Phú Tử Vi Của Ma Thị Tiên Sinh

Ngôi Tử-Vi đóng vào chốn hãm

Quyền giải hung, thiểu giảm vô uy.

Phủ phùng Không, Sứ tài suy.

(Thiên Phủ ở mệnh, Điền mà ngộ

Thiên Không, Tuần Không, Địa Không)

Chung thân nan bảo, tư-cơ lưu truyền

Mấy người phú quí nan tuyền.

Bởi sao Nhật, Nguyệt chiếu miền Sát-tinh

(Sao Âm, Dương ngộ Riêu, Đà, Kỵ, Không, Kiếp)

Mấy người bất hiển công danh,

Là vì Nhật, Nguyệt đồng lâm Sửu, Mùi.

Song Nhật, Nguyệt hãm bên trong,

Xương, Khúc, chiếu, giáp; hưng long Phúc, Tài.

Mấy người nịch tử, hoả tai,

Phá Liêm gặp Hoả; Riêu ngồi Kỵ, Tham.

Khốc, Hư ngộ hạn mạc đàm

Hạn phùng Không, Kiếp ai làm cho nên.

Phượng, Long, Mão, Dậu đôi người

Vượng thời Kim bảng đề tên ở đầu.

Ân-quang, Thiên-quí, Sửu, Mùi,

Đường mây gặp hội danh cao bảng rồng.

Quan cung mừng được Đào, Hồng

Thiên-di tối kỵ Kiếp, Không Lâm vào.

Công danh đợi tuổi tác cao

Giáp Liêm, giáp Sát, một hào chẳng sai

(Quan lộc giáp Liêm, Thất-sát)

Giáp Bát-toạ, giáp Tam-thai,

Thiếu niên dự được lâu đài nghênh ngang.

Thiên, Nguyệt-đức có Giải-thần.

Cùng là Quan Phúc, một làng trù hung.

Sét cho tường, chốn thuỷ cung

Kỵ tinh lạc hãm. Khoa, Đồng, Kình-dương

(Cung Hợi, Tý gặp các sao kể trên)

Đà đắc địa, Hoả chiếu phương

Linh-tinh hạn gặp tai ương chẳng lành,

Mấy người ít tuổi công danh,

Hồng-loan, Bát-toạ ở mình chẳng sai.

Xét xem phú quí mấy người,

Mệnh vô chính diệu trong ngoài Tam không

(Thiên Không, Địa Không, Tuần Không)

Đẩu-quân kỵ Tử tức cung

Kiếp, Cơ, tật ách phải phòng huyết hư.

Hạn lâm Riêu, Hổ khá lo,

Những loài thú dữ chớ cho đến gần

Vận hành Kỵ, Cự hung thần,

Phải phòng những chốn, giang tân mới lành.

Âm Dương đôi ngả cho minh

Âm tòng âm số, Dương hành dương cung

(Tuổi âm ở cung âm, dương ở dương,

tuổi âm gặp sao âm, dương gặp sao dương)

Hạn hành đại tiểu tương phùng

Cát thời thịnh vượng, hung thời chuân chuyên.

Dương, Đà xâm nhiễu Mệnh viên

Nói hay loạn thuyết những phiền lo tai

Số muộn màng con trai chưa có

Vì Kỵ, Đà len lỏi Tử cung

Ách phùng ác sát trùng xung

Khí Âm lạnh lẽo chẳng trùng khí Dương

Hồng-loan ngộ Kiếp, Không lâm thủ.

Sá chi bàn những lũ yểu vong.

Kỳ, Đà, Thái-tuế, Thân trung

Khỏi nạn lại được thung dung mấy người.

Phượng, Long, giáp Mệnh có tài

Trước sau vinh hiển, ra ngoài nổi danh

Sao Quang, Quí ấy Khoa tinh

Lâm vào Thân, Mệnh cao danh bảng rồng

Ngồi Quí hướng, chẳng phùng Không-Sứ

(Mệnh, Thiên Phủ ở Sửu Mùi giáp Âm, Dương)

Gặp khoa thời, thủ cử chẳng sai

Giáp Nhật, Nguyệt trong ngoài Đồng, Cự

(Mệnh Tham, Vũ ở Sửu Mùi)

Ấy công thành danh toại khá khen

Con em sạ khứ, sạ hoàn

Bởi sao Nhật, Nguyệt hãm ngồi Nô cung

Bệnh lao, đàm thấp chẳng thông,

Bởi vì Tật ách, đã phùng Kiếp, Cơ.

