NIÊN THỜI

年時

(VIỆC TRONG NĂM)

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Tuvivietnam 329449

1.陰晴寒暑天道之常
水旱兵災年時之變
欲決禍福於一年
須審吉凶於八卦
Âm tình hàn thử Thiên đạo chi thường
Thuỷ hạn binh tai niên thời chi biến.
Dục quyết hoạ phúc ư nhất niên
Tu thẩm cát hung ư bát quái.
Nắmg mưa lạnh nóng việc bình thường của Thiên đạo,
Lụt hạn binh đao là những biến cố trong năm
Muốn định hoạ phúc trong một năm
Cần xét cát hung nơi bát quái.
Niên thời là sự việc trong bốn mùa của một năm. Việc quốc gia, quan lại, thời tiết, nhân vật đều ở trong 6 hào của quẻ.

2.初觀萬物 莫居死絕之鄉
次察群黎喜在旺生之地
Sơ quan vạn vật, mạc cư Tử Tuyệt chi hương
Thứ sát quần lê, hỉ tại vượng sinh chi địa
Hào sơ để xem vạn vật, chớ trị ở nơi Tử Tuyệt,
Hào tiếp xét lê dân, mừng tại chỗ Vượng Sinh.
Vạn vật thuộc hào Sơ, ở Tài Phúc thì cát, lâm Quan Quỷ thì hung. Hào hai là vị trí của nhân dân, gặp Tử Tôn bốn mùa an lạc, gặp Quan Quỷ trong năm nhiều tai hoạ.

3.三言府縣官僚兄動則徵 科必追
四論九卿宰相冲身則巡察無私
Tam ngôn phủ huyện quan liêu, Huynh động tất chinh khoa tất truy
Tứ luận cửu khanh tể tướng, xung Thân tất tuần sát vô tư.
Hào tam nói về quan lại phủ huyện, nếu Huynh động thì truy thu thuế .
Hào tứ luận về Tể tướng và cửu khanh[1], nêu xung Thân thì việc tuần sát vô tư.
Hào tam đoán quan lại có trách nhiệm, sinh hợp Thế hào thì có lòng thương người mến vật. Nếu lâm Tử Tôn thì thanh liêm chính trực, lâm Quan Quỷ bất nhân tàn bạo, lâm Huynh Đệ phát động khắc Thế thì bức bách thu thuế.
Nếu xem cử khanh và tể tướng thì xét hào tứ, lâm Tử Tôn sinh hợp Thế Thân thì cai trị lo lắng cho dân, chính trực vô tư.

[1] Chỉ các hạng quan lớn. Tuỳ triều đại mà thay đổi, như triều Minh ở Trung Quốc gọi Thượng thư của lục Bộ, Đô ngự sử ở Đô Sát viện, Thông Chính Ty sứ, Đại Lý tự khanh là cửu khanh.

4.五為君上之爻
六為昊 天之位
Ngũ vi Quân thượng chi hào,
Lục vi hạo thiên chi vị.
Hào ngũ là vị của vua
Hào lục là vị của Trời.
Hào ngũ là vị trí của vua, không nên động khắc hào Thế, vì như thế thì năm đó chịu bóc lột của triều đình. Nếu lâm Tài Phúc sinh hợp hào Thế tất được ân của vua, hoá ra Phụ Mẫu thường có ân xá, lâm Không động tất có danh mà không thực. Hào lục là Trời, nếu lâm Không năm ấy tất nhiều việc quái dị, vì vốn Trời không có lý xuất Không, nên chủ sự biến đổi lạ thường.

5.應亦為天剋世則天心不順
世還為地逢空則人物多災[/indent]
Ứng diệc vi Thiên, khắc Thế tắc Thiên tâm bất thuận;
Thế hoàn vi Địa, phùng không tắc nhân vật đa tai
Ứng cũng là Trời, khắc Thế thì lòng Trời không thuận
Thế còn là Đất, gặp Không thì người vật nhiều tai ương.
Ứng hào lại là những quân bên ngoài Kinh, Thế hào lại là bản địa (chỉ vùng người xem đang ở)

6. 太歲逢凶乘旺有溫州之大颶
Thái Tuế phùng hung thừa vượng, hữu Ôn châu chi đại cụ
Thái Tuế gặp hung mà vượng có gió lớn ở Ôn châu[1].
Thái Tuế là chủ tinh của một năm, duy gặp Tử Tôn, Thê Tài là cát, lâm những nơi khác đều bất lợi. Như lâm Huynh động thì năm đó nhiều gió, khắc Thế thì tai hoạ về gió bão.

