Chương 25

Y DƯỢC

醫 藥

(Thầy -Thuốc)

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Tuvivietnam 357927
病 不 求 醫 全 生 者 寡
藥 不 對 症 枉 死 者 多
欲 擇 善 者 而 從 之 – 須 就 蓍 人 而 問 也
應 作 醫 人 空 則 瞷 亡 而 不 遇
子 為藥 餌 伏 則 扞 格 以 無 功
Bệnh bất cầu y, toàn sinh giả quả,
Dược bất đối chứng, uổng tử giả đa
Dục trạch thiện giả nhi tòng chi
Thuận tựu thi nhân nhi vấn giả
Ứng tác y nhân, Không tắc gian vong nhi bất ngộ,
Tử vi dược nhĩ, phục tắc hãn cách dĩ vô công.
Bệnh không tìm thầy, có sống được cũng quá ít,
Thuốc không đúng bệnh, chết uổng quá nhiêu.
Vì muốn chọn đường tốt để theo – Cần tìm thầy bói để hỏi
Ứng là thầy thuốc, lầm Không tất trông mong mà chẳng gặp
Tử là thuốc men, phục thì trị bệnh cũng vô ích.
Phàm bói về Y dược thì lấy hào Tử Tôn làm thuốc, lấy hào Ứng làm thầy thuốc. Nếu Tử Tôn bị hại hoặc Mộ Tuyệt, hoặc hào Quan sinh vượng thì thuốc không đúng bệnh, không thể trừ bệnh được. Nếu Ứng hào lâm Tuần Không thì thầy thuốc đi nơi khác, dùng thuốc cũng không kết quả.

1. 鬼 動 卦 中 眼 下 速 難 取 效

Quỷ động quái trung, nhãn hạ tốc nan thủ hiệu

Trong quẻ Quỷ động, trước mắt khó có hiệu quả nhanh.

Xem thuốc cần hào Quỷ an tĩnh mà vô khí. Nếu phát động, tuy có thuốc hay nhưng nhất thời khó có hiệu quả. Chơ ngay Quan Quỷ bị Mộ tuyệt thì dùng thuốc moái có hiệu lực.

2. 空 臨 世 上 心 中 強 欲 求 醫

Không lâm Thế thượng, tâm trung cưỡng dục cầu y

Không ở hào Thế thì trong lòng miễn cưỡng tìm thầy.

Hào Thế lâm Không tất không chuyên tâm tìm thầy hoặc không tin tưởng, tuy mời thầy cũng không dùng thuốc của ông ta.

3. 官 旺 福 衰 藥 餌 輕 而 病 重

Quan vượng Phúc suy dược nhĩ khinh nhi bệnh trọng

Quan vượng, Tử suy thuốc kém mà bệnh nặng.

Hào Quan vô khí, Tử Tôn vượng tướng thì thuốc chữa bệnh uống có kết quả. Nếu TửTôn hưu tù, hào Quan vượng tướng thì thuốc kém mà bệnh nặng uống vào vô ích.

4. 應 衰 世 旺 病 家 富 而 醫 貧

Ứng suy Thế vượng bệnh gia phú nhi y bần

Ứng suy mà Thế vượng thì nhà bệnh giàu mà thầy thuốc nghèo.
Thế là nhà của người bệnh, Ứng là nhà thầy thuốc. Nếu tương hợp tương sinh tất không thân thuộc thì là bằng hữu. Nếu Ứng vượng Thế suy thì nhà bệnh nghèo mà thầy thuốc giàu,Ứng suy Thế vượng thì đoán ngược lại.

5. 父 母 不 宜 持 世

官 煞 豈 可 臨 身

Phụ Mẫu bất nghi trì Thế

Quỷ sát khởi khả lâm Thân
Phụ Mẫu không nên trì Thế
Quỷ sát há có thể lâm Thân ?
Quái Thân và hào Thế đều không nên lâm Quan Quỷ, gặp phải thế thì uống thuốc không công hiệu.

