QUAN ĐIỂM VỀ MỆNH THÂN

1, mệnh là thiên mệnh. thân là hành động của chúng ta. là con người ta hằng ngày. hành động dựa trên thiên mệnh và không thoát khỏi thiên mệnh. mệnh là tĩnh, thân là động. trong cái động có chứa cái tĩnh.

2, mệnh là nơi lưu trữ những thông tin về cuộc đời của đương số như giàu nghèo, thọ yểu, tài hèn…thân là nơi triển khai những thông tin trong mệnh. thông tin từ thân đến mệnh tốt hay xấu còn tùy thuộc vào thiên bàn, nguyên tác, tương tác âm dương ngũ hành…mệnh thân không ăn vào nhau là thông tin bị nhiễu…thông tin trong mệnh chính xác nhưng sang cung thân lại không đúng nữa vì thông tin bị sai lệch đi nhiều qua thời gian. thời gian càng lâu thì thông tin từ mệnh sang thân càng sai lệch. sai lệch có thể do sự hoàn thiện bản thân, lối sống, do môi trường , sự giáo dục, thịnh vượng hay suy tàn của xã hội….

3, thân là nơi mệnh lớn lên. giống như con người sống trong xã hội. xã hội hưng vượng thì mình phát triển tốt. xã hội suy thoái thì cũng phải chịu cảnh cơ hàn theo. xét cung thân tương tự như xã hội. và mệnh là con người chúng ta.

4, từ lúc sinh ra đến khi lớn lên mệnh đã lớn lên ở cung thân và đã chuyển dần sang cung thân ở ngay đại vận đầu tiên chứ không phải sau 30 tuổi hay theo cục. nhưng sự chuyển biến chậm nên có thể khó nhận ra nhưng nếu quan sát kỉ sẽ thấy. và càng về sau thì sự chuyển biến từ mệnh qua thân càng mạnh. có thể lấy 30 tuổi để làm nút. khi lượng đạt đến đỉnh sẽ biến sang chất.

5, thân mệnh không thể tách rời giống như cái cây, mệnh là gốc thân là thân cây. gốc có tốt thì mới cho ra quả to và ngon. gốc xấu thì ngược lại. nhưng gốc cây mà tôt(xấu) trong khi thân cây xấu(tốt) thì sao( thân xấu có thể do mưa bão. bị chặt đốn…) thì lấy đâu ra quả tốt. điều kiện thời tiết là đại vận. thời tiết tốt thì cây có điều kiện phát triển, vươn cao. thời tiết xấu thì ngược lại. hoa quả chính là sản phẩm của gốc cây thân cây và điều kiện thời tiết. vậy sự thành đạt, suy bại, bệnh tật…đều phải xét mệnh thân và đại vận. chỉ mệnh thân tốt thôi chưa đủ ví như người thông minh, tài năng mà không gặp thời. ngược lại như bông hoa bị héo, kém sắc gặp thời tiết đẹp thì tại tươi tắn trở lại.

6, khi xem cung thân phải đặt cung thân là một cung riêng có thể nói là trên thiên bàn có 13 cung. trong đó thân cư cung nào thì thân chịu ảnh hưởng của cung đó mạnh nhất.

7, người có thân mệnh không nằm trong cùng một tam hợp sẽ có khả năng cải số tốt hơn những người có thân mệnh cùng một tam hợp. cải số tốt nhất là thân cư phúc đến thận cư di và kém nhất là thân mệnh đồng cung.

8, mệnh thân có những nét tương đồng với nhau vì trong tam hợp mệnh và tam hợp thân sẽ có cùng một loạt các sao và cung giống nhau. xét tương quan mệnh thân phải xét ngũ hành cung, tam hợp cục và tương quan trên thiên bàn. tương tác âm dương, và sự liên kết hay đối lập giữa các bộ sao. xét xong mới tính đến thân cư cung nào là tốt. cung nào là xấu.

Mệnh là thể, thân là dụng (cụ Thiên Lương). Quan điểm này phù hợp với mệnh đề “trước 30 chú trọng mệnh, sau 30 chú trọng thân” vì thường khoảng sau 30 tuổi, tuổi gọi là “tam thập nhi lập” thì cái hành động (dụng) của ta càng ảnh hưởng đến cuộc đời của ta.

Mệnh hàm chứa ảnh hưởng của toàn thể vũ trụ (mặt trời và phần còn lại của vũ trụ bên ngoài mặt trời), trong khi cung thân chỉ hàm chứa ảnh hưởng của mặt trời và tính chất khai sinh cố định của vũ trụ (lí thiên văn trong sách TVHTKH1 của bác VDTT). Theo bác VDTT thì đây là lí do vì sao cung mệnh quan trọng hơn cung thân và cũng giải thích được vì sao sau 30 tuổi phải coi cung thân. Đó là vì cung thân bao hàm tính khai sinh của vũ trụ, có thể xem là “nơi ta sinh”, còn mệnh thì có thể xem là “đời phiêu lãng”, mà con người ai đi đâu rồi cũng hướng về quê cũ.

Mệnh thân là “một cặp âm dương” (bác vuivui, và theo bác thì chỉ nên phát biểu như thế, và tùy trình độ mỗi người mà hiểu thêm). Bác cũng cho một triển khai là câu “mệnh phú thân quí thì hay, ngược lại thì thường”. Theo mình thì hầu hết quan điểm trong phần 1 này đều là những cách khai triển của quan điểm này, và quan điểm này cũng rất phù hợp với mệnh đề “tử vi tối trọng âm dương” mà bác VDTT hay nhấn mạnh

Mệnh là tư tưởng, thân là “phận” (cao thủ mới nổi thấtsát). Quan điểm này rất phù hợp với câu quyết “mệnh tốt không bằng thân tốt”. Một ví dụ dễ hiểu là chẳng hạn 1 người mệnh cho thấy “thượng cách”, tư tưởng và tài năng xuất chúng nhưng thân xấu thì có thể là kiểu gặp họa vì tài năng, hay thân bình thường thì đó có thể chỉ là dạng quân sư cấp độ thấp, không được trọng dụng hay sinh bất phùng thời… Trong khi 1 người mệnh bình thường mà thân tốt thì có thể là người tài năng không nổi bật nhưng được làm chủ tịch một tập đoàn, có thể là nhờ thân phận được “đặt sẵn” là con của ông chủ tịch tiền nhiệm chẳng hạn. Tất nhiên khi luận thì phải kết hợp nhiều thứ khác nữa.

Ngày xưa chắc có lẽ do mặt trời di chuyển từ Đông sang Tây và mặt trăng di chuyển từ Tây sang Đông trong cùng 1 ngày mà có sự đếm ngược giờ sinh ra cung vị trí cung Mệnh và đếm xuôi ra vị trí cung Thân.”Quan điểm này phù hợp với việc “trọng tư tưởng, tổng hợp mà không chú trọng nhiều đến phân tích, chi tiết” của người Á Đông. Hơn nữa nó cũng hàm chứa một ý nghĩa thiên văn quan trọng mà mình biết (có thể mình sai), đó là chu kì tự quay của mặt trăng bằng với chu kì nó quay quanh trái đất nên từ trái đất ta chỉ luôn quan sát được một phần cố định của mặt trăng. Mà “phần cố định” ở đây khá ứng với ý nghĩa thiên văn về mệnh thân của bác VDTT.

Cung thân là “thân thể” của ta (theo bác Bửu Đình). Một chiêu thức để làm ví dụ là chẳng hạn cung thân có Hóa Lộc, tức là nhờ thân thể mà ta kiếm được tiền, như ta làm người mẫu chẳng hạn

Mệnh không chỉ là ta mà ảnh hưởng đến tất cả các cung còn lại (rất nhiều người khi luận đều sử dụng ít nhiều quan điểm này, chẳng hạn như mệnh có Cô Quả thì tín hiệu có bồ phải rất mạnh mới có bồ được). Lí luận thì đơn giản, vì như vậy Mệnh mới xứng đáng là trung tâm của lá số chứ. Mà đã là mệnh thì phải ảnh hưởng hết chứ, nếu không thì… mệnh là gì?

Quan điểm này tuy giống với truyền thống nhưng mình nhắc ở đây vì nó liên quan đến một cách xem mà thấtsát khai triển gần đây. Khi ta tách ra các cách cục từ mệnh thì vì mệnh ảnh hưởng đến tất cả nên từ đó ta cũng tách ra các cách cục của các cung khác?

Ông Vương Đình Chi không những nghiên cứu cung thân rất kỹ mà còn chủ trương là phải dùng nạp âm của cung thân để lấy thêm một lá số khác (có vòng chính tinh khác với lá số truyền thống), dùng lá số này để bổ túc cho lá số truyền thống. Là một cách xem khá lạ đời. Chưa thấy được ai khác theo

Ông Tử Vân coi cung thân là yếu tố điều chỉnh cung mệnh, vì thế không nhất thiết phải chờ đến sau 30 tuổi mà còn lệ thuộc mệnh mạnh hay yếu. Như mệnh quá yếu thì thân có thể lấn mệnh, gây ảnh hưởng rất sớm. Ngoài ra, ông chủ trương phải xem vận trình nữa. Như thân cư phúc đức, dương nam âm nữ đi thuận thì trên 20 tuổi hạn đã vào cung thân rồi (cung thân trở thành cung đại hạn), ảnh hưởng sớm

THẾ ĐỨNG CỦA MỆNH, THÂN TRÊN LÁ SỐ TỬ VI VÀ HỆ QUẢ TẤT YẾU

Ở nội dung trước tôi đã trình bày học thuyết của Thiên Lương trong vấn đề tư cách con người trong cõi nhân sinh. Trên thực tế thì cuộc sống muôn hình vạn trạng, Tử vi có hơn 100 tinh đẩu, nhưng quy nạp, tổng hợp lại thì có bốn tư cách cơ bản như vậy. Thế nhưng vũ trụ vận động, xã hội là một bức tranh đa màu sắc, có màu sáng, và có màu tối. Nhiều khi, con người ta dù mong muốn thế này, ước nguyện thế kia, quyết tâm làm điều này, điều khác, nhưng có mấy ai được thỏa chí mình, có những người nói một đằng, nhưng hành động lại khác. Có những người tư chất khôn ngoan sáng suốt, nhưng bắt tay vào hành động thì nhầm lẫn, thất bại và phải ôm mối hận uất xuống tận nấm mồ. Nguyên nhân chính là vị trí cung Thân đóng tại chốn nào. Vì mệnh là tư tưởng, khí chất, tính tình, năng lực. Thì thân chủ về hành động, Thân là hậu vận về sau của đương số. Nó nói lên hậu vận, và sự thành công của đương số trong cuộc đời. Người có Mệnh trong tam hợp Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ, mang trong mình tư cách, nhân phẩm, chính phái, cao đẹp, rất đáng quý rồi mà Thân cũng đóng trong vòng sao này, thì có sự nhất quán triệt để giữa tư tưởng và hành động. Nhân sinh quan của họ là nhân sinh quan tiến thủ mạnh mẽ, luôn hướng tới sự nghiệp của đất nước của nhân dân. Họ là những người đầy lòng tự hào, hành động luôn vì nhân thế, sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi để đem lại hạnh phúc cho con người, cống hiến cho thời đại. Mức độ mạnh yếu, công lao họ đóng góp, và sự thành công của họ trên sự nghiệp vĩ đại lớn lao đó đến đâu nó còn phụ thuộc vào bộ chính tinh, kèm theo sự phò tá của các bộ trung tinh kèm theo nữa. Hình thái, tính chất, hành động cống hiến, đóng góp phụ thuộc và ba sao trong vòng sao này. Thái tuế, suy tính, tư tưởng hành động hướng về nghĩa cả. Quan phù, hướng tới nghĩa lớn, với hành động được suy tính một cách rất thận trọng Bạch hổ, vì chính nghĩa mà xông pha, hành động cứng tay quyết liệt. Kể cả những việc dễ bị quy tội, hay mang tiếng xấu đi chăng nữa, cứ là việc vì chính nghĩa là họ làm. Hình ảnh của một tráng sĩ, hăng hái quên thân, đùi vế chấp giáo gươm, thân mình khinh nhờn giáo mác, trợn mắt nghiến răng, không khi nào ngừng nghỉ. Mẫu người Mệnh Thái tuế mà Thân có nhóm Tuế phá, Điếu khách, Tang môn. Là một mẫu người rất phức tạp, giữa tư tưởng, lời nói và hành vi. Có thể nói, khoác trên mình danh phẩm chính phái nhưng khi hành động, bước chân vào đời họ là những người bất mãn, lo âu, phải dùng nhiều nghị lực, vất vả, phấn đấu nỗ lực mới giành được thành công, và dựa cả vào vận thế nữa Nếu cung thân gặp chính diệu sáng sủa, ngay thẳng, đạo đức, trí tuệ thì nghị lực, sự chịu khó, cần cù, nhẫn nại, lo toan của họ thật đáng khâm phục và quý giá biết nhường nào. Nếu có không gặp vận tốt để thành công và đứng lên cùng nhân thế, thì cũng là một bậc quân tử trong đời, mang nặng tâm sự và mối ưu tư Trường hợp này mà gặp chính diệu mờ ám, phụ tinh toàn loại phá cách loại mờ ám, vô học, vô hạnh, phá cách thì hẳn người đó là một người ngụy quân tử, vỏ bọc, hay lời nói xướng lên một thuyết vô cùng tốt đẹp, nhưng hành động hoàn toàn ngược lại. Vỏ là người quân tử, nhưng ruột là kẻ tiểu nhân, họ xướng nên thuyết này thuyết khác, hay dùng lời lẽ hoa mỹ chỉ là để lợi dụng thành quả của phong trào, hay che đậy, giấu giếm một dã tâm lang sói. Từ tư tưởng, lời nói đến hành động là một sự mâu thuẫn, đến mức quay ngoắt 180 độ chẳng sai. Cung thân của một người ở cùng sáu cung. Mệnh – Thân đồng cung, Thân cư Quan lộc, Thân cư Tài bạch là những trường hợp Thân – Mệnh nằm cùng nhau trên vòng Thái tuế. Ngược lại, nếu Mệnh đã ở vòng Thái tuế, mà Thân cư Phúc đức, Thân cư Thiên di, hay Thân cư Phu thê là gặp cách Thân có Tuế phá, Tang môn, Điếu khách. Ví dụ Tuổi Hợi, Mão, Mùi mệnh lập tại Hợi, Mão, Mùi (Mộc cục) thân lập tại Tị, Dậu, Sửu (Kim cục) Mệnh thuộc thế Tuế phá, Điếu khách, Tang môn mà Thân cũng nằm trong thế sao này, là người sinh ra đã bất mãn, vốn chẳng bao giờ thỏa nguyện bình sinh, nên họ là những người từ lời nói đến hành động đều chứa đầy sự phẫn nộ, bất mãn, và xông pha một cách cực đoan, liều lĩnh. Họ đả phá, thanh trừng bất cứ điều gì ngáng đường, chống lại tất cả những gì ngăn trở. Điển hình trong lịch sử dân tộc là tay sai của thực dân Pháp trong thời kỳ xâm lược nước ta, Hoàng Cao Khải, lá số của ông được phân tích, luận giải kỹ càng trong cuốn Tử vi nghiệm lý của cụ Thiên Lương. Tuổi Thân, Tý, Thìn (Thủy cục) mệnh và thân tại Dần, Ngọ, Tuất (Hỏa cục) Tuổi Dần, Ngọ, Tuất (Hỏa cục) mệnh và thân lập tại Thân, Tý, Thìn (Thủy cục) Tuổi Hợi, Mão, Mùi (Mộc cục) mệnh và thân lập tại Tị, Dậu, Sửu (Kim cục) Tuổi Tị, Dậu, Sửu (Kim cục) mệnh và lập tại Hợi, Mão, Mùi (Mộc cục) Trái ngược với nhóm người kể trên nhóm người có mệnh thuộc nhóm Tang môn, Tuế phá, Điếu khách, nhưng có thân ở tại thế Thái tuế, Bạch hổ, Quan phù. Là những người xuất thân từ chốn gian nan, sinh ra đã nhiều bất mãn, tuổi thơ đầy lo toan, và nghị lực, lời lẽ có phần ngông cuồng, sách động, khích bác, nhưng là người sớm giác ngộ, hành động của họ hướng tới công lý, lẽ phải, và cũng là mẫu người dấn thân, cống hiến cho sự nghiệp, lý tưởng cao cả. Ngược hẳn với chiêu bài thủ đoạn mỵ dân, hay những kẻ cực đoan tột đỉnh. Tuổi Thân, Tý, Thìn – mệnh tại Dần, Ngọ, Tuất – thân ở Thân, Tý, Thìn. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất – mệnh lập tại Thân, Tý, Thìn – thân ở Dần, Ngọ, Tuất Tuổi Hợi, Mão, Mùi – Mệnh tại Tị, Dậu, Sửu – thân tại Hợi, Mão, Mùi. Tuổi Tị, Dậu, Sửu – mệnh lập tại Hợi, Mão, Mùi – thân tại Tị, Dậu, Sửu. Thái tuế là ngôi thọ lãnh vị trí, sứ mạng cao cả, thì Tuế phá đóng vai trò là lãnh tụ phe đối lập. Có những người một đời thông minh quán chúng, sáng suốt hơn người. Họ được nhiều người khâm phục vì sáng suốt từ cái nhìn, tư duy, suy nghĩ cho tới hành động. Ấy bởi, mệnh thân cùng ở thế Thiếu dương, tử phù, Phức đức. Những người này cũng thường gặp may mắn, công danh khoa cử sớm thành, nếu gặp Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc thì tuổi trẻ đã nhẹ bước công danh. Tuy nhiên cũng cần phải lưu tâm, nếu như chính diệu, phụ diệu mà mà ám, xấu xa, thiếu ngay thẳng, thì cũng rất dễ biến chất, bởi thế sao này luôn có Hồng Loan, Đào Hoa, nếu hội hợp nhiều dâm tinh thì nam là tay ăn chơi, phong lưu, phóng đãng. Nữ dễ gặp những khó xử về tâm tư tình cảm, gia đạo, nhân duyên Mệnh mà sáng suốt, nhưng thân mà lầm lỡ, thì kết cục cũng là chuốc lấy thất bại. Mệnh Thiếu dương, Tử phù, Phúc đức mà thân về thế sao Thiếu âm, Long đức, Trực phù. Mệnh mà lập vào chỗ sinh xuất thua thiệt, nhưng chắc đâu đã không làm nên sự nghiệp gì, ấy là chỗ cung Thân của họ, vận của họ có gặp cảnh đắc ý hay không. Mệnh và Thân đều ở thế sinh xuất, thua thiệt của vòng Thiếu âm, Long đức, Trực phù thì nên tự biết mình, giữ gìn kỷ cương, trung hậu nhiệt tình, cung cúc tận tụy ở địa vị của mình. Cho tới khi cuộc đấu tranh nội tâm đã ngã ngũ, sẽ trở thành một người già cả đáng tin cậy, vui vẻ với đạo lý, dự khán sự trưởng thành khôn lớn của con cháu. Thông qua quá trình phân tích về các thế sao, vấn đề được làm rõ ở đây chính là thế đứng của mệnh và thân. Mệnh tốt, thân tốt, gặp hạn tốt thì cực kỳ hiển vinh phú quý (Phú văn : Mệnh hảo, thân hảo, hạn hảo, đáo lão vinh xương). Mệnh là tư chất thiên bẩm, thiên phú, thân là nỗ lực hậu thiên, hậu vận. Mệnh là tư tưởng, ngôn ngữ, suy nghĩ, thân là hành động. Chính bởi mệnh – thân đóng tại những thế khác nhau, nên đôi khi, lời nói, hành vi, sướng, khổ, nhục, vinh, thành công, thất bại nó không có tính nhất quán, và chúng ta phải nghiên cứu kỹ, trong quá trình luận giải.

(Sưu tầm)