Kiếp, Không hai gã khá lo

Lâm vào Huynh đệ cô đơn một mình.

Mẹ cha có phúc lành thượng thọ

Phụ mẫu cung phải có Thiên-lương

Cung Thê thiếp Đồng, Lương hội đó

Hai vợ cùng, một tổ sinh ra

(Hai chị em lấy một chồng, hoặc 2 người vợ cùng họ)

Sao Thai mà ngộ Đào-hoa

Tiền dâm hậu thú, mấy ra vợ chồng.

Mệnh viên gặp Kiếp, Không lâm thủ

Kể chi bàn những lũ yểu vong

Ấn mang, vị liệt Công Hầu

Sao lành Tướng, Cáo hội vào Mệnh cung

Làng có giếng bỏ hoang chẳng uống

Sao Mộc tinh, đóng ở Tật cung

Nhật phùng hãm ngộ lưỡng Long

Có người phương ý, vẫy vùng không lên

(Nhật, Long-trì, Thanh-long ở cung Điền, Nô… có

người chết đuối ở đấy)

Long-trì, Địa-kiếp cũng chen (Cung Điền)

Giếng bồi ao lấp, ở bên nhà này

Thiên-cơ ngộ Hoả chẳng hay

(Điền có Cơ ngộ Hoả nhà bị cháy)

Phùng Không, Kiếp Mộc nỡ đầy quải lưu

(có Cơ cùng các sao trên có ma mộc)

Ngộ Hổ có thạch khuyển chiều

Ngộ Dương, Đà có thạch đầu dựng cao

(Hổ có chó đá gặp Dương, Đà chó đá chôn

dưới đất lâu ngày thành tinh)

Cái răng Bạch-hổ phù soi

Lai gia Tang, Điếu thương ôi nàng tuyền (vợ chết)

Tang-môn ngộ Hoả xấu sao

Nó vào phương nào, phương ấy hoả tai

Bệnh-phù ngộ Thiên-hình vô lợi

Ắt có người chịu tật phong sang

Phụ, Vi, ở Phúc-đức cung,

Phản phu có kẻ, họ hàng chẳng không.

Đào, Hồng, Sát, Phá, Tham, Liêm,

Lâm vào số gái chỉ hiềm sát phu

Tang, Đào ở Mệnh cung sau trước (hợp mệnh)

Gái đã đành lỡ bước cầu ô

Ngọc trầm có vết đen tô (chỗ hiểm có nốt ruồi)

Thiên-khôi tại Tý, thủ đầu Mệnh Thân

Nhật, Nguyệt ngộ Đà tinh chốn hãm

Hoá-kỵ gia, mục ám bất minh,

Việt, Linh lại có Thiên-hình

Địa phương ắt cũng đã đành lôi kinh (sét đánh)

Ngộ Cơ, Lương, đánh gẫy cành

Ngộ Âm, Dương ấy đã đành tan không

Hình, Riêu, Mệnh gái long đong

Ví chẳng lộn chồng, ắt cũng phản phu

Sao Kỵ, Đà hội Phu cung

Hại chồng chước quỉ, tính đường tinh ma

Riêu, Đào số gái ai hay

Chồng ra cửa trước, giắt tay trai vào

Ngộ Hình, gặp Quí dám đâu (đứng đắn)

Cùng là Tử, Phủ một mầu chính chuyên

Ghen đâu mà chẳng biết chồn

Tham cư vượng địa, phải nên đề phòng (hay ghen chồng)

Lỗ tai điếc lác lo phiền

Dương, Đà, Không, Kiếp, Cự miền Mệnh cung.

Miệng ấp úng nói không ra tiếng

Vì Tuế, Đà, Riêu, Cái Mệnh viên

Âm, Dương, Tuần, Triệt tại tiền

Mẹ cha ắt đã chơi tiên thuở nào.

Phúc-đức ngộ Tang, Đào, Hồng, Hỷ

Họ hàng thường có kẻ yểu phu

Lưu Tang, lưu Mã gặp nhau

Hạn cùng năm ấy Bò Trâu chẳng lành

Tham-lang, Bạch-hổ nào sinh

Dần, Tuất chốn ấy, lánh mình sơn lâm

Thai tinh ngộ Thái-âm cung Tử

Con phải vì cầu tự mới nên.

