Tử bình nhàn đàm

Có một số người thường bảo tử bình khó học, một phần là do tài liệu còn thiếu thốn, một phần là muốn học tử bình phải cần một chút tư duy lôgic, không thể 1 + 1 = 2.

Có một số bạn biết tử vi, tử vi thì trọng dụng thần sát, nhưng sang học tử bình, cái gọi là thần sát về cơ bản không cần dùng đến, cái dùng đến chỉ là âm dương ngũ hành của bát tự, tinh thần nạp âm đều nên lược bỏ.

Từ lúc tử bình xuất hiện, vốn lấy trụ năm làm chủ, rồi vận dụng chủ yếu thần sát để luận mệnh, có tác phẩm “Lan đài diệu tuyển” là đỉnh cao. Nhưng rồi dần dần, những cái lý thuyết đó không thể tồn tại đơn giản vì nó không thực tiễn trong sử dụng. Những gì còn lưu lại của trường phái này đến ngày nay là những thuyết về “Thai Nguyên, Cung Mệnh”, những cách cục “phi thiên lộc mã, củng lộc củng quý, nhâm kị long bối, lục âm triều dương”…rất rất nhiều. Nhưng cho đến nay đều không dùng nhiều nữa, cũng bởi vì nó không thực tiễn.

Có một số bạn mới học tử bình, rồi không tìm được lối ra, loay hoay mãi mà vẫn chưa thể biết xem tử bình. Vậy chủ đề này sẽ cũng cấp cho những bạn đó một vài giải đáp, hy vọng sẽ giúp các bạn đi sâu thêm. Còn các bạn đã biết xem, hy vọng cũng là chỗ để bàn luận thêm những điều kiến giải, nhàn đàm những lúc trà dư tửu hậu. 

Bàn về thông căn, thân vượng thân nhược.

Những ai mới học tử bình, phần lớn đều đã đọc qua “dự đoán theo tứ trụ” của Thiệu Vĩ Hoa. Sách này lấy xác định thân vượng hay nhược làm chủ, cách xem này giới tử bình gọi là “Tân Phái”.

Những người mới học xem qua đều thấy là muốn xác định thân vượng hay nhược đều phải dựa chủ yếu vào nguyệt lệnh, rồi vận dụng theo vòng trường sinh, từ trường sinh đến đế vượng là thân vượng, thai dưỡng là trung bình, còn lại là thân nhược bất kể nhật chủ can âm hay can dương. Đây là một trong những sai lầm đầu tiên mà người mới học dễ mắc phải.

Thật ra, cái mà để dựa vào xác định thân vượng hay nhược không phải là dựa vào vòng trường sinh theo nguyệt lệnh, mà quan trọng chính là nhật chủ thông căn, căn nhiều hay ít. Vậy thế nào là thông căn.

Thông căn là trong địa chi của tứ trụ có chứa ngũ hành đồng với nhật can, gọi là thông căn. Như Bính hỏa nhật can, nếu gặp các địa chi như tuất, mùi, dần,tị, ngọ đều là thông căn. Tuất là mộ khố của hỏa, nên gọi là thông căn mộ, mùi là dư khí của hỏa gọi là thông căn dư khí, dần tị ngọ là thông căn trường sinh lộc nhận. Căn càng nhiều thì can càng vững mạnh, không chỉ tính riêng cho nhật can mà cả những can khác trong bát tự cũng đều như vậy.

Như đinh hỏa gặp dần là tử địa, nếu xét theo vòng tràng sinh là thân suy, vậy là hết sức sai lầm, dần vẫn là thông căn trường sinh của đinh hỏa, đinh gặp địa chi có dần gọi là trọng căn.

Lại như đinh sinh tháng dậu, là trường sinh địa, vậy có thể kết luận là vượng không? Nhất định là không, bởi vì dậu không phải căn của hỏa, đinh gặp dậu phải gọi là vô căn, thiên can mà vô căn thì hư phù, hư nhược.

