa là yêu trộm, thương thầm, có khi chỉ một chiều.

Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang chạ.

Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể có thai. Thông thường, có sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục Binh và Tướng Quân chỉ thủ đoạn, làm liều, táo bạo. Và cũng vì có Phục Binh nên có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình bị bắt ghen tại trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.

4. Cách đa phu ở cung Tử:

Khi cung Tử là âm cung thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai chồng: Thiên Tướng, Tuyệt – Thái Âm, Thiên Phúc – Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung – Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu – Phục Binh, Tướng Quân – Thai, Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.

5. Cách đa phu ở cung Thê của phái nam:

Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.

Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm hay ngoại tình.

Đào, Thai hay Hồng Riêu hay Riêu Thai: vợ ngoại tình, lang chạ, đôi khi mang con người về cho chồng nuôi.

Thất Sát hay Phá Quân ở Thìn, Tuất: vợ hai lòng.

Nhiều trường hợp, sau khi kết hôn, người chồng hoặc người vợ vẫn còn mối quan hệ ngoài hôn nhân. Việc này, ít nhiều có gây ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình. Những trường hợp này, đương số có Thiên diêu cư Phúc đức, chủ về người có đào hoa sau hôn nhân, thân tâm thường hoảng loạn, người ở đây mà tâm lại dành cho người khác. Cung Phu thê có Tử vi + Thất Sát cũng có thể luận tương tự như vậy.

+ Tại sao biết hôn nhân của đương số nhiều sóng gió ?

– Chồng của đương số có tình nhân ? Thiên can cung Phúc đức hóa Lộc nhập cung Tử tức.

– Phàm nữ mệnh, có Văn Khúc ở Dần tọa thủ cung Phúc đức, tất ly hôn.

– Cung Phúc đức có Thiên Cơ ngộ Sát ở Tị Hợi Sửu Mùi – người này một đời vất vả, cuối cùng thường vào chốn thiền môn.

– Tử vi + Tham Lang cư Phúc đức, chủ về 1- đứng núi này trông núi khác, 2- tình cảm vợ chồng không có đầu cuối, 3- khi chọn đối tượng kết giao cần chú ý, cung Phúc có Tử Tham là người sống không có đầu cuối.

– Tham Lang ở Tý tọa thủ cung Phúc đức, gặp năm Mậu thì Tham Lang hóa Lộc, đương số chủ động mê hoặc lòng người bằng tiền.

– Tham Lang ở 12 cung, gặp Đại hạn, tiểu hạn hay lưu niên Thái tuế, thì đương số thường có tình cảm trắc trở với người khác giới, sách cổ viết là “Phạm đào hoa cách”. Ngộ thêm Kình dương hay Đà la, thì càng cần phải tránh.

– Liêm Tham hoặc Liêm Tướng (Tị Hợi Tý Ngọ) cư Phúc đức, cần đề phòng việc liên quan đến pháp luật, danh tiếng bị hủy hoại. Đại hạn hoặc tiểu hạn dẫn đến phái Tài, hoặc gặp hỏa hoạn, …

——–

Nhập quái Thái Tuế và Tứ Hóa

Trong tình trạng mê tín nặng nề của xã hội Việt Nam hiện nay, việc so tuổi để chọn vợ chồng, đối tác rất phổ biến. Thực tế thường quan niệm dựa vào địa chi tuổi, ví dụ tuổi Tý thì kiêng người tuổi Ngọ, tuổi Sửu tránh người tuổi Mùi. Cách này quá đơn giản, có nhiều sai lạc lớn. Chỉ lấy chi tuổi để so rất khó đúng, thực tế luôn tìm được ví dụ phản lại cách xem này. Các cặp vợ chồng ly hôn đâu phải do tuổi không hợp, ngược lại những trường hợp bất chấp tuổi mà lấy nhau lại thường chả làm sao.

Tử vi có những cách hiệu quả hơn, chi tiết hơn để xem xét mối quan hệ giữa hai người với nhau. Đó là phép nhập quái Thái tuế và Tứ Hóa, Lộc tồn.