Tử cung Thai, Tướng, Phục-binh

Vợ chồng ắt có tư tình nơi nao (có con riêng mới cưới)

Họ hàng có kẻ binh đao

Tướng, Tuyệt, Tử, Phục lâm vào Phúc cung

Ân-quang phùng Đào, Hồng, Điền-trạch

Ấy cô dì lưu lại ruộng nương

Vợ chồng viễn phối tha hương

Đào, Hồng đóng chỗ vào hàng Thiên di.

Quan-phù, Tấu, Tướng, nghề gì?

Mệnh phùng Tả, Hữu tăng ni kẻo nào.

Hồng-loan, Tấu, Vũ, Hỉ, Đào,

Nhạc phường ca vũ danh vào cửa quan (con hát)

Hình, Cơ, Khúc, Tấu một đoàn,

Trong nghề thợ mộc, khôn ngoan ai tầy.

Khéo nghề kim chỉ vá may

Cơ, Tang, Hồng, Phúc ở rầy Mệnh cung

Hồng-loan ngộ Kỵ, Phu cung

Tơ hồng chưa tắt má hồng đã xui

(vừa bỏ chồng, hoặc chồng chết đã có người mai mối)

Hoả, Linh ngộ hãm Thiên-riêu

Ắt trong mình ấy, có tà chẳng yên.

Phụ, Bật, Khúc, Tướng đồng viên

Ngôi cao chính viện danh truyền y quan.

Phụ, Bật ngộ Thái-âm nhàn (cung Hợi)

Gái làm bà đỡ cứu đàn nhi sinh

Thiên-tài ngộ Nhật bất minh

Nết na lung láo, những khinh phật thần

Tý, Sửu Mệnh; Ngọ, Mùi nhân

Kiểu cư ngộ sứ, chẳng gần bản tông

(ly hương, hoặc dòng họ khác)

Thê cung Kiếp, Không trùng xung

Trải hai, ba độ mấy xong cửa nhà

Tử cung ngộ Kiếp, Không gia

Nuôi con chẳng mát, đã ba bốn lần.

Khốc, Hư lại ngộ Dưỡng thần

Sinh nhiều nuôi ít, gian truân thuở nào

Hiếm hoi bởi ngộ Thiên-hình

Quí tinh trước cửa, đầy sân quế hoè

Không ngộ Phá, Tú Thê hào

Vợ chồng cách trở ba tao mới thành

Triệt, Tuần ngộ Mã, Hình Thê vị

Vợ bỏ chồng đào tị tha phương

Phá phùng Hình, Kỵ Huynh hương

Anh em bất thuận nhiều đường khi tranh

Phá-quân ngộ Hoả, Đà, Dương

Lâm vào Thìn, Tuất nết thường gian phi.

Thiên Hình, Dương-nhận Ngọ vì,

Lại gia Kiếp, Sát ưu nguy hình tù

Riêu, Đà, Dương, Sát cung Phu

Lại thêm Linh, Hoả vợ lo giết chồng.

Hoa-cái, Phượng-các, Đào, Hồng,

Trai toan nể vợ, trong lòng khôn khuây.

Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất

Gái bạc tình, Tham, Sát nhàn cung

Hạn phùng Riêu, Hỷ, Đào, Hồng

Giái, trai mà tưởng trong lòng dâm phong.

Quan-phù, Thái-tuế vận phùng

Tháng ngày chầu trực cửa công bồn chồn.

Cơ, Lương, Thái-tuế, Tang-môn

Lâm vào chốn hãm, cành con chớ trèo

Kỵ, Đà, Sát, Ách liền theo (cung Tật)

Qua sông vượt bể ba đào chớ đi.

Tướng hãm phùng Không, Kiếp vì,

Làm quan thời chẳng cách quan mà về,

Phù, Hình, Không, Kiếp khả chê

Kẻ thù người ghét, toan bề nghịch hung.

Thai tinh, Long (Thanh Long), Hỉ vận này

Vợ thời thai dựng đến ngày khai hoa.

Kình-dương, Hoa-cái ngộ Đà

Hạn hành năm ấy, đậu hoa phải phòng (lên đậu)

Phục-binh, Tuế, Kỵ, Kiếp, Không

Cùng người tranh cạnh, trong lòng chẳng nguôi.

Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Văn, Khôi,

Công danh thành toại đến hồi hiển vinh.

Khốc, Hư ngộ Tang chẳng lành

Thương người bại của chẳng yên được nào.

Kiếp, Hư, Hình, Kỵ, Đà, Dương,

Gian nguy tật bệnh, dở dang ngại dần

Vận phùng Lộc, Mã cùng lưu

Dương, Đà, Kỵ, Nhật mắt đau phải phòng

Ngại hiềm Mã ngộ Không vong

Giặp sao Tả, Hữu hạn phùng cả đôi.

Hoả, Linh, Trì, Mộc, cùng soi

Lánh mình lửa cháy, nước sôi phải phòng

Hổ, Đà, Kỵ, Nhận tân toan

Đề phòng chó dại, hầm thiên dậy loàn.

Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Quả, Loan

Hôn nhân vận ấy, ứng hoàn thất gia

Dương, Phục, Vũ ở toà Ngọ vị

Vận gặp thời, chức trị Quản binh.

Dậu cung Thái-tuế, Thiên-hình

Tai sinh hoạ chí, dị sinh gông cùm.

Quan, Không, trùng kiếm, Võ, Tham

Đường mây thuở ấy đã cam bôn trì

Khốc, Hư ở Tý, Ngọ vì,

Quan cung lại gặp tiếng thời đồn xa.

Dần, Thân, Kỵ, Sát(Kiếp-sát) trùng gia,

Thương chiêu đã nhục, thực là gian nan.

Vợ giầu của cải muôn vàn,

Thái-âm ngộ Đức, Ân-quang, Mã, Đồng.

Thiên-hình, Sát, Hổ Tử cung,

Đến già chẳng thấy tay bồng con thơ.

Sinh cong điếc lác ngẩn ngơ,

Tử cung, đối chiếu Sát, Đà, Kiếp, Không.

Cơ, Lương, Lộc, Mã đồng cung

Phú gia địch quốc của dùng siết đâu.

Ngôi cao đức trọng công hầu

Mệnh phùng Quyền, Sát ở đầu Ngọ cung.

Hình lâm Quan lộc cư Đồng (Dần, Mão)

Quản binh dẫn chức ân hồng quân vương.

Quan cao chấn ngự biên cương

Ngọ cung kiến Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng

Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng

Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi

Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù trì

Sân rồng kéo bảng, danh đề ở cao.

Kỵ gia ở cửa màn đào (cung Tý)

Làm nghề thuật sĩ, phong lưu nuôi mình.

Thê, Nguyệt-đức ngộ Đào tinh,

Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang.

Trong ngoài mà có Âm Dương

Ba lần danh dự một làng quan giai.

Khôi, Việt, Quyền gia trong ngoài

Trưởng nam, trưởng nữ gái trai đồng lần.

Mệnh Hoá-kỵ, tật Mộc thần

Âm ti, nang thấp, nhiều phần chẳng sai.

Lộc, Quyền nhờ bạn tri âm,

Lộc, Hồng của vợ, lấy đem làm giầu. (cung Thê)

Sát phùng Phù, Hổ hay đâu,

Dạ Tràng thủa ấy âu sầu ngục trung.

Dương, Đà ngộ Mã tai xung,

Những lo đánh bắc, dẹp đông chẳng rồi.

Thiên Di bầy Mã, Binh ngồi

Đông trì, tây tẩu, pha phôi cõi ngoài.

Kiếp Không lâm vào Phúc Tài

Luận chưng số ấy, linh lai khó hèn

Triệt, Tuần đóng ở cung Điền

Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho.

Kiếp, Không gian phi quanh co,

Đề phòng kẻo phải lộ đồ khảm kha

Hoả-tinh ngộ hãm oan gia

Hiệu là lửa cháy mấy hoà khỏi tai

Đại-hao lâm vào Phúc, Tài

Tán nhiều, tụ ít mấy ai nên giầu

Tử cung Không, Kiếp trùng giao

Bệnh phùng huyết tán thai bào phù hoa

Tật cung Hoá-kỵ cùng gia

Dương, Hư chứng ấy, ắt là hiếm con

Dương, Riêu bệnh ghẻ phong môn

Tuế, Đà loạn thuyết xuất ngôn chiêu nàn

Mệnh Đào, thân lại Hồng-loan

Vận phùng Tuế, Kiếp đả hoàn thê nhi

Hạn lưu Tuế Mệnh một vì

Gặp chưng năm ấy, vận thời gian nan (Lưu Thái tuế vào bản Mệnh)

Tham, Liêm Tị, Hợi chớ bàn

Văn Vương thuở nọ, tân toan ngục tràng

Dần, Thân, Xương hội Tham-lang

Vận ông Quản Trọng phải vào nhà Linh (hạn tù)

Kiếp, Không nhị vị khả ưu

Gặp sao Thiên-giải nhẽ cầu lại yên

Phá phùng Mão, Dậu khá phiền,

Thấy sao Nguyệt-đức tế liền lại qua.

