Thập, luận dụng thần biến hóa (P1)

Nguyên văn: Dụng thần chuyên gửi ở nguyệt lệnh hĩ, nhưng nguyệt lệnh tàng chứa bất nhất, nên dụng thần cũng biến hóa. Như trong 12 chi, trừ Tý Ngọ Mão Dậu ra, đều tàng chứa dư khí, không chỉ riêng tứ khố vậy. Tức lấy Dần mà luận, Giáp vốn là chủ, như quận có phủ, Bính trường sanh ở đó, như quận có đồng tri, Mậu cũng trường sanh, như quận có thông phán; giả sử tháng Dần là đề cương, không thấu Giáp mà thấu Bính, tất như tri phủ không tới quận, nên đồng tri được tác chủ vậy. Biến hóa là do thế.

Từ chú: Trong 12 chi, Tý Ngọ Mão Dậu là chuyên khí, chỉ tàng 1 chứa thần vậy; Dần Thân Tị Hợi là sanh địa, là nơi tàng chứa khí Trường sanh Lộc vượng. Thập can tức là ngũ hành, ngũ hành chỉ có 4 sanh địa. Âm trường sanh là do dương cực mà âm sanh, không phải sanh địa chân chính, nên nói trong Tý Ngọ Mão Dậu, không có trường sanh vậy. Ở Dần thì Giáp mộc lộc vượng, Bính Mậu trường sanh, nên nói tàng Giáp Mậu Bính. Ở Tị thì Bính mậu lộc vượng, Canh kim trường sanh, nên nói Tị tàng chứa Bính Mậu Canh, Giáp mộc trường sanh, cố sở tàng là Nhâm Mậu Giáp. Thổ kí sanh ở Dần Thân, kí vượng ở Tị Hợi. Nói Dần Tị mà không nói Thân Hợi vì, do trong Dần có chứa Bính hỏa sanh cho, nên thổ vượng dùng được; trong Hợi trong có tàng chứa kim thủy tiết khí, nên nói thổ nhược không thể dùng được vậy. Thìn Tuất Sửu Mùi là mộ địa, tàng chứa dư khí vạn vật lúc nhập mộ. Ở Thìn thì mộc còn dư khí, thủy mộ, nên thổ là bản khí, nên nói Thìn tàng chứa Mậu Ất Quý vậy, Tuất Sửu Mùi đều như thế. Nên nói lấy Dần mà luận, Giáp là chủ, gặp Dần thì khí đương vượng vậy; kế tới Bính Mậu cũng là có khí. Giả sử tháng Dần là đề cương, không thấu Giáp mà thấu Bính, thì Giáp tuy đương vượng, nhưng trong bát tự không có, cai quản ở đâu chứ; Bính tuy thứ yếu, nhưng chủ trì bát tự, thế nên bỏ Giáp mà dùng Bính. Do thế mà biến hóa vậy.

Nguyên văn: Lại nói Đinh sanh tháng Hợi, vốn là Chánh quan, chi toàn Mão Mùi, tất hóa ra Ấn. Kỷ sanh tháng Thân, vốn là Thương quan. Tàng chứa Canh mà thấu Nhâm, tất hóa ra Tài. Phàm như thế đều là biến hóa của dụng thần vậy.
Tuvivietnam 4275046
Từ chú: Đinh sanh tháng Hợi, nguyệt lệnh vốn là Chánh quan, chi toàn Mão Mùi, tất tam hợp mộc cục mà hóa ra Ấn, thế là vì hội hợp mà biến hóa vậy. Kỷ sanh tháng Thân, kim vốn là Thương quan, tàng Canh thấu Nhâm, tất Thương quan dùng lấy Tài, thế là vì tàng thấu mà biến hóa vậy.

Nguyên văn: Biến khéo thì cách trở thành rất tốt; biến không khéo thì cách tan nát, thế nào là biến khéo? Như Tân sanh tháng Dần, gặp Bính thì Tài hóa ra Quan; Nhâm sanh tháng Tuất gặp Tân thì Sát hóa ra Ấn. Quý sanh tháng Dần, không thể chuyên lấy Sát mà luận. Thử nhị giả dĩ thấu xuất nhi biến hóa giả dã. Quý sanh dần nguyệt, nguyệt lệnh thương quan bỉnh lệnh, tàng giáp thấu bính, hội ngọ hội tuất, tắc dần ngọ tuất tam hiệp, thương hóa vi tài; gia dĩ bính hỏa thấu xuất, hoàn toàn tác vi tài luận, tức sử bất thấu bính nhi thấu mậu thổ, diệc tác tài vượng sanh quan luận. Cái dần ngọ tuất tam hiệp biến hóa tại tiền, bất tác thương quan kiến quan luận dã. Ất sanh dần nguyệt, nguyệt kiếp bỉnh lệnh, hội ngọ hội tuất, tắc kiếp hóa vi thực thương, thấu mậu tắc vi thực thương sanh tài, bất tác tỉ kiếp tranh tài luận. Thử nhị giả nhân hội hiệp nhi biến hóa giả. Nhân biến hóa nhi kị hóa vi hỉ, vi biến chi thiện giả.

Từ chú: Tân sanh tháng Dần, nguyệt lệnh Chánh tài nắm lệnh, thấu Bính tất lấy Tài sanh Quan vượng làm dụng, không thể chuyên lấy Tài mà luận. Nhâm sanh tháng Tuất, nguyệt lệnh Thất sát nắm lệnh, thấu Tân tất Tân kim dư khí tác dụng, Sát Ấn tương sanh, không thể chuyên lấy Sát mà luận. 2 ví dụ đó lấy thấu ra mà biến hóa ra vậy. Quý sanh tháng Dần, nguyệt lệnh Thương quan nắm lệnh, tàng Giáp thấu Bính, hội Ngọ hội Tuất, tất Dần Ngọ Tuất tam hợp, Thương hóa ra Tài; thêm Bính hỏa thấu ra, hoàn toàn lấy Tài mà luận, tức dùng như không thấu Bính mà thấu Mậu thổ, thì cũng lấy Tài vượng sanh Quan mà luận. Thế nên trước tiên lấy Dần Ngọ Tuất tam hợp biến hóa, không luận là Thương quan gặp Quan vậy. Ất sanh tháng Dần, tháng Kiếp nắm lệnh, hội Ngọ hội Tuất, tất Kiếp hóa ra Thực thương, thấu Mậu tất Thực thương sanh Tài, không thể lấy Tỷ kiếp tranh Tài mà luận. Đó là lấy hội hợp mà biến hóa vậy. Nhờ biến hóa mà kị hóa ra hỉ, là khéo biến vậy.

Nguyên văn: Thế nào là biến không khéo? Như Bính sanh tháng Dần, vốn là Ấn thụ, can không thấu Giáp mà lại hội Ngọ hội Tuất, tất hóa ra Kiếp. Bính sanh tháng Thân, vốn là Thiên tài, tàng Canh thấu Nhâm, hội Tý hội Thìn, tất hóa ra Sát. Những trụ loại như thế đều là biến không khéo ra bất thiện vậy.

Từ chú: Bính sanh tháng Dần, Giáp mộc nắm lệnh, vốn là Thiên ấn, can không thấu Giáp mà thấu Bính, hoặc hội Ngọ hội Tuất, tất tam hợp hỏa cục, Ấn hóa ra Kiếp. Bính sanh tháng Thân, Canh kim nắm lệnh, vốn là Thiên tài, can không thấu Canh mà thấu Nhâm, hoặc hội Tý hội Thìn, tất tam hợp hỏa cục, Tài hóa ra Sát. Do biến hóa mà hỉ hóa ra kị, là biến ra bất thiện. Hỉ kị biến hóa không nhất định, xem thêm như sau:

c.Tài t.Ấn nhật chủ Sát
Nhâm Đinh Kỷ Ất
Dần Mùi
Mão
Hợi

Hành vận: Mậu thân / kỷ dậu / canh tuất / tân hợi / nhâm tý / quý sửu

Là trụ của Ngũ Đình Phương. Kỷ sanh tháng Mùi, can thấu Đinh hỏa, hỏa thổ đang vượng, thế nhưng chi hội Hợi Mão Mùi mộc cục, can thấu Nhâm thủy, Đinh hợp Nhâm hóa mộc, thêm chi năm Dần, giờ thấu Ất trợ giúp thêm, Đinh Mùi 2 chữ đều hóa ra mộc, Kỷ thổ không khỏi tòng Sát. Tứ trụ không kim, hội cục thuần túy, tòng Sát cách thành vậy.