Để xem một đối tượng có ảnh hưởng tới mình thế nào, thì đó phải là người thân cận với mình, có quan hệ qua lại với mình, hoặc sẽ thân cận với mình. Lấy cung có địa chi trùng với địa chi tuổi người đó để xem, ví dụ đối phương tuổi Tý thì xem ngay cung Tý trên lá số mình. Ngoài ra, dùng can năm sinh người đó để xem Tứ Hóa rơi vào cung nào, nếu rơi vào cung Mệnh, Thân của mình thì sẽ có ảnh hưởng rất mạnh. Ví dụ Mệnh mình có Liêm Trinh, lấy vợ chồng tuổi Giáp thì Liêm hóa Lộc, rất tốt, nếu gặp người tuổi Bính thì Liêm hóa Kỵ, rất xấu.

Giáp Can (4): Liêm Trinh hóa lộc, Phá Quân hóa quyền.

Ất Can (5): Thiên Cơ hóa lộc, Thiên Lương hóa quyền.

Bính Can (6): Thiên Đồng lộc, Thiên Cơ hóa quyền.

Đinh Can (7): Thái Âm hóa lộc, Thiên Đồng quyền.

Mậu Can (8): Tham Lang hóa lộc, Thái Âm hóa quyền.

Kỷ Can (9): Vũ Khúc hóa lộc, Tham Lang hóa quyền.

Canh Can (0): Thái Dương hóa lộc, Vũ Khúc hóa quyền.

Tân Can (1): Cự Môn hóa lộc, Thái Dương hóa quyền.

Nhâm Can (2): Thiên Lương hóa lộc, Tử vi hóa quyền.

Quý Can (3): Phá Quân hóa lộc, Cự Môn hóa quyền.

Cách xem Thái tuế nhập quái và Tứ hóa này ứng nghiệm rất mạnh, có thể dùng cho vợ, chồng, con cái, những người quan hệ gần gũi. Kiểm tra những trường hợp vợ chồng, cha mẹ, con cái không hợp nhau thường thấy can năm sinh người này làm Mệnh Thân người kia hóa Kỵ hoặc ngược lại. Nếu mẹ có can năm sinh làm cung Thê của con trai hóa Kỵ thì chắc chắn sau này mẹ chồng con dâu bất hòa nặng nề, hoặc mẹ cản trở phá phách việc hôn nhân của con.

Như vậy sự ứng dụng nhập quái Thái tuế và Tứ Hóa cho nhiều thông tin ý nghĩa hơn hẳn chỉ so tuổi, cũng có thể nói chỉ so tuổi để kết luận có hợp hay không là thiếu sót lớn. Kết luận: nếu thấy đối tượng mình định hợp tác, yêu đương mà nhập quái không lợi t hì có thể kết thúc ngay, dù tuổi ấy có hợp tuổi mình đến đâu đi nữa. Chỉ e do duyên nghiệp mà muốn dứt chả được, đành ngửa mặt than trời số thế, biết làm sao!

Làm Sao Xem Hôn Nhân Không Thuận

Cung Mệnh có các sao bất lợi hôn nhân, như Sát Phá Liêm Tham Vũ Cự Sát Kỵ, hoặc Cung Mệnh Hãm Địa lại thêm Sát mà ba phương Tam Hợp cũng không tốt, hoặc Sát tinh và Đào Hoa Tinh tụ hợp, thì tình yêu và hôn nhân khó mà được mỹ mãn; Nếu Cung Phu Thê tốt, phần nhiều chỉ về người phối ngẫu giàu sang, cũng được một thời vui vẻ, cuối cùng cũng bởi vẻ mặt, khả năng, thân thể của mình không phối hợp được mà thành ly dị; Nếu Cung Phu Thê lại hãm phá, tất không lợi phối ngẫu, cũng bởi hai bên đều hung hãn không hợp mà ly dị, thậm chí khắc chết người phối ngẫu. Nếu Cung Mệnh vượng cát mà Cung Phu Thê lại hung, tất là vợ chồng không hợp mà ly ly dị, hoặc nhiều bệnh tật. Nếu hai bên vợ chồng Cung Mệnh đều tốt, đa số đều là các cuộc hôn nhân mỹ mãn, nếu là các cung tam hợp của Cung Phu Thê gặp Sát Kỵ, dễ vì các tác động bên ngoài mà phát sinh bất hòa hoặc ly dị. Cung Quan Lộc có Hóa Kỵ Tinh tất chủ phối ngẫu (Vợ hoặc Chồng) đa nghi, hay giám sát do đó dễ phát sinh chia rẽ; Nếu thêm gặp năm nhập hạn mà cung phu thê có hung sát tụ lại, thì người phối ngẫu dễ gặp thương tổn ngoài ý, nếu hung dữ hơn có thể mất mạng, đây thường do các Bản Mệnh của người phối ngẫu có các yếu tố yểu tử, chứ không do bản mệnh khắc nhau.