Lại như bính đinh hỏa gặp mão, là ấn thụ sinh thân, nhưng trong tứ trụ địa chi không có một chi nào thông căn cho đinh hỏa, dù là trong tứ trụ có bốn chi mão mộc đi nữa thì bính đinh hỏa vẫn gọi là vô căn, thân vẫn nhược.

như trụ: đinh mão…quý mão…bính thìn…tân mão

trụ này bính hỏa vẫn gọi là vô căn, thành tượng thân nhược mà ấn trọng, không phải là thân vượng. 

Bàn về cách cục và thế nào là “đề cương có tất dụng đề cương”

Những người mới học thường nghic rằng xem tử bình là xét xem nhật can vượng hay nhược, rồi thì nhượcthì bổ trợ là dùng tỷ kiếp ấn thụ sinh thân, vượng thì dùng tài quan thực thương tiết đi là cát. Như vậy là rất sai lầm, chưa hiểu tử bình.

Xem tử bình cần phải biết định cách cục, rồi xem cái cách cục của tứ trụ ấy nó có thành cách, thành công hay không, hay là phá cách bại cách. Thành công thành cách thì phú quý, bại cách bại cục thì nghèo hèn khổ cực.

Vậy làm thế nào để định biết được cách cục của bát tự, phải cần dựa vào “đề cương” mà định cách cục. Vậy đề cương là gì? Đề cương chính là nguyệt lệnh của tứ trụ. Nguyệt lệnh chính là chi tháng sinh, trong đó có tàng những can gì? Đầu tiên là phải lấy bản khí của đề cương tức bản khí của chi tháng làm cách cục, cần phải suy xét để chọn, có khi không lấy bản khí mà phải lấy can tàng còn lại nếu nguyệt lệnh hội cục với các chi khác, lại thấu can ngũ hành hội cục, vậy lúc đó lấy cái hành hội cục ấy làm cách cục.

Ví dụ nhật can là bính hỏa, nguyệt lệnh thân kim, vậy gọi là “thiên tài cách”, lại nếu địa chi có thêm chi tý, thiên can thấu thêm nhâm quý, vậy lấy thủy thấu can mà luận cách cục, biến thành “quan cách”. Đôi khi có thể có 2 cách cục cùng tồn tại trong tứ trụ, như vừa “tài cách” lại kiêm luôn “quan cách”. Kiêm cách thì sẽ kiêm dụng, bổ trợ cho nhau.

Như trụ: nhâm thìn…mậu thân…bính tý…nhâm thìn

Bính nhật can, nguyệt lệnh là thân kim, vậy là thiên tài cách. Nhưng địa chi tam hội thân tý thìn thủy cục, thiên can lại thấu nhâm thủy thất sát, vậy gọi là “sát cách” hay “thiên quan cách”. Vậy cách xem lại phải cần dựa vào “sát cách” mà luận, không còn là “tài cách” nữa.

Một điều cần phải nhớ đó là định cách cục là phải dựa vào đề cương nguyệt lệnh, theo đó mà định, không được lấy can chi khác mà định cách, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt. Đấy chính gọi là “đề cương hữu dụng tất dụng đề cương” hay còn gọi là “dụng thần chuyên tìm ở nguyệt lệnh”. Chuyên tìm ở nguyệt lệnh là vậy, cái gọi là “dụng thần” ở đây chính là “cách cục” vậy. Thành cách hay bại cách cũng ở đề cương mà định. 

Bàn về cách cục (tiếp)

Rất vui có bạn tuankhong tham gia góp ý. Không biết bạn là ai, nhưng chắc đã biết về tử bình thời gian khá lâu đây.