 

Thập, luận dụng thần biến hóa (P3)

 

t.Tài Tỉ nhật chủ Thương
Bính Nhâm Nhâm Ất

Thìn Thân Tị

Hành vận: Quý tị / giáp ngọ / ất mùi / bính thân / đinh dậu / mậu tuất

Là trụ của Vương Khắc Mẫn. Nhâm sanh tháng 3, vốn là mộ địa, Mậu thổ Thất sát nắm lệnh, nhưng trong Thìn không thấu Mậu mà thấu ra Nhâm Ất, Thân Tý Thìn tam hợp thủy cục, tất thổ vượng biến thành thủy vượng, mộc mùa xuân còn dư khí, tiết bớt thủy vượng, Bính hỏa lại đắc lộc ở Tị, biến ra Thương quan sanh Tài cách.

Kiếp c.Tài nhật chủ Kiếp
Ất Kỷ Giáp Ất
Hợi Mão Thân Hợi

Hành vận: Mậu dần, đinh sửu, bính tý, ất hợi, giáp tuất, quý dậu

Là trụ của Hồ bắc đô đốc Tiêu Diệu Nam. Nguyệt lệnh dương nhận, gặp được Thân kim chế, Sát Nhận cách thành vậy. Canh kim trong thân, gặp ám hợp với Ất mộc trong Mão, khí hiệp tình hòa, chính gọi là “Giáp lấy Ất muội thê Canh, tưởng cát hóa hung” vậy. Dương nhận hợp Sát, Sát chẳng khắc thân, đến vận Giáp làm quan phủ 2 hồ; vận Tuất sanh kim mà hợp mất Mão, cách cục phá hết, thất lộc.

Kiếp c.Tài nhật chủ t.Tài
Quý Đinh Nhâm Bính
Dậu Tị Ngọ Ngọ

Hành vận: Bính thìn / ất mão / giáp dần / quý sửu / nhâm tý / tân hợi

Là trụ của Tùng hỗ hộ quân sứ Hà Phong Tòng. Nguyệt lệnh Tài Sát, nhật nguyên cực nhược, hay ở chỗ Tị Dậu hợp lại, Tài hóa ra Ấn, Quý khắc mất Đinh, khiến Đinh chẳng hợp Nhâm, cũng chẳng thương Ấn, là dùng Kiếp hộ Ấn. Can giờ Bính hỏa thấu ra, Tài vượng sanh Quan, nhờ có Tài Ấn chẳng hại nhau, toại thành quý cách. Như chỉ được Quý thủy cứu ứng, mà không gặp được Tị Dậu biến hóa, cũng không thành nổi vậy.

Nguyên chú: Cũng có khi biến hoá mà không làm mất cách cục vậy. Như Tân sanh tháng Dần, thấu Bính hóa Quan, như lại thấu Giáp, trở thành cách Chánh tài, kiêm thêm cách Chánh quan vậy. Ất sanh tháng Thân, thấu Nhâm hóa Ấn, như lại thấu Mậu, tất Tài sanh Quan, Ấn gặp phải Tài thì thoái vị, tuy thông nguyệt lệnh, cách trở thành Thương quan, rất kị gặp Mậu quan. Bính sanh tháng Dần, hội Ngọ Tuất là Kiếp, như lại thấu hoặc Giáp, hoặc Nhâm, Ấn cách bị phạm nhưng không phá. Bính sanh tháng Thân, gặp Nhâm hóa ra Sát, như lại thấu thêm Mậu, tất Thực thần có thể chế Sát sanh Tài, Tài cách bị phạm, nhưng phú quý chẳng bị mất. Đại loại như vậy nhiều lắm, đều là biến hoá mà không làm mất cách cục sẳn có.

