Trung thực và giả dối

Trung thực tính chất cơ bản gắn với ổn định. Giả dối tính chất cơ bản gắn với thay đổi, bất ổn. Thường ở thời đại hiện nay chữ trung thực khó được giữ như trước đây, do tác động của văn hóa bên ngoài và việc giao tiếp xã hội nên việc dùng từ nói dối trở thành ngôn ngữ giao tiếp. Trong tử vi cũng có cách cục tính cách ưa trung thực và tính chất xã giao ở hai nhóm sao đối nghịch an theo Địa Chi là nhóm Tuế Long Hổ Phù và Tang Hư Mã Khách. Ở hai bố cục này đều có thể giao hội với Phượng Khốc hình thành hai cách cục đều được ngưỡng mộ bởi hai tính cách. Nhóm Tuế Long Hổ Phù hay nhóm Thái Tuế tương ứng với chữ thực, lập luận, quan điểm thể hiện ra bên ngoài là ý nghĩa toàn bộ tổ hợp. Bạch Hổ mang dương tính, chủ lộ ra ngoài. Trong khi đó Tang Môn ở đối cung chủ ẩn vào trong. Thái Tuế tức chữ Thái là thực, Thiên Hư ở đối cung là chữ Hư tức giả. Cái dễ gặp là không phải mọi lúc thực đều tốt và giả đều xấu, do đó Tuế và Hư đều có thể được ngưỡng mộ, quần chúng đi theo. Nhóm sao an theo Địa Chi là cách nhìn dựa trên quan điểm. Có bốn nhóm sao chính là Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã, Đào Hồng Hỉ và Cô Quả. Các nhóm sao này đều nhấn mạnh ở tính chất cách nhìn. Với Tuế Hổ Phù là thật, nhưng sự thực với kẻ này có thể là giả dối với kẻ khác. Tang Hư Mã ngược lại, cái này là giả nhưng dựa trên sự thực. Thực và hư rất khó phân biệt. Hôm nay trái đất hình vuông là chân lý tất cả mọi người đều rõ nhưng tới ngày mai trái đất trở nên hình tròn. Cặp Đào Hồng tức sắc đẹp cũng là cái nhìn mỗi người, mỗi người xét vẻ đẹp riêng, có khuynh hướng riêng. Cặp Cô Quả tức cặp nhân quả cũng như vậy, mỗi cái nguyên nhân này là kết quả của việc khác. 

Nhóm sao an theo Địa Chi rất quan trọng trong việc phối hợp cách, nếu không rõ dễ gặp cảnh thấy Tuế Hổ Phù giao hội Xương Khúc Tam Hóa luận tốt đẹp trong khi Kình Mã Không Kiếp Hỏa Linh luận xấu là sai lầm cơ bản khi luận giải. Mỗi cách cá tính có khuynh hướng tổ hợp hữu tình riêng, tức hợp hóa hữu lý. Ở đây xét tới chữ danh thì nhóm Tuế Hổ Phù được Phượng Khốc là bố cục tốt đẹp phát danh, cũng các sách hay luận được bộ Tứ Linh gồm Cái Hổ Phượng Long. Xét về chữ lợi tức chữ tài thì nhóm Tang Hư Mã Khách là bố cục tốt về tài cách, phát tài, thường luận phối hợp với Lộc thành cách Lộc Mã giao trì. Ở đây có sự khác biệt về khuynh hướng biến hóa và dụng cách với nhóm sao an theo Địa Chi. Cách cục Tuế Hổ Phù chủ dương tính, công khai, quan điểm tới bên ngoài của cá nhân, tính bản thân lớn. Trong khi đó cách Tang Hư Mã thiên về âm cách, chủ sự ẩn chứa, ẩn tàng bên trong, tính cộng đồng lớn hơn, do đó với cách Đồng Tang là cách cục tốt đẹp chủ âm thầm từ thiện, cống hiến cho xã hội, biến Tang Môn mang ý nghĩa tang tóc, buồn thương thành cách cục thông cảm. Mệnh cách có Tang Môn thường khuôn mặt có nét khắc khổ, nội tâm thuở nhỏ thường chịu cảnh trái nghịch. Bố cục Tuế Hổ Phù mang tính ổn định tức khiến nội tâm ổn định, với cách cục Tang Hư Mã Khách mang tính động, có phần nội tâm biến động, Tang Môn mang ý nghĩa nghịch cảnh, khó khăn làm động tổ hợp này với Thiên Mã là thay đổi cho phù hợp. Trong hai nhóm sao này đều có thể thành tựu, xét về danh chính và ngôn ngữ là cách cục Tuế Hổ Phù, trong khi đó Tang Hư Mã giỏi về khả năng đối phó với khó khăn. 

Tang Hư Mã chỉ xét bố cục mang tính hư, giả nhiều hơn thực, đặc biệt ở vị trí của Thiên Hư. Trong khi đó mệnh cách vị trí của Thái Tuế thường tính cách ưa sự thực hơn. Tất nhiên hai nhóm sao này đều biến đổi khi gặp Sát Kỵ tác động, đặc biệt là Không Kiếp, Kỵ. Bản chất của hai nhóm sao này nằm ở tính chủ động và bị động. Tang Hư Mã là cách cục nội âm, mang tính chất che dấu, mạnh ở vị trí Tang Môn. Cách cục này chữa Điếu Khách có tính xã giao, do đó nội tâm thường bất ổn, thể hiện tính cách khác ra bên ngoài, trong đó Tang Môn thường gặp nghịch cảnh, đối phó. Cả nhóm sao Tang Hư Mã Khách xét chung tùy theo giao hội Sát Kỵ hay Trợ Tinh mà biến hóa. Bố cục này khi xấu dễ bị đánh giá tính cách giả dối. Với cách cục Tuế Hổ Phù mang tính chủ động, ở đây chủ ngoại dương, bố cục chủ đưa quan điểm, tính cách ra bên ngoài. Đây là hai nhóm sao cơ bản quan trọng, biến hóa khi đồng độ với các nhóm chính tinh hay bàng tinh ý nghĩa khác nhau. Cung an THÂN và cung Mệnh có hai nhóm sao này mang ý nghĩa khác nhau, cần phân biệt rõ mệnh và thân. Với cách cục Mệnh Thân ở hai nhóm sao khác nhau, như việc mệnh cách với nhóm Tang Hư Mã, cung an Thân cách cục Tuế Hổ Phù đắc cách, tính cách trong các hoàn cảnh vô thức, tức bản tính mang ý nghĩa của Tang Hư Mã. Khi trưởng thành, qua các đại vận thì đương số chịu tác động mạnh của Tuế Hổ Phù. Nói dễ hiểu hơn mệnh cách như trong vô thức, nằm sâu trong hành. Cung an Thân mang ý thức, sự tự chủ xây dựng bản thân, trưởng thành. Phân biệt ý nghĩa cách mệnh thân rất rõ ở các nhóm sao cơ bản khi Thân Mệnh nằm ở hai nhóm khác nhau. 

Trong trường hợp này là Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã. Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tang Hư Mã cần xét các bố cục cát hóa, nếu ngộ Sát Kỵ bất dụng mang tính tranh đoạt, hiểm trá do hoàn cảnh khó khăn tác động. Nếu Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tuế Hổ Phù có phần tốt hơn nếu giao hội cát, nhược kiến Sát Kỵ luận mệnh đa mưu xảo ngôn. Đặc biệt cách cục Thái Tuế ngộ Kiếp Kỵ dễ phá cách. Ở cách cục Quan cách nếu mệnh tạo không được chữ trung thực thì khó đạt thành tựu ổn định, dù bố cục khí hình vượng. Trung thực là ổn định, nội tâm ổn định thì Sát được hóa thành Quyền. Nhiều lá số mệnh cách bất trung thực vẫn là mệnh tốt, do bố cục Sát cách được hóa Quyền bởi nỗ lực qua khó khăn. Xã hội không công bằng là điều tất yếu. Trong đa phần trường hợp mệnh cách trung tín đạt được chữ Danh. Với cách cục giả dối dễ đạt được chữ Lợi. Quan trọng có dụng được Sát tinh hay gặp tác họa. Một kẻ có thể giả dối nhưng tất cả đều ưa những người trung thực. Cách cục Phượng Khốc đi với Tuế Hổ Phù đắc cách chính là đắc Tứ Linh, thu nhỏ của bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm với đường lối và đạo đức. Cách cục Tuế Hổ Phù thường được trợ lực mà thành. Trong khi đó cách cục Tang Hư Mã ngộ Phượng Khốc hình thành cách cục Mã Khốc Khách cũng như thu nhỏ của nhóm Sát Phá Tham về tính chất Sát. Dụng tới bố cục Sát là được và mất. Cách cục này đa phần do nỗ lực của bản thân tạo nên thành tựu. Với bố cục thành tựu do Sát cách là cách cục đánh đổi. Với mệnh Tang Hư Mã sau thành công là nỗ lực khó khăn, thường dụng bằng tự lực, do hoàn cảnh khó khăn tác động để thành tựu. Mệnh cách luôn nỗ lực vững chắc với mục tiêu là thành tựu cách chung của nhóm sao này. Sát cách có thể chế hóa, nhưng khó khăn khi không hợp mệnh cách. Như việc một kẻ với mệnh ưa an nhàn, ổn định như cách Tồn Xương Khúc, hướng thành tựu chịu khổ cực, áp lực thay đổi để phù hợp thì khó có thể dụng. Phàm là vạn vật đều phải có thịnh suy. Lộc Tồn chủ giữ, tốt ứng với thế thịnh, nếu suy không đổi dẫn tới diệt, khi đó Kình Hao và Đà Hao luận tuy sắp xếp là Sát Tinh nhưng cát do cần thiết. Ngũ hành hợp hóa hữu tình thì thành, khắc phạt thì bế tắc. Một đất nước Mông Cổ hùng mạnh không thay đổi cũng phải suy tàn. Thời nay kẻ mạnh không phải là kẻ thắng mà kẻ nhanh là kẻ thắng, sự vượt mặt của những nền kinh tế hay công ty đổi mới trước sự lạc hậu là điều dễ gặp. Thời vận là điểm quan trọng nếu khí hình bất vượng, mệnh cách xấu nhưng nắm được thời vận cũng được thành tựu lớn. 

(Dẫn theo trang www.luantuvi.vn)