Đúng vậy, trong mỗi cách lại phân ra nhiều cách cục khác, như trong “tài cách” có tài cách dụng quan hay gọi là “tài quan cách”, còn có tài cách dụng thực thương, tài cách bội ấn, đều là những cách cục của tài cách, mỗi cái lại có tính chất riêng, nhưng chung quy là vẫn xoay quanh tài mà luận, không thể xa rời “đề cương”.

Một số bạn hỏi can này sinh vào lúc này thì vượng hay nhược, từ bình không có thuyết pháp cứng nhắc, cần phải tự suy ngẫm để ngộ ra, quan trọng là phải nhớ căn nhiều thì vững mạnh mà căn nhẹ thì hư nhược. 

Cách cục

Nhân tiện có 2 trụ đưa lên đây, lấy làm ví dụ

Nam: Bính dần…ất mùi…quý hợi…tân dậu

Trụ này quý thủy nhật chủ, sinh tháng mùi, địa chi hợi mùi củng hợp, thiên can thấu ất, sát cách biến thành thực thần cách, niên trụ thấu bính tài tinh thành cách thực thần sinh tài. Quý thủy thông căn hợi, lại có tân kim thông căn sinh phù, thân vững mạnh đủ lấy bính hỏa tài tinh làm dụng. Hành vận gặp tài sẽ phát tài. Hành vận gặp kim thủy tuy không phát nhưng cũng không kị, vẫn khá giả như thường

Nam: Nhâm thân…kỷ dậu…đinh dậu…nhâm dần

trụ này đinh nhật chủ sinh tháng dậu là tài cách, thấu nhâm thủy vốn có thể thành tài vượng sinh quan cách cục, nhưng thấu kỷ thổ khắc quan, biến thành tài cách dụng thực thần. Quan tinh trên trụ năm bị phá nên bị phá cách, dụng thực sinh tài nhưng đinh hỏa thân nhược, gặp dần thông căn vốn là hỷ, nhưng dần mộc bị tài tinh trùng trùng trong trụ khắc phá, ấn căn bị tài phá, cách cục bị phá hỏng một phần lớn, nhưng có ấn nên dù bị phá cũng sẽ có bằng cấp, công việc, học hành tử tế, làm người dân thường vậy. 

nam: quý hợi…ất sửu…mậu thân…giáp dần

Mậu thổ sinh tháng sửu là nguyệt kiếp cách, can năm thấu quý thông căn niên nguyệt biến thành tài cách. Thấu ất là tài vượng sinh quan, tối kị thấu giáp phản thành tài sát công thân, mệnh này cả đời hay gặp tiểu nhân. Mậu thổ thông căn sửu dần, lại tự tọa thân là trường sinh của thổ, thân bất nhược. Trong tài cách dụng quan, gặp phải quan sát hỗn cục thì nên khứ quan sát. Mậu thổ thân hữu lực, có thể dụng thực thần thân kim chế sát cách. Biến thành dụng thực chế sát cách. Do dụng thực chế sát nên kị hành tài vận tiết thực sinh sát, hỷ hành kim vận. Hành kim vận sẽ có chút chức quyền.

Đây là một biến cục của nguyệt kiếp cách. 

tân hợi…bính thân…quý dậu…bính thìn

Quý sinh tháng thân thấu tân là ấn thụ, thân thìn củng vượng thuỷ. Thấu bính vốn có thể thành ấn cách dụng tài, nhưng bính vô căn không thể dùng. Mệnh này chỉ có thể thuận theo khí thế, gọi là tòng thế cách. 

Học tử bình đi từ căn bản, không thể không đọc tử bình chân thuyên, đọc mà không hiểu hết được thì vẫn chưa gọi là nhập môn !

Rồi về tính chất ngũ hành tứ thời, không thể không đọc “cùng thông bảo giám”. Còn về “tích thiên tủy” vốn vô cùng cô đọng, xưa này nhiều nhà bình chú, cũng có hay có dở ! 