Lao đao sớm tối bơ vơ,

Mệnh cung Cơ, Kỵ hản ra nhị vì.

Long đong đông tẩu, tây trì,

Chẳng qua Thiên-mã Thiên-di hãm nhàn.

Chơi bời du thuỷ, du sơn

Thiên-di gặp Mã hợp chàng Đà-la

Vợ chồng nay giận mai hoà

Phục-binh, Hoá-kỵ một toà thê cung

Khôn giò siết nỗi sâu nông

Sửu, Mùi, Tham, Vũ hội đồng Khúc Xương

Tí cung Thiên-phủ, Kiếp, Dương

Cuồng ngôn loạn ngữ nhiều đường loanh quanh

Thìn, Tuất, Thất-sát một mình

Gia trùng xung hạn, khôn thành hung phương.

Kỵ tinh, Xương, Khúc đồng hương

Nhan Hồi số ấy, nghĩ càng thêm thương (yểu tử)

Bệnh-phù, Thái-tuế rõ ràng

Sửu, Mùi, Thìn, Tuất gặp Lương lại lành

Thiên-đồng cư Ngọ ngộ Kình

Một phương hùng cứ tiếng tăm anh hùng.

Cây Đào mọc ở Nô cung

Vong phu mắc tiếng, bất chung cùng chồng

Phúc cung ngộ hãm Kiếp, Không,

Họ hàng nhiều kẻ hành hung phi loài

Phá quân sao ấy tán tài

Lâm trạch bán hết lưu lai tổ điền.

Tiểu hạn, Cự, Vũ, Hoá-quyền

Chiếu hoa chấn thủ một bên phương ngoài

Mộ phùng Tả, Hữu đồng lai

(hạn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)

Thăng quan tiến chức miếu đài nổi danh

Việt, Khôi, Trì, Các, Văn tinh

Vào thi ắt hẳn bẻ cành quế hoa

Sát phùng Tồn, Tử giải qua,

Một sao Kỵ đóng ắt là tốt tăm.

Thiên-lương ngộ Hoả chiếu lâm

Hại người tổn vật, ầm ầm tai ương.

Hãm tinh gia lại hãm Dương

Chẳng sinh kiện sự, thời thương thung đường

Sứ, Thương, Cơ, Hoả, Cự, Dương

Suy người, hại của nhiều phương ưu phiền

Kiếp, Không, Hao lại gặp Quyền

Nghe rèm liên luỵ, kẻ trên chẳng dùng.

Đại, tiểu ngộ Tham-lang xung

Phá tài, tổn của ắt phùng nhị Hao.

Linh phùng Sát, Phá hạn cao

Vua Văn thủa nọ phải vào ngộ linh

Hổ ngộ Âm miếu cũng xinh

Siêu thiên quan chức, vận lành mừng vui.

Cung Điền liền gặp Cơ, Lương

Mộc lâm tổ nghiệp, đến hồi sinh tại (hoán cải)

Thiện tinh (Cơ) chiếu ở phương Đoài(Thân)

Có người lấy của phật đài hoạ to.

Dương gian gái đẻ phải lo

Kỵ lâm thường thấy tay vo bụng nằm (cung Tật)

Ám tinh (Hoá Kỵ), Tham diệu đồng sâm

Gia trung thất vật gian dâm, loạn tài.

Tham phùng phụ nữ hoài thai

Đẻ rồi, bệnh phải đau rai nửa mình.

Thương người Cơ, Khốc gia lâm,

Hỷ cùng Dương hợp đã sâm người nhà.

