Tử vi đẩu số

Tác Giả: Nguyễn Mạnh Bảo

TỬ – VI ĐẨU – SỐ

QUYỂN II

CHÚ – GIẢI BÀI PHÚ THÁI – VI

1. – Lộc phùng xung phá, Cát sử tàng hung.

G.N. Như Thân – mệnh cung phùng Lộc – Tồn, hoặc tam – hợp có Lộc, Địa – Kiếp bị kỵ đến phá chở lại thành hung triệu. Như hạn đến cung có Lộc – Tồn hay Hoá – Lộc và hung – tinh cùng hội cũng bị hung hại.

2.– Mã ngộ không vong, chung thân bôn tẩu.

– Như Sao Thiên – Mã gặp Tuần – không hay Triệt – lộ đóng ở cung Thân – mệnh thì cả đời bôn ba đây đó.

Người sinh năm Giáp, Triệt – lộ không vong ở giữa cung Thân Dậu, nếu an Mệnh tại cung Thân có Thiên Mã tức là cách Mã ngộ không vong chủ suốt đời bôn tẩu, nhưng gặp ở cung bại – địa thì trở lại phát vậy.

3. – Sinh phùng Bại – địa, phát dã Hư hoa.

(coi Bảng Sao Tràng Sinh ở dưới đây)

– Giả như người Sinh Thổ, Thuỷ Mệnh an Mệnh ở cung Tị là Tuyệt – địa, Nhưng may được Kim sinh thuỷ lại Tị là thuỷ không bị tuyệt cũng như cái lý mẹ đến cứu con.

Nếu được Cát tinh chiều cũng, ám hợp cũng phát được nhưng cũng chỉ như đoá hoa mau tàn thôi vậy. Phàm Dần Thân Tị Hợi là Tứ – Tuyệt và cũng là Tứ – Sinh.

Hành Kim, Sinh tại Tị, Tuyệt tại Dần

__ Mộc __ __ Hợi __ __ Thân

__ Hoả __ __ Dần __ __ Hợi

__ Thuỷ Thổ __ __ Thân __ __ Tị.

4. – Tinh lâm miếu Vượng địa tái quan sinh khắc chi ư,

Mệnh sinh cường cung tế sát chế hoá chi lý.

– Nếu các sao được ở nơi miếu vượng thì nên xem sự sinh khắc, Mệnh an ở cung nào phải xem sự xung khắc chế hoá của cung đó.

Như người sinh thuộc Thuỷ Thổ Mệnh, Mộ khố ở cung Thìn (xem bảng Tràng – Sinh) nếu cung tài Bạch – an ở cung đó thì gọi là Tài – khố, (khố nghĩa là cái kho), hay Quan – Lộc an ở đó gọi là Quan – khố có sao Lộc – tồn toạ thủ gọi là Thiên – khố, nếu có Sát – Tinh đồng lâm thì gọi là Không – khố. Cung Thiên – Di an ở đó gọi là Kiếp – khố (Kiếp – khố có nghĩa là cái kho của kiếp người, tốt xấu tuỳ theo sao toạ thủ).

5. – Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối.

– Như Nhật tại cung Tuất – Dậu, Hợi, Tý, Sửu. Nguyệt tại cung Mão Thìn, Tị, Ngọ, Mùi đều gọi là phản bối (ngược lại). Vậy phải xem người sinh Thượng – huyền, Hạ – huyền, Nguyệt tại Thượng – huyền vọng Nhật thì tốt, Hạ – huyền mà Hói (Tối tăm) Nhật thì hung.

Ngày 7, 8 là Thượng – huyền – 22, 23 là Hạ – huyền.Nếu Nhật Nguyệt đồng cung muốn luận rõ hoạ phúc của Nhật Nguyệt, thì phải lấy giờ sinh để luận Nhật và ngày tháng sinh để luận Nguyệt. Ví dụ người sinh Mùi, ngày rằm tháng hai có Nhật Nguyệt cư Sửu thì luận Nhật tốt vì giờ Mùi tức là ban ngày mà Nhật cư Sửu, và Nguyệt thì ngày 15 là giữa tháng trăng tròn còn vọng Nhật nên luận Nguyệt cư Sửu còn được tốt vậy.

6. – Lộc mã tối hỉ giao trì.

– Như người sinh năm Giáp lộc tại Dần cung và người sinh năm Thân Tí thìn thì Thiên mả cư Dần ngộ Lộc như vậy gọi là Lộc mã giao trì

7. – Không vong định yếu đắc dụng, Thiên Không tối vi hệ yếu.