6. 官 化 官 病 變 不 一

Tuvivietnam 3222531

子 化 子 藥 雜 不 精

Quan hoá Quan bệnh biến bất nhất
Tử hoá Tử dược tập bất tinh
Quan hoá Quan bệnh thay đổi bất thường
Tử hoá Tử thuốc lẫn lộn không tinh.
Câu này nói Quan hoá Tiến Thần bệnh chứng bất nhất hoặc bệnh thế không định được. Hoá Thoái thần thì đoán ngược lại. Dụng thần khi xem về thuốc là Tử Tôn, nếu Tử Tôn hoá Tiến thần thì thuốc uống có hiệu quả, nếu hoá Thoái thần cùng quẻ Phục ngâm thì không thể uống thuốc đó được.
7. 福 化 忌 爻 遇 服 殺 身 之 惡 劑
Phúc hoá Kỵ hào ngộ phục sát thân chi ác tễ
Hào Phúc hoá Kỵ thần, uống lầm thuốc mà chết.
Vốn có động tắc phải biến, nếu Tử Tốn hoá Phụ Mẫu hồi đầu khắc thì Tử Tôn khó thương khắc Quan Quỷ tất uống lầm thuốc mà hoạ đến thân.

8. 應 臨 官 鬼 防 投 增 病 之 藥 湯
Ứng lâm quan Quỷ phòng đầu tăng bệnh chi dược thang
Ứng ở Quan Quỷ thì phòng uống thuốc mà bệnh nặng thêm.
Ứng lâm Quan Quỷ tất không phải là thầy thuốc giỏi, nếu lại hình khắc Thế, Dụng thần nên phòng lầm thuốc mà hại người, hoặc lâm Kỵ hào, hoặc hoá Quan Quỷ đều không nên dùng thuốc của Thầy này.

9. 鬼 帶 日 神 定 非久 病
Quỷ đới Nhật thần định phi cửu bệnh
Quỷ là Nhật thần chắc chẳng phải là cửu bệnh[1]
Quỷ trị Nhật thần động tất trước mắt bệnh nặng. Nếu Nhật thần là Quan Quỷ nhưng không hiện trong quẻ tất không thể bảo bệnh này đang nặng.

[1] tức bệnh lâu ngày

10. 應 臨 月 建 必 是 官 醫
Ứng lâm Nguyệt kiến tất thị Quan y
Ứng là Nguyệt kiến tất thấy thuốc triều đình.
Ứng trì Thái Tuế là thế y[1], trì Nguyệt kiến, Nhật thần tất quan y[2], lại được Nhật Nguyệt lâm Tử Tôn thì cho thuốc rất thần hiệu. Ứng lâm Tử Tôn là thấy thuốc chuyên môn có thể phó thác.
Tuvivietnam 3131568
11. 世 下 伏 官 子 動 則 藥 雖 妙 而 病 根 當 在
Thế hạ phục Quan, Tử động tắc dược tuy diệu nhi bệnh căn thường tại
(Quan phục dưới Thế mà Tử động thì thuốc tuy hay nhưng gốc bệnh vẫn còn mãi)
Đại để tự xem bệnh cho mình mà gặp Quan phục ở dưới hào Thế hoặc xem bệnh cho người khác gặp Quan phục dưới Dụng thần , tất bệnh không thể đoán được nguồn gốc, ngày sau e sẽ tái phát.12. 衰 中 坐 鬼 身 臨 則 病 雖 輕 而 藥 力 難 扶
Suy trung toạ Quỷ, Thân lâm tắc bệnh tuy khinh nhi dược lực nan phù
Thân lâm Quỷ suy thì bệnh tuy nhẹ mà thuốc không công hiệu.
Quái Thân tuy lâm Quỷ suy nhược là tượng bệnh kéo dài khó lành, hoặc Dụng thần lâm Quan nhập Mộ cũng vậy.