Nam Mệnh Thái Âm tọa, Nữ Mệnh Thái Dương Tọa, tình cảm khác phái rất mạnh, hay gặp gỡ bên ngoài; Hãm địa Phu Thê không có lực, sinh hoạt không đủ; Thêm Sát vào nữa tất đều chủ ly dị, thậm chí hình khắc mà tổn thương. Cung Mệnh Cơ Lương gặp Sát, cũng chủ cô khắc.

Nhật Nguyệt ở Sửu Mùi đồng thủ mệnh, nam thì không ngại, nữ thì không tốt, nếu các sao hội hợp không tốt lại thêm Sát tinh, dễ lạc gió bụi cuộc đời.

Nữ mệnh tọa Dần, đối cung Đồng Lương, chủ hôn nhân có sóng gió; Nếu hội Xương Khúc, khả năng sẽ phải lấy người Nam đã qua trải qua hôn nhân.

Nữ Mệnh Cơ Lương tọa Mệnh, không là muộn hôn nhân thì cũng là hôn nhân không thuận. Thái Dương tọa Mệnh ở tại các cung Tuất Hợi Tý, hình phu khắc tử, thêm Sát thì càng chắc chắn.

Cung Mệnh ở Tý Ngọ Mão Dậu, cung Phu Thê cư Thìn Tuất Sửu Mùi, tình cảm không tốt, hay cãi nhau, tụ thiểu ly đa, gia Sát thì càng hung.

Cung Phu Thê gặp Tứ Sát độc thủ, nam lấy vợ hung dữ (Sư tử Liên Tỉnh), Nữ lấy phải Ác Phu (Chí Phèo Tái Thế) hoặc chồng là dân đã trải qua xã hội đen.

Gặp Lục Sát thủ hoặc giáp, thường là hôn nhân không mỹ mãn, hay khởi ý bất hòa với phối ngẫu, hoặc là người phối ngẫu nhiều bệnh thương tổn, thậm chí dễ khắc thương vong.

Cung Phu Thê có Cô Quả, Phá Toái Tinh cũng là không tốt, không là tụ thiểu ly đa cũng là sinh tử ly biệt. Ba cung tam hợp có Sát tinh, cũng sẽ làm ảnh hưởng quan hệ vợ chồng.

Các cuộc hôn nhân lần hai thường là cung Phu Thê có hai sao chính tinh đồng cung mà lại gặp Sát xung phá, ví dụ Đồng Cự hội Tứ Sát, ứng với nửa đầu đường đời đứt gánh( Bởi Cự Môn là Bắc Đẩu Tinh), nếu chủ Tinh là Nam Đẩu Tinh tất chủ nửa hậu về sau hôn nhân phá bại (Cung Phu Thê nên chỉ có một Chính Tinh Miếu Vượng tọa thủ, gặp hai Chính Tinh đều miếu vượng, không gặp Sát hoặc thành cách cục cũng tốt, nếu không tất là xấu).

Cung Phu Thê ở Dần Thân Tỵ Hợi lại có hai sao Chủ Tinh đồng cung cũng dễ có mấy độ hôn nhân.

Cung Mệnh hai bên phối ngẫu có Sát Phá Liêm Tham cũng ít hòa thuận. Sát Phá Lang ở cung Phu Thê lại hội thêm Sát, cho dù là miếu vượng, gặp hạn năm không tốt cũng dễ phân ly. (Nữ mệnh nếu thêm Đào Hoa Tinh thì khả năng dễ có khi trở thành Cave).

Bản Mệnh mà ở tại các cung Tam Hợp, Tứ Chính có các tổ hợp Đào Hoa, dễ có duyên với khác phái, nếu gặp cung Phu Thê có Xương Khúc, nam thì dễ ra ngoài mở “Phòng Nhì”, nữ mệnh thì đẽ có cảm tình sâu sắc với một người nam khác rồi sau sẽ tái giá “Trở Cờ”.(Văn Khúc Tinh là công khai, Văn Xương Tinh là trong âm thầm).