Xem Triệt – lộ không vong, Tuần không cần phải xem cho cẩn thận có chỗ dùng được, không phải bỏ vậy, đó là Thiên – không rất cần yếu, nó như cái thắng xe có sự nguy hiểm thì thắng bớt lại, hay xe tốt chạy mau ắt phải có cái thắng tốt thì mới không sợ sự nguy hiểm. Phải phân – biệt Ngũ – hành – không:

Như thân Mệnh duy chỉ gặp Kim không thì có tiếng tăm, Hoả không thì phát đạt: Hai hạn gặp được thì trái lại thành Phú – trạch.

Nếu là Thuỷ không thì sẽ bị tràn ngập, Mộc không ắt bị gẫy, Thổ không thì bị hãm, Hai hạn gặp lại thì là Hoạ bại.

Ví dụ: Triệt ở cung Thìn – tỵ ở cung Thìn thì gọi là Thổ – không, ở cung Tị thì gọi là Hoả – không.

8. – Nhược phùng bại địa, chuyên khán phù trì chi diệu đại hữu kỳ công.

– Như Mệnh ở cung Bại Tuyệt có Tuần, Triệt không lại nhờ có các Sao tốt như Lộc Tồn, Hoá – lộc phù trì thì trái lại thành tốt đẹp vô cùng.

9. – Tử – vi, Thiên – phủ toàn y Phụ – bật chi công.

– Như Thân Mệnh ngộ Tử – Phủ lại được Phụ Bật thủ chiếu thì suốt đời giàu sang.

10. – Thất Sát Phá – Quân chuyên y Dương Linh chi ngược.

– Hai sao Phá Sát ở nơi hãm địa rất ác, sự ảnh hưởng hung tàn bạo ngược như Kình – Dương như Linh – Tinh nhưng nếu Thân Mệnh ngộ Thất Sát và Phá – Quân lại hội với Dương Linh thủ chiếu mới có thể chế ngự được.

11. – Chư Tinh Cát phùng Hung dã Cát

Chư tinh hung phùng Cát dã hung.

– Như Ba phương, Thân Mệnh có nhiều cát tinh thì xấu. Nhưng phải xem Cát, Hung tinh đắc, thất, vượng hãm và sinh khắc chế hoá ra sao rồi mới định được hoạ phúc.

12. – Phụ Bật Giáp Đế vi Thượng phẩm

Đào Hoa phạm Chủ vi chí dâm.

– Sao Tham – lang cùng gọi là Đào – hoa, Đế và Chủ là chỉ sao Tử Vi.

Như Thân Mệnh có Tử Vi và Tham – Lang đồng cung tức là Đào hoa phạm chủ, là nam nữ tà dâm, gian trá sảo ngôn lệnh sắc sau cũng tỉnh ngộ được; nếu lại được Phụ Bật giáp Tử Tham lại là Đại Quí làm quan đến thượng phẩm, nếu bị thụ chế thì không được như vậy.

13. – Quân Thần Khánh Hội tài Thiện Kinh Bang.

– Như Tử Vi thủ Mệnh, được Thiên Phủ, Thiên Tướng Xương Khúc đồng lâm, được Thiên đồng, Thiên Lương tương chợ (giáp Tử Vi) thế là cách Quân Thần Khánh hội ắt đại phú qúy. Nếu gặp Kim Tinh và Hình Kỵ, bốn sao đồng độ thì gọi là Cách Phản bội, là tớ khi Thầy, Tội giết Vua trở thành hoạ loạn, cần phải suy cho kỹ. Như mệnh của An – Lộc – Sơn có Tử Phủ gia hội Song Lộc triều Viên, Tả Hữu Củng chiếu cho nên Phú quí nhưng chỉ hiềm có Tử Phá cư ở cung Thìn Tuất và lại có Linh Tinh đồng vị ở cung Dần hợp chiếu có Hoá Kỵ và chủ Thần bất trung, sau bị hung vong.

14. – Khôi Việt đồng hành vị cư Thai phụ,

Lộc Văn cung Mệnh quí nhi Thả Phú.

– Như Thân Mệnh có Khôi, Việt Tức là toạ quí hưởng quí, vị đến Tam công, lại có Quyền Lộc Xương Khúc cát diệu chiếu lại thì được phú quí. Nếu bị Hinh Kỵ tương xung thì giảm đi nhiều, còn có khi bị trắc trở hung hại.