13. 父 若 伏 藏 名 雖 醫 而 未 諳 脈 理
Phụ nhược phục tàng danh tuy y nhi vị am mạch lý
Phụ hào suy nhược mà phục thì tuy gọi là thầy thuốc nhưng không rành mạch lý.
Trong quẻ Phụ động, Tử Tôn không thể chuyên quyền, cho nên không tốt. Nhưng không thể không tĩnh, mà không thể không động, vì sao vậy ? Vốn khí mạch của con người đều phụ thuộc vào cha mẹ, cho nên xem về thầy thuốc không có hào Phụ Mẫu thì là thầy thuốc quê mùa, tuy dùng thuốc mà không rõ mạch lý.

14. 鬼 不 出 現 藥 總 用 而 不 識 病 源
Quỷ bất xuất hiện dược tổng dụng nhi bất thức bệnh nguyên
Quỷ không hiện có dùng thuốc cũng không rõ căn bệnh.
Quan Quỷ là bệnh, xuất hiện thì dễ bị khắc chế nên dùng thuốc có hiệu quả. Nếu không hiện trong quẻ thì bệnh ẩn không rõ nguồn gốc, chẳng quyết đoán được thuốc dùng nên khó có công hiệu.

15. 主 絕 受 傷 盧 醫 難 救
Chủ Tuyệt thụ thương, Lư y nan cứu
Chủ tượng bị thương khắc, thầy thuốc họ Lư[3] cũng khó cứu được.
Chủ tượng nếu phục, Mộ, Tuyệt, hoặc biến nhập Mộ, Tuyệt, lại bị khắc thì lương y cũng không cứu nỗi.

16. 父 興 得 地 扁 鵲 無 功
Phụ hưng đắc địa, Biển Thước vô công
Hào Phụ động lại đắc địa thì Biển Thước[4] cũng vô ích)
Phụ Mẫu phát động, Tử Tôn thụ thương, uống thuốc tất không công hiệu. Nếu Tử Tôn có khí mà Nhật thần, động hào khắc Phụ Mẫu tất uống thuốc có hiệu quả.

17. 察 官 爻 而 用 藥 火 土 寒 涼
Sát Quan hào nhi dụng dược Hoả Thổhàn lương
Xem hào Quan mà dùng thuốc hoăc Hoả, Thổ hoặc hàn lương.
Hoả Thổ ở hào Quan tì bệnh này thuộc nhiệt, nên dùng thuốc hàn để trị; Kim Thuỷ ở hào Quan thì phần lớn thuộc bệnh hàn, dùng than thuốc ôn nhiệt để trị. Như Hoả thì dùng Hàn, Thổ thì dùng lương, Thuỷ thì nhiệt, Kim thì ôn…Lại nếu Hoả Quỷ sinh vượng, nếu được sinh phò thì dùng thuốc đại hàn để trị. Gặp Thuỷ Quỷ sinh vượng mà được hợp trú thì nên dùng thuốc đại nhiệt. Nếu Hoả Quỷ tại âm cung, âm hào là chứng âm hư hoả động có thể dùng thuốc giáng hoả tư âm. Thuỷ Quỷ tại dương cung nội quái là chứng huyết khí hư tổn có thể dùng thuốc bổ trung ích khí. Ngoài ra cứ phong như thế, nên linh động

18. 驗 福 德 以 迎 醫 丑 寅 東 北
Nghiệm Phúc Đức dĩ nghênh y Sửu Dần đông bắc.
Nghiệm Phúc Đức để mời thấy ở phương Sửu Mùi, hoặc đông bắc.
Phàm xem uống thuốc nên xem Tử Tôn là hào nào, tất biết thầy thuốc ở đâu có thể trị được. Nếu ở hào Tí thì người ở phương bắc, là Sửu thì thầy ở phương đông bắc chẳng hạn. Lại như Tử Tôn là Dần thuộc Mộc thì tên người thầy có bộ Mộc ở bên, hoặc bộ Thảo đầu, hoặc mạng cọp chẳng hạn…Tuy chẳng phải là phương đông nhưng cũng có thể trị được bệnh.