Hôm trước qua hiệu sách, thấy các quyển “tử bình chân thuyên”, tam mệnh thông hội”, uyên hải tử bình”, “cùng thông bảo giám”, “tích thiên tủy” đều đã được dịch giả Chu Tước Nhi dịch và phổ biến. Trong sách có chú giải của tác giả, một số bạn kêu là đọc mấy quyển này khó hiểu. Khi các bạn đọc những quyển này tốt nhất là chỉ nhớ những khái niệm cơ bản của sách Thiệu Vĩ Hoa thôi, như các khái niệm về can chi, về thập thần, còn lại cách xem tính độ vượng nhược vân vân tốt nhất là quên hết đi thì mới dễ đọc hơn được ! 

còn trụ của hoàng đại lục, tôi sẽ luận theo những gì tôi biết. Hoàng đại lục viết như vậy thật ra không sai, nhưng đã ẩn đi vài kĩ thuật trong đó, chỉ đưa ra nhưng cái chung thôi, nên bạn đọc sẽ cảm thấy không thuyết phục. Tôi viết luận coi như giữ lời với bạn đi, cũng để bạn hiểu thêm về tử bình truyền thống:

Bính tý, kỉ hợi, bính ngọ, mậu tý

Bính hoả là chí dương trong ngũ dưỡng, tự toạ ngọ nhận, thiên can thấu bính mậu kỉ đều thông căn ở ngọ, bất nhược. Sinh tháng hợi là sát cách, thêm hai chi tý thành trọng sát, sát rất vượng. Hỷ hợi tàng giáp ấn ám sinh dương hoả. Hỷ thực thương thấu can chế sát, sát này vừa được chế , vừa được hoá nên thành quý cục. Nói về sát cách, như sát trọng thực thương khinh, hỷ hành vận trợ thực. Như sát khinh mà thực trọng, thành chế sát thái quá, hỷ hành vận trợ sát. Như sát thực nhiều, thân bị khắc tiết, hỷ hành vận ấn thụ. Như trụ này, bính hoả thông trọng căn dương nhận, thân bất nhược, có thể dùng thực chế sát. Đặc điểm ở đây là sát cách này có hai tác dụng, sát vừa được chế, cừa được giáp ấn ẩn tàng hoá. Nên dù là vận trợ thực, hay ấn thụ đều là hỷ vận. Vận giáp thìn, giáp tàng trong hợi hiển hiện ra mà tác dụng vào trụ, năm bính dần, dần là lộc của giáp, dần ngọ củng hoả cục, hoá sát sinh nhận, sát nhận giao nhau nên tiếng tăm rất lớn. Đồng thời thìn là thuỷ khố, gặp thìn thì sát nhập mộ, thu liễm sát lại. Giáp hợp kỉ ở đây không hoá, mà là hợp khứ thương hoá sát hộ bính, nên không hề kị. Kiêm cách thì kiêm dụng. Đây là chỗ Hoàng đại lục muốn ẩn đi, không nói rõ. Hành vận người này vào đất đông nam, thành công cũng là chuyện không có gì lạ.

Tử bình cần một chữ ngộ, không hiểu thì nói mãi vẫn không hiểu, khi hiểu rồi vạn sự tự thông. Sách của cổ nhân đã nói rất rõ, chỉ là mình có hiểu ra được không. Ngày xưa, tôi mất nửa tháng để đọc tử bình chân thuyên, lúc đầu đọc xong đầu óc mù mờ, đọc đi đọc lại cuối cùng mới hiểu được cơ bản là nó nói cái gì, hóa ra là nó dậy xem cách nào thì phù quý, thế nào là sang hèn. Phải luận thập thần ra làm sao để biết được. Thế nào là thanh trọc, có những cách cục phú quý đến cực điểm, trong mệnh không có kị thần, tất cả đều là hỷ dụng, hành vận tứ thời cát, phú quý từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, mà lại thọ, là do cách cục quá cao quá vững ! 

(Chép lại bài viết của tác giả BoiGiaiSau trên TVLS)