15. – Nhật Nguyệt giáp Mệnh, Giáp tài gia Cát diệu, bất Quyền tắc Phú.

(Nếu gặp Dương Đà xung thủ thì không phải)

Nhật Nguyệt giáp mệnh hay tài bạch có cát diệu củng chiếu thì không là người quyền quí thì giàu có.

16. – Mã đầu đới kiếm, chấn ngự biên cương.

Mã đầu đới kiếm nghĩa là an mệnh ở cung Ngọ (Mã) có Kình Dương (cái kiếm) ngộ Thiên Mã, Tham Lang. Người sinh năm Bính tuất mà gặp là cách rất tốt. Được cách này thì có uy quyền chấn ngự ở biên thuỳ, làm về võ cách. Lấy Kình Dương cư Ngọ an mệnh mà luận được phú quí nhưng không bền.

Cách này phần nhiều là của quan võ ra trận, uy phong lẫm liệt thật, nhưng chơi dao có ngày đứt tay là lẽ đó vậy.

17. – Hình Tù giáp Ấn, Hình trượng duy ti.

Dương Nhận là Sao Hình

Liêm Trinh là thiên tù

Thiên Tướng là cái ấn

Như thân mệnh có Thiên Tướng có Liêm Trinh và Dương Nhận Giáp thì chủ người về việc quan mà phải thụ hình trượng chung thân không bao giờ được phát đạt.

18. – Thiện Ấm triều cương, Nhân từ chi trưởng.

Như thân mệnh cư ở cung Thìn Tuất, có sao Cơ Lương (thiện, ấm) toạ thủ hay chiếu lại, có cát tinh tương trợ là người nhân từ nhất là phú quí, nếu có Hình Kỵ Hao Sát thì chỉ nên đi tu.

19. – Quí nhập quí hương, phùng giả hoạch lộc.

Như thân mệnh có sao Khôi, Việt toạ thủ ở Tý Ngọ gia cát tinh Quyền Lộc lại chiếu thì phú quí, hạn gặp thì phát phúc.

20. – Tài cư tài vị, ngộ giả phú xa.

Tài tinh là: Thiên Phủ, Vũ Khúc, tài vị là cung tài bạch.

Như Tử Vi, Thiên Phủ Vũ Khúc cư cung tài bạch lại có Quyền Lộc hay Lộc Tồn tất chủ giàu có lớn lao, hạn gặp thì chủ đại phát tài.

21. – Thái Dương cư Ngọ vị chi nhật lệ trung thiên.

Hữu chuyên quyền chi vị, địch quốc chi phú.

Như thân mệnh ở cung Ngọ có Thái Dương toạ chủ, người sinh năm Canh Tân và sinh ban ngày thì quí đến thượng phẩm và phú gia địa quốc. Đàn bà gặp số này thì được vượng phu ích tử, phong tặng phu nhân.

22. – Thái Âm cư Tí hiệu viết: Thuỷ đăng quế ngạc, đắc thanh yếu chi chức, trung gián chi tài.

– Thái Âm cư ở cung Tý như giọt nước trên nụ hoa quế, ắt được chức vụ trọng yếu thanh cao có tài trung trực can ngăn bề trên.

23. – Tử Vi Phụ Bật đồng cung, Nhất hô bá nặc.

– Sao Tử Vi và Phụ Bật cùng cư trú một cung, an ở thân mệnh là số phú quí, gọi một tiếng trăm kẻ thưa, chung thân tươi đẹp.

24. – Văn hao cư ư Dần Mão, chúng thuỷ chiều đông.

– Như thân mệnh cư cung Dần Mão, gặp Xương Khúc, Phá Quân lại có hình, sát sung phá là người hay kinh hãi. Hạn gặp được cát tinh thì bình thường, gặp hung tinh thì nguy khốn, chung thân tàn khổ phí công lao lực.

25. – Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu, hợp ám phúc tụ bất phạ hung nguy.

– Như thân mệnh có sao Nhật Nguyệt và hội cát tinh cũng không là toàn mỹ vì phùng hung tinh còn bị hung nhưng được tam hợp có Nhật Nguyệt chiếu và có cát tinh thì mới là thật tốt.

26. – Ấm phúc tại thân mệnh bất phạ tai ương.

– Ấm phúc là Thiên Lương Thiên Đồng cư cung thân mệnh phùng cát tinh thì không sợ tai ương hung hại, nhưng gặp hinh kỵ cũng vẫn bị như thường.

27. – Tham cư Hợi Tí danh vi phiếm thuỷ đào hoa.

– Như thân mệnh toạ cung Hợi Tý, gặp Tham Lang phùng cát tinh thì cátowN Nếu gặp Hình Kỵ ắt trai là hạng người lang thang phóng đãng, gái là hạng ca nhi dâm đãng.

28. – Hình ngộ Tham Lang hiệu viết phong lưu thái trượng.

– Như thân mệnh ờ cung Dần có Tham Lang ngộ Thiên Hình là người thông minh chủ phong lưu hay chưng diện bị gặp Hình ở nhàn cung thì thường.

29. – Thất Sát Liêm Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi.

– Như thân mệnh có sao Thất Sát, Liêm Trinh cùng toạ thủ là người chết đường.

30. – Phá Quân ám diệu đồng hương tác Trủng.

– Ám diệu là sao Hoá Kỵ, như thân mệnh có Phá Quân gia Kỵ, Hoa Sát thì chắc chết, hoặc ở cung thiên di cũng đoán như trên.

31. – Lộc cư nô bộc túng hữu quan dã bôn trì.

– Như thân mệnh cung tinh bình thường, cung nô bộc ở cung Sửu Mùi ám họp cung quan, có sao Lộc Tồn lại có Quyền Lộc cát tinh thì đoán là có quan trước đẹp đẽ nhưng bị lao tâm khó nhọc bôn ba.

32. – Đế ngộ hung đồ tuy hoạch cát nhi vô đạo.

– Như Tử Vi (đế) thủ thân mệnh ngộ Quyền Lộc Hình Kỵ cùng một cung, tuy là cát không hung nhưng là người tâm bất chính.

33. – Đế toạ mệnh khố tắc viết kim dư phủ ngự liễn. Lâm quan đồng.Văn diệu hiệu vi y cẫm nặc Thiên Lương.

– Như sao Tử Vi thủ mệnh, cung đằng trước có cát tinh là như kim dư (xe nhà vua) phò vua tức là được quyền cao chức trọng. Hay sao Tử Vi lâm cung quan lộc cũng đoán như trên. Lại gặp thêm Xương, Khúc ví như áo gấm nặc hương thơm, tức là đã được quyền quí laị được tiếng làm đẹp đẽ vang lừng.

34. – Thái Dương hội Văn Xương ư quan lộc. Hoàng điện thủ ban chi quí.

– Như Thái Dương hội Văn xương miếu vượng ở cung quan lộc phùng cát tinh thì phú quí làm đến tể tướng.

35. – Thái Âm đồng Văn Khúc thê cung viết: Thiềm cung triết quế, văn chương lệnh thịnh.

– Như Thái Âm miếu vượng có Văn Khúc đồng ở cung thê, lại có cát tinh đến phù giúp. Hạn đến mà gặp thì trai lấy vợ đẹp khôn ngoan con nhà thế phiệt trăm anh, gái gặp được chồng thông minh quí hiển và được phong tặng.

36. – Lộc Tồn thủ ư diền, tài tắc mai kim tích ngọc.

– Như sao Lộc Tồn miêú vượng thủ hai cung điền tài thì chủ đại phú có vàng chôn ngọc cất.

37. – Tài ám hoạ ư thiên di, tất cự thương cao mại.

– Tài tinh tức sao Vũ Khúc, ám tức là Thiên Lương. Hoặc hai hay một sao đó được Quyền Lộc và cát tinh toạ cung thiên di là người buôn bán to lớn, nếu gặp Hình Kỵ Sát thì bình thường.

38. – Hao cư lộc vị, duyên đồ khất thực.

– Hao tức là đại, tiểu hao Phá Quân cũnh là hao tinh, lộc vị là cung quan lộc. Cung quan lộc có hao toạ thủ laị gặp Hình Kỵ là kẻ ăn mày. Người sinh Dần Ngọ tuất mệnh toạ cung Ngọ, người sinh năm tỵ dậu sữu mệnh toạ cung Ngọ, người sinh Tỵ Dậu Sửu mệnh toạ cung Dậu, người sinh năm Thân Tý Thìn mệnh toạ cung tí, người sinh năm Hợi Mão Mùi mệnh toạ cung Mão mùi mệnh toạ cung Mão thì đúng cách.

39. – Tham hội vượng cung, chung thân thử thiết.

– Như hao tinh, Tham Lang thủ thân mệnh, quan lộc ở vượng địa là người có quan lộc nhưng bần tiện lén lút, bị hư hao trộm cắp suốt đời.

40. – Sát cư Tuyệt địa, yểu niