Tam hợp- Nhị hợp

Tam Hợp và Lục Hợp (Nhị hợp)

Tam Hợp là ba Địa chi hiệp lại tạo nên cục, cục này làm nên việc. Như tuổi Nhâm Dần, có Tam Hợp là: Dần – Ngọ – Tuất tạo thành cục Hỏa, mà trong đó phân ngôi là: Dần giữ Tràng Sinh, Ngọ giữ Đế Vượng, Tuất giữ Mộ địa của Cục Dương Hỏa. 

Khi Dần giữ Thái Tuế sẽ hợp với Ngọ giữ Quan Phù, với Tuất giữ Bạch Hổ… (Thái Tuế là năm đang diễn ra, năm này có vai trò tối cao nên gọi là Thái Tuế). Hợp Sinh – Vượng, lưỡng Kim thành khí đối với tuổi Nhâm Dần là năm Giáp Ngọ (hành Kim), năm Canh Tuất (hành Kim), hai năm này muốn được việc lớn thì người tuổi Nhâm Dần phải khơi việc, mở màn (Sinh) hoặc giữ việc xuất ngôn, ngoại giao, chủ trì… (Thái Tuế), năm Giáp Ngọ phát huy thực tài và trí tuệ vào công việc ấy… (năm Đế Vượng), cũng là năm chủ về văn bản, giấy tờ, cửa công môn… (vì Ngọ giữ Quan Phù). Đến năm Canh Tuất thì người tuổi Nhâm Dần nên lo giữ gìn thành quả, lo việc hậu thuẫn, hậu phương… (Mộ, kho), lo dẹp loạn, giữ an ninh cho công việc… (Bạch Hổ ở cung Địa Võng). Xem vận năm–tháng–ngày–giờ, hoặc liên quan đến người khác đều như vậy.Các năm Thái Tuế là Bính Ngọ, Đinh Mùi (hành Thủy); Nhâm Tuất, Quý Hợi (hành Thủy) là Tử tôn của người tuổi Nhâm Dần, hợp đấy mà hao tổn đấy, chỉ lợi về việc phúc đức, việc con cái. Cũng trong cái hợp này có cái nguy về Mạng cho người tuổi Nhâm Dần nếu gặp hạn xấu… Xem năm – tháng – ngày – giờ, hoặc liên quan đến người đều như vậy.Các năm Thái Tuế là Mậu Ngọ, Kỷ Mùi (hành Hỏa) – Giáp Tuất, Ất Hợi (hành Hỏa) là Quan quỷ của người tuổi Nhâm Dần, nên hợp lợi công việc, ngành nghề… Các năm này, người tuổi Nhâm Dần bị khắc chế, khắc chế nhưng thành việc. Xem năm – tháng – ngày – giờ, người đều như vậy.Các năm Canh Ngọ, Tân Mùi (hành Thổ) – Bính Tuất, Đinh Hợi (hành Thổ) là Phụ mẫu của người tuổi Nhâm Dần, nên hợp (hay lợi cho) việc đất cát, ruộng vườn, nhà cửa, giải quyết những chuyện thuộc về gia đạo, đạo lí…đối với người tuổi Nhâm Dần thì rất có lợi. Xem năm–tháng–ngày–giờ, hoặc liên quan đến người đều như vậy.Các năm Nhâm Ngọ, Quý Mùi (hành Mộc) – Mậu Tuất, Kỷ Hợi (hành Mộc) là Thê tài của người tuổi Nhâm Dần, nên hợp lợi việc cầu tài, buôn bán, làm giàu, lấy vợ… nhưng Nhâm Dần luôn bị kém hơn các tuổi kia… Xem năm – tháng – ngày – giờ, người có liên quan… đều như vậy.Xem xét các trường hợp Nhị Hợp, (kể cả Tương xung, Tương hại…) cũng đều theo cách giải như trên, như vậy về khái quát, ta đã biết tương đối mọi sự cho người tuổi Nhâm dần. Còn như muốn khái quát phần tư tưởng, tâm linh của người này khi ở cõi trần, muốn lý giải cho sát, cho có nét rõ ràng, thì phải kết hợp với kiến thức của Bốc Phệ.

Vẫn lấy người tuổi Nhâm Dần nói trên làm ví dụ, trong Tử Vi, ta thấy như sau:Tuổi Nhâm Dần, Ngũ hành nạp âm là: Kim Bạc Kim, Dương Nam, người này sinh vào tháng 2, giờ Dần, nên lá số Tử Vi cho thấy phần Tâm linh Thiên định là: Cung Quan – Tràng Sinh; Nô – Mộc Dục; Di – Quan Đới; Tật – Lâm Quan; Tài – Đế Vượng; Tử tức – Suy; Thê – Bệnh; Huynh đệ – Tử; Mệnh – Mộ; Phụ – Tuyệt; Phúc – Thai; Điền – Dưỡng. ([1])Nhật Nguyên sinh là ngày Bính, thuộc hành Hỏa, nam mạng nên phần Tâm linh Nhân định trong cuộc đời là: Cung Phụ mẫu – Tràng Sinh; Phúc đức – Mộc Dục; Điền trạch – Quan Đới; Quan – Lâm Quan; Nô bộc – Đế Vượng; Thiên di – Suy; Tật ách – Bệnh; Tài bạch – Tử; Tử tức – Mộ; Thê – Tuyệt; Huynh đệ – Thai; Mệnh – Dưỡng.([2])Tuổi Nhâm trên lá số Tử Vi, cung Mệnh lập tại Sửu, giữ Mộc Tam Cục, như vậy phần Tâm linh Địa định giống như phần Tâm linh Thiên định: có nghĩa là cung Mệnh đều nhập Mộ ngay (khi lập lá số Tử Vi ta thấy ngay sao Địa Kiếp tại cung Mệnh) nhưng Nhật Nguyên Bính Hỏa ngoài phần Nhân định, lại là phần Xác của người này, cung Mệnh được sao Dưỡng, cho nên phương án lí giải là: nên cho làm con nuôi người khác ngay (Dưỡng là nuôi).Và khi giải Tử Vi, nếu người này mệnh yểu thì con người tâm linh của người này tới cõi trần Nam Thiên Bộ Châu và đầu thai về Đông Thắng Thần Châu. Nếu có tuổi thọ thì sau đầu thai về Bắc Cu Lô Châu, như vậy con người khi không theo tu học thì phần nhiều đều không thoát vòng sinh – tử luân hồi.Khi luận giải Tử Vi, càng biết rõ nét cuộc đời của một người qua các vòng sinh – tử của Ngũ hành nạp âm, càng thấy đây chính là phần “Tàng” trong lá số, các sách đều gọi là nhân mệnh của mỗi người.


[1] Ngũ hành Nạp âm là Kim bạc kim, nên Tràng sinh hành Kim khởi tại Tỵ, là cung Quan. 

[2] Ngũ hành của Bính là Hỏa, Tràng sinh của Hỏa khởi tại Dần, là cung Phụ Mẫu.

(Dẫn theo trang hoc-tuvi.blogspot.com)