Cơ Âm cùng Xương Khúc nhập cung Phu Thê, là cách cục nhiều vợ. Cơ Âm tại Thân, Dương Cục nhập mệnh hoặc cung Phu Thê, chủ nhiều tai tiếng.

Nữ mệnh Thái Dương Hóa Lộc nhập cung Phu thê, đoán trước hay có gặp gỡ bên ngoài.

Cung Phu Thê Liêm Trinh hội Không Kiếp, kết hôn 3 lần vẫn nằm không; Liêm Trinh hội Thiên Diêu, cũng không có gì tốt. Nữ mà Liêm Trinh hội Đào Hoa Tinh, rất quậy, song cũng không chắc là Đào Hoa thực dụng.

Cung Phu thê có Liêm Trinh hoặc Tham Lang Hóa Quyền Lộc, hội lại có sự phát sinh tình cảm.

Thiên Lương Hóa Lộc Hóa Quyền, Tham Lang Hóa Quyền ở tại cung Phu Thê, dễ là có phát sinh cảm tình khác; Nữ mệnh đương nhiên bất lợi, trước khi cưới dễ là chồng phát sinh cảm tình với người phụ nữ khác.

Tham Lang Hóa Kỵ, là tình cảm ở vào chỗ khó khăn. Tham Lang Hóa Lộc, người phối ngẫu dễ đi “đánh quả lẻ”.

Cung Phu Thê có Khôi Việt gặp Hữu Bật hoặc Hóa Khoa, nữ mệnh tình cảm sinh hoạt đa đoan, nam thì không ngại.

Cung Phu Thê có Thiên Lương thêm Sát, có ý tượng Ly Biệt, nếu cung Phu Thê ở Tý càng hung hiểm; Cung Phu Thê ở Tý Ngọ có Thiên Lương vào, gặp đối cung có Hóa Kỵ giáp xung, người nữ dề là hôn nhân thoàng như mây trôi.

Nữ Mệnh, Mệnh Phúc tại Dần Thân Tỵ Hợi, tọa là Cơ Âm, Đồng Lương, Liêm Tham đẽ có Đào Hoa, thêm vào một trong các sao Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt thì càng nghiệm lắm.

Mệnh Phúc gặp Thái Dương Thái Âm tọa Thìn Tuất Sửu Mùi, là Âm Dương giao thái, một đời nhều luyến ái, nếu gặp Nhật Nguyệt quay lưng mà mệnh tọa tại Thìn Tuất Sửu Mùi dễ cũng có tính cách biến thái.

Mệnh người phối ngẫu có hai sao Âm Dương tương phản, như Nam Mệnh Âm gặp Dương, Nữ Mệnh Dương gặp Âm, chủ vợ chồng phu xướng mà phụ không tùy, không hòa thuận. Nam Mệnh Thái Âm, Nữ Mệnh Thái Dương tọa, dù là nhập miếu cũng dễ có tình ngoài, duyên đưa; Hãm địa tất không cần nói, nếu hội Sát thì chủ phân ly.

Ly dị

1. Trước tiên xét về cung: Nên phối hợp Mệnh, Phúc, Phối, Tử. Đôi khi chỉ vì một cung có vấn đề mà gây nên trắc trở gia đạo dẫn tới ly hôn. Khi xem nên kết hợp bản Mệnh, Cung và các bộ sao. Chú ý xem có cách hay sao cứu giải gia giảm không mà đoán.

Một số điều tiên quyết về Cung gây trục trặc hôn nhân:

Cung Phối bị Tuần Triệt đồng cung

Cung Phối bị Sát tinh xâm phạm

Cung Phối bị hao, ám, bại, hình tinh đi với sao thay đổi, đau buồn, nước mắt, cô độc.

Cung Phối có sao chỉ hai đời chồng / vợ

Cung Phối có sao chỉ con dị bào

Lá số hai vợ chồng có bản Mệnh khắc nhau

Cung Phúc có nhiều sao bất hạnh về gia đạo (cao số, dang dở)

Cung Mệnh Thân có nhiều sao xui xẻo, đau thương, nhất là với nữ số

Có dấu hiệu ngoại tình ở Nô , Di

Cung Tử có dấu hiệu hai dòng con

2. Xét về các bộ sao chia ly:

Tử Sát: Không may, chậm trễ hôn nhân, bỏ nhau nếu lấy sớm

Tử Phá: chia ly, hình khắc, hay hiềm khích, gây gổ vì ko ai chịu ai.

Liêm Trinh Dần Thân: Dễ lấy vợ chồng nghèo, dễ phải chắp nối.

Liêm Tướng: Hay gây gổ, không tử biệt cũng sinh ly do một trong hai bất nhẫn, nóng tính.

Liêm Tham: Dễ chia ly, có thể một trong hai bị hình tù.

Liêm Sát: Chậm gia đình, dễ bị chia ly.

Thiên Đồng Thìn Tuất: Bất hòa dẫn tới chia ly. Một trong hai dễ thay lòng đổi dạ.

Đồng Âm cư Ngọ: Vợ dễ có lỗi mà chia ly.

Đồng Cự: Hay gây gổ cãi nhau, nghi ngờ nhau gây thị phi mà chia ly.

Vũ Sát: Hình khắc nặng nề, gặp Sát tinh dễ dẫn tới sinh ly tử biệt

Vũ Phá: Nếu sớm lập gia đình cũng dễ chia ly.

Âm Dương đồng cung: Nên muộn mới bớt cảnh chia ly.

Cự Nhật: Cũng dễ chia ly vì tính bất đồng mà gây gổ cãi vã nhau.

Âm hoặc Dương hãm: Nếu lấy sớm dễ gặp trắc trở gia đạo, muộn thì đỡ.

Cự Cơ: Dễ gây gổ, bất hòa mà chia ly, dễ hai vợ, hai chồng.

Cơ Nguyệt tại Dần: trắc trở cưới xin mà dẫn tới ly tán, sớm cưới cũng dễ chia tay.

Tham Lang Thìn Tuất: Sớm lập gia đình thì vì vợ chồng ghen tuông chơi bời mà chia ly.

Tham Lang Dần Thân: Một trong hai người dễ lăng nhăng, bạc tình mà chia ly.

Cự Môn: Cung nào cũng dễ bất lợi cho gia đạo vì là sao kỵ vào cung Phu Thê.

Thiên Tướng hãm: Một trong hai người dễ nóng nảy, cứng đầu, gia trưởng mà chia ly.

Thiên Tướng Mão Dậu: Cưới nhau hay gặp trắc trở, muộn thì tránh được.

Thất Sát Thìn Tuất: Trắc trở gia đạo khó tránh khỏi, cần muộn lập gia đình.

Thất Sát Tí Ngọ: Phối ngẫu là con trưởng, nhưng vì cả hai đều rất ghen tuông mà chia ly.

Phá Quân Thìn Tuất: Hao tán phu thê, dễ nhiều lần lập gia đình.

Phá Quân Dần Thân: Đa phần là có ngoại tình và vì thế mà chia ly. Phá Quân tối kỵ đóng Phối cung.

Các sao phụ tinh khác hợp lại phụ trợ mà dễ dẫn tới chia ly:

Không, Kiếp, Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ, Thiên Hình, Cô, Quả, Đẩu Quân.

Về cung Phu Thê, các vị đương số thường rất muốn biết rõ, vì thường thường hạnh phúc đời người có thể không do tiền bạc nhà cửa, công danh, mà do đường vợ chồng con cái. Ôm tiền bạc nhiều, công danh thật lớn, mà đường vợ con, chồng con hỏng thì cũng không đáng gì. Trái lại, làm chức nhỏ, nghèo, thanh cao nhưng sống vui với chồng con, vợ con đề huề thì cũng thú …

So số vợ chồng. Tiên quyết xem các cường cung của họ có cùng bộ sao không. Cường cung nghĩa là mệnh quan tài di phúc phối thân. Giản dị chỉ cần so sánh hai cung mệnh cũng y hệt.

Định nghĩa cùng bộ sao: Bô tĩnh là Cơ Nguyệt Đồng Lương Cự Nhật, bộ động là Tử Phủ Vũ Tướng Sát Phá Liêm Tham. Như một người có Nhật, người kia có Đồng là cùng bộ. Một người có Nhật, người kia có Sát là khác bộ.

Khác bộ: Muốn sống lâu với nhau nhẹ phải khắc khẩu, nặng có những chuyện đáng tiếc khác; bất chấp phụ tinh hợp hay không.

Cùng bộ mới xét phụ tinh mà luận. Nhưng độ phù hợp đã hơn trường hợp khác bộ rất nhiều.

(Dẫn theo trang hoc-tuvi.blogspot.com)