Từ chú: Tân sanh tháng Dần, Giáp mộc Chánh tài nắm lệnh, Giáp Bính đều thấu, tất thành ra cục Tài vượng sanh Quan. Kiêm cách thì dùng kiêm là dụng, không phải là dùng cả 2 cách.

Ất sanh tháng Thân, nguyệt lệnh Chánh quan, thấu Nhâm vốn là có thể bỏ Quan dùng Ấn, gặp Mậu Tài đều thấu, tất Tài sanh Quan và phá Ấn, nên xét kỹ khí của Ấn Tài Quan. Giáp mộc trong Dần đang vượng, nên Bính Mậu có khí, Canh kim trong Thân đang vượng, Nhâm Mậu có khí, trước tiên dùng đang vượng, sau mới tới đắc khí, thứ tự nhất định là vậy. Khí đang vượng như thấu xuất ra, tất khí thứ yếu phải thoái nhượng, hoặc lấy sanh trợ thần đương vượng làm dụng, lý nhất định là vậy.

Quý sanh tháng Dần, Thương quan nắm lệnh, Giáp Bính đều thấu, tất trước lấy tiên Giáp sau mới tới Bính, nhưng vì Thương quan sanh Tài, nên kị gặp Quan tinh hĩ.

Bính sanh tháng Dần, Ấn thụ nắm lệnh, chi hội Ngọ Tuất, tất hóa ra Kiếp. Thấu Giáp tất Giáp Ấn đang quyền, Ấn cách bất biến; thấu Nhâm tất Ấn được Sát sanh, Kiếp bị Sát chế, nên Ấn cách lại cũng bất biến.

Bính sanh tháng Thân, Thiên tài nắm lệnh, thấu Nhâm tất thủy thông nguồn nên hóa Sát, như lại thấu Mậu, tất Tài được Thực sanh, Sát bị Thực chế, nên Tài cách cũng bất biến. Đó là ví dụ biến mà bất biến vậy.
Tuvivietnam 4274978
Nguyên văn: Nói bát tự trừ phi dụng thần đã lập, dụng thần không biến hóa thì chẳng linh, người khéo xem mệnh nên để ý.

Từ chú: Coi dụng thần mà không xét lẽ biến hóa ấy, tất không thể xác định được dụng thần, nên xét cho rõ.

Tạm diễn dịch: Biến khéo thì cách trở thành rất tốt; biến không khéo thì cách tan nát, thế nào là biến khéo? Như Tân sanh tháng Dần, gặp Bính thì Tài hóa ra Quan; Nhâm sanh tháng Tuất gặp Tân thì Sát hóa ra Ấn. Quý sanh tháng Dần, không thể chuyên lấy Sát mà luận. Tứ trụ 2 thần thấu mà sinh ra biến hóa. Quý sinh tháng Dần, nguyệt lệnh Thương quan nắm lệnh, Giáp tàng thấu Bính, hội Ngọ Tuất, tất Dần Ngọ Tuất tam hợp, Thương hóa ra Tài; thêm nữa Bính hỏa thấu xuất, hoàn toàn lấy Tài luận, cho dù Bính hỏa không thấu mà thấu Mậu thổ, cũng luận Tài vượng sinh Quan. Lấy Dần Ngọ Tuất tam hợp biến hóa trước tiên, mà không luận Thương quan kiến Quan vậy. Ất sinh tháng Dần, nguyệt Kiếp nắm lệnh, hội Ngọ Tuất, tất Kiếp hóa thành Thực thương, thấu Mậu tất là Thực thương sinh Tài, không lấy Tỷ kiếp tranh Tài luận. Tứ trụ nhân hội hợp mà biến hóa, nhân biến hóa mà kỵ biến thành hỷ, là biến thành thiện thần vậy.

 

Tử Vi Việt Nam Sưu  Tầm – Theo Tử  Bình Diệu Dụng