19. 木 帶 財 興 大 忌 魚 鮮 生 冷
Mộc đới Tài hưng kỵ ngư tiên sinh lãnh.
Tài thuộc Mộc vượng kỵ cá tươi, vật phát lạnh.
Tài là ăn uống, đố để nuôi sống. Nếu Tài động thì sinh trợ Quỷ hào, ngược lại là có hại. Nếu thuộc Thuỷ thì kỵ các vật như cá tươi, các vật làm lanh thì dùng thuốc mới có hiệu quả. Nếu ở hào Mộc kỵ ăn những đồ động phong; hào Hoả kỵ đồ nấu nướng nóng; ở Kim kỵ đồ ăn cứng chắc; ở Thổ kỵ đồ dầu mỡ. Tài nếu không động thì không thể đoán ẩu. Lại sợ hào Quỷ sinh ra vật , như Sửu thì kỵ trâu bò, Dậu thì kỵ gà vịt… Ngoài ra phỏng theo như thế.

20. 木 加 龍 治 偏 宜 舒 暢 情 懷
Mộc gia Long trị thiên nghi thư sướng tình hoài.
Mộc được Thanh Long trị nên được thong dong sung sướng.
Thanh Long là thần vui vẻ, lại lâm Mộc mà sinh hợp với hào Thế, thì bệnh nhân nên gác việc nhà, an nhàn thong thả, uống thuốc mới kiến hiệu.

Tuvivietnam 3222527

[1] chỉ thấy thuốc gia truyền

[2] tức thầy thuốc làm việc cho nhà nước

[3] Lư sinh người đời Tần, được lệnh Tần Thuỷ Hoàng vượt biển tìm thuốc trường sinh.

[4] Biển Thước họ Tần tên Việt nhân là thầy thuốc giỏi thời Chiến quốc ở Trung Quốc.

21. 財 合 用 神 居 外 動 吐 之 則 痊
Tài hợp Dụng Thần cư ngoại động thổ chi tắc thuyên,
Tài ở ngoại cung động hợp với Dụng Thần, nôn mửa tất bớt.
Tài ở ngoại cung chủ nôn mửa, nếu sinh hợp với Dụng hào dùng thuốc nôn tất bớt.22. 子逢 火 德 寓 離 宮灸 之 則 愈
Tử phùng Hoả ngụ Li cung cứu chi tắc dũ.
Tử thuộc Hoả ở cung Li, cứu tất lành bệnh.
Tử Tôn thuộc Hoả lại ở cung Li, dùng thuộc nhiệt điều trị, hoặc dùng ngãi để cứu tất lành.

23. 坎 卦 子 孫 則 須 發 汗
木 爻 官 鬼 先 要 疏 風
Khảm quái Tử Tôn tắc tu phát hãn
Mộc hào Quan Quỷ tiên yếu sơ phong.
Tử Tôn thuộc quẻ Khảm tất đổ mồ hôi
Quan Quỷ thuộc Mộc, trước hết nên thoát phong.
Tử Tôn thuộc Thuỷ hoặc tại cung Khảm phát động, đều nên xuất mồ hôi. Quan Quỷ thuộc Mộc trước hết làm tán phong tà rồi dùng thuốc mới công hiệu.

24. 用 旺有 扶 休 再 補
鬼 衰 屬 水 莫 行 針
Dụng vượng hữu phù hưu tái bổ
Quỷ suy thuộc Thuỷ mạc hành châm
Dụng Thần vượng được phò trợ không nên “bổ”
Quan Quỷ suy thuộc Thuỷ chớ nên châm.
Dụng hào hưu tù Mộ Tuyệt tất dùng thuốc bổ mới công hiệu. Nếu Dụng hào được vượng tướng lại được sinh phò hợp trợ nên dùng thuốc công phạt để điều trị, nếu dùng thuốc bổ có tác dụng ngược lại thì sinh hại. Tử Tôn thuộc Kim lợi dụng kim châm. Quan Quỷ thuộc Thuỷ mà dùng kim châm thì Kim sinh Thuỷ, trợ giúp cho bệnh. Thổ Quỷ thì kỵ thuốc nhiệt; Mộc Quỷ thì kỵ thuốc hàn; Mộc Quỷ thì kỵ thuốc phong; Kim Quỷ thì kỵ thuốc hoàn[1].
Tuvivietnam 3186963
25. 福 鬼 俱 空 當 不 治 而 自 愈
子 官 皆 動 宜 內 補 而 外 修
Phúc Quỷ câu Không đương bất trị nhi tự dũ
Tử Quan giai động nghi nội bổ nhi ngoại tu.
Phúc Quỷ đều lâm Không, không chữa bệnh cũng lành
Tử và Quan đều động nên trong bổ ngoài cầu.
Xem về bệnh mà hai hào Tử và Quan đều lâm Không là điềm tốt, hoặc đều suy tĩnh, không xung không tính thì bệnh tự lành, không cần dùng thuốc. Nếu hai hào đều động thì không phải dùng không đúng thuốc mà do Thần gây hoạ, cho nên mới gọi là “vô công” (vô ích) , nên cầu đảo rồi uống thuốc mới giảm. Tục gọi là “ngoại tu nội bổ” .