[1] Tên phủ ở Triết Giang Trung quốc, đây dùng để chỉ miền đất đang ở. Dung từ Ôn châu để đối với Hán tẩm ở vế sau (câu 7).

7. 流年直鬼帶刑成漢寢之轟雷
Lưu niên trị Quỷ đới hình, thành Hán tẩm chi oanh lôi.
Lưu niên gặp Quan quỷ nên sấm sét trên đất Hán.
Thái Tuế lâm Quan Quỷ động , nhiều sấm sét tai hoạ. Sáu hào không có Quan, niên nguyệt không trị Quan , hoặc Quan suy tuyệt đều tốt.

8. 發動妻財旱若成湯之日
交重父母潦如堯帝之時
Phát động Thê Tài, hạn nhược Thành Thang chi nhật
Giao trùng Phụ Mẫu, lạo như Nghiêu đế chi thì.
Thê Tài phát động thì trời hạn như thời vua Thành Thang
Phụ Mẫu động thì lụt như thời vua Nghiêu.
Thê Tài lâm Thái Tuế phát động mà hào Phụ suy nhược, tất chủ khô hạn. Nêu Phụ trì Thái Tuế phát động, Tử Tôn suy nhược chủ nước lớn.

9. 猛烈火官回祿興災於照應
Mãnh liệt hoả Quan hồi lộc hưng tai ư chiếu ứng
(Quan Quỷ thuộc Hoả vượng động thì ứng việc có hoả tai)
Quan Quỷ thuộc Hoả phát động chủ có hoả tai.
Hoả Quỷ phát động chủ có hoả tai, nếu với hào Thế vô can mà trở ngại, với hào Ứng thì hàng xóm bị hoả tai. Dùng nội ngoại quái mà luận xa hay gần.

10. 汪洋水鬼玄冥作禍於江淮
Uông dương thuỷ Quỷ, Huyền Minh tác hoạ ư giang hoài
Thuỷ Quỷ thì nước mênh mông, Huyền Minh[1] gây hoạ nơi sông lớn.
Thuỷ Quỷ phát động chủ có thuỷ tai, tại ngoại quái động thì ngập chìm ở nơi khác, ở nội quái động thì nước sông tràn ngập ở nơi gần, nếu không khắc Thế thì tuy ngập cũng vô sự.

11. 尤怕屬金四海干戈如鼎沸
Vưu phạ thuộc kim, tứ hải can qua giai đỉnh phất
Càng sợ nếu thuộc kim, bốn biển chiến tranh sùng sục.
Kim Quỷ phát động sợ có binh đao, xung khắc Ứng hào, sinh hợp với hào ngũthì triều đình chinh phạt, như ở ngoại quái lại thuộc cung khác, khắc hào ngũ hoặc khắc Thái Tuếthì ở ngoài xâm phạm đất nước. Hoặc lưỡng Quỷ đều động thì chẳng phải một nơi làm loạn, hoặc hoá hồi đầu khắc, nhưng Nhật thần Nguyệt kiến động hào khắc chế thì tuy có phản loạn mà chẳng hại. Nếu Quan hưu tù động thì là giặc cứơp.
Tuvivietnam 333881
12. 更嫌值土千門疫厲苦 符同
Cánh hiềm trị Thổ, thiên môn dịch lệ khổ phù đồng
Lại hiềm ở Thổ, khổ vì tai hoạ ôn dịch khắp ngàn nhà.
Thổ Quỷ phát động lại lâm Bạch Hổ đều chủ ôn dịch, nếu khắc Thế thì người mắc bệnh chết nhiều, có chế thì chẳng hại gì.

13. 逢朱雀而化福爻財動則旱蝗 相繼
Phùng Chu Tước nhi hoá Phúc hào, Tài động tắc hạn hoàng tương kế
Gặp Chu Tước mà hoá Phúc Đức, Tài động thì hạn và sâu bọ kế tiếp nhau.
(Quỷ lâm Chu Tước động,hình khắc Thế Thân chủ có tai hoạ sâu bọ, vì vốn Chu Tước (chim sẻ đỏ) có thể bay được.

[1] tên thuỷ thần.