Âm nhàn, Đà, Hổ, Tuế gia

Trước sân chợt thất huyên hoa rụng rời (mẹ chết)

Linh tinh, Việt hoả bên đoài,

Gia trung hương hoả kìa ai lạnh lùng

Quý hội hợp vào cung Thân, Dậu (cung Tử)

Đến phật tiên cầu tự mới sinh

Sửu cung đều có Hung tinh

Kẻ đau, người bệnh tại ông Thành Hoàng.

Cấn, Dần, Sửu sao tàng Linh, Hoả

Con hồng tinh biến hoá cành cây (cung Điền)

Long phùng Phượng, Hỷ cung hay

Vui mừng mới thấy, bi ai bỗng liền

Lộc-tồn, Tử cùng Thiên-mã hội

Ngộ Phi thường mừng buổi phong lưu

Kình-dương mà ngộ Thiên-đồng

Gặp Linh thủa ấy phải cầu hôn nhân,

Nhà đều sợ Phá-quân, Hao thủ

Ngộ Tử, Lương, trừ lũ Hung tinh

Việc người sích mích khá không?

Tử-vi, Khôi, Việt ba ông phải tìm.

Hợi, Tý gặp phải hiềm Phật, Thánh

Dậu, Thân lâm tính chốn liên đài

Tử, Tham, Khôi, Việt nam (Ngọ), đoài (Thân)

Long thần cầu đảo bệnh ai lại lành,

Mão, Thìn ngộ đã đành ông Táo

Ly, Tốn, phòng phải Cáo ôn binh

Di cung nếu giáp Quý tinh

Đi qua đến miếu phải kinh ma làm.

Mệnh Thân, Dậu đồng lâm Không, Kiếp.

Gia Triệt, Tuần phải khiếp gian nguy.

Mệnh cung ví có Tử-vi

Tương phùng hạn nhược vận suy chẳng hiềm,

Cung Huynh đệ Triệt, Tuần xung thủ

Chim đầu đàn vỗ cánh bay khơi

Tướng-quân, Lộc, Mã có người,

Giầu sang đảm lược, nên trai anh hùng

Tướng ngộ Đào, Hồng cùng chiếu,

Ngôi màn Đào có ả Thôi Nương

Tràng-sinh, Đế-vượng đa nhân

Giáp chiếu Nhật, Nguyệt có lần sinh đôi,

Đế-vượng ngộ Thai, Khôi, cùng Tướng

Có dị báo hai đám anh em

Thái Âm hiềm có Thiên-cơ

Âm cung mấy Phúc đồng sinh lưỡng bào

Tam Không, gia nội tao cát diệu

Ngộ Dưỡng tinh cũng nẻo con nuôi

Đào-hoa, Thai, Hỷ trong Khôi,

Ngoài ra Binh, Tướng ả vui loang toàng (chửa hoang)

Tướng, Phá, Phục trong làng Thai diệu

Ngoài Đào, Hồng, Hoa-cái Thiên-di

Có người dâm dục thị phi

Tư thông chi dựng kẻ chê người cười

Sao Hình thủ cùng ngwời đánh lộn

Kỵ sinh lâm, lòng vốn bất hoà.

Lộc-tồn, Thiên-mã cùng gia

Có người buôn một, bán ba lên giầu

Vũ, Tướng ở đầu cung ấy

Nghệ bách công ai thấy cũng dùng (anh em làm thợ giỏi)

Tử, Tang, Tả, Hữu hội trung

Có người con gái lộn chồng tìm ra

Sao Xương, Tuế một toà đóng đấy

Thập lý hầu hẳn thấy một hai (anh em tài giỏi)

Việt, Khôi, Khoa mục chẳng sai

Khôi huynh, Việt đệ là bài trong kinh

Triệt, Tuần ngộ Thiên-hình đóng đấy,

Người một phương chẳng thấy họ hàng (anh em lưu lạc)

Kình tinh ngộ Kỵ, Âm, Dương

Ắt trong ***** tật có người hại thê

Cung Thê thiếp, Đào, Hồng tương ngộ

Vợ mấy người đều có dong nhan

Có Riêu, ấy ngoại tình bàn,

Tử, Không ngộ Mã lắm đàn buớm ong (lấy vợ giang hồ)

Mã chẳng gặp Tứ Không ở đó

Thời con nhà vọng tộc lương gia

Phượng, Long đẹp đẽ ai qua,

Hình dong mặt mũi, dỗ hoa tốt vầy.

Tang, Không, Khốc dị sinh hoán cải (duyên số lật đật)

Để di truyền vạn đại về sau.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)