26. 卦 動 兩 孫 用 藥 須 當 間 服
Quái động lưỡng Tôn dụng dược đương gián phục
Quẻ có hai hào Tử Tôn động, dùng thuốc nên gián đoạn.
Quẻ có hai hào Tử Tôn động, không cần liên tục uống thuốc mà chia ra uống mới có hiệu quả.

27. 鬼 傷 二 間 立 方 須 用 寬 胸
Quỷ thương nhị gian , lập phương tu dụng khoan hung.
Quỷ hại gian hào, nên dùng thuốc cho ngực được thư giản.
Quan Quỷ động xung khắc gian hào , hoặc Quỷ ở gian hào động tất lồng ngực bất lợi, cần dùng thuốc cho ngực được thư giản. Gặp Huynh Đệ phát động tất khí nghịch, nên dùng thuốc điều khí.

28. 父 合 變 孫 莫 欲 閉 門 修 養
Phụ hợp biến Tôn mạc dục bế môn tu dưỡng
Phụ biến hợp với Tử Tôn, chẳng gì hơn đóng cửa dưỡng bệnh.
Trong quẻ Phúc, Quan suy tĩnh, nếu có Phụ Mẫu động sinh hợp Thế Thân, không nên uống thuốc, nên ở yên tĩnh, đóng cửa dưỡng bệnh.

29. 五 興 化 福 可 用 路 遇 醫 人
Ngũ hưng hoá Phúc khả dụng lộ ngộ y nhân
Hào ngũ động hoá Phúc, có thể nhờ thầy thuốc gặp trên đường.
Nếu hào ngũ của Quẻ động hoá Tử Tôn, không cần chọn thầy để uống thuốc, thầy thuốc tầm thường cũng trị được. Nếu Tử Tôn không hiện mà Nhật thần lâm Tử Tôn sinh hợp thì tất có thầy đến trị bệnh ngoài tiên liệu của mình.

30. 世 應 比 和 無 福 德 須 用 更 醫
Thế Ứng tỉ hoà vô Phúc Đức tu dụng canh y
Thế Ứng tỉ hoà mà không có Phúc Đức, nên đổi thầy thuốc.
Thế Ứng tỉ hoà, quẻ không có Phúc Đức thì thuốc không lợi mà không hại, nên đổi thầy thuốc mới lành bệnh.

31. 財 官 發 動子 孫 空 徒 勞 服 藥
Tài Quan phát động Tử Tôn Không đồ lao phục dược
Tài Quan phát động, Tử Tôn lâm Không, uống thuốc vô ích.
Tài và Quan đều động, thế bệnh đã hung, mà Tử Tôn lâm Không uống thuốc cũng vô ích.
Phàm xem tìm thầy uống thuốc cần thành tâm ngầm cầu xem nhờ thầy nào uống thuốc gì có công hiệu hay không, không cxần nói rõ họ tên, người đoán cứ theo chương này mà suy, thì không chọn thầy sai lầm, thành tâm tất cảm ứng, quẻ luôn ứng nghiệm, há chẳng an tâm sao?

[1] Nguyên văn là 丸 hoàn, tức thuốc viên.

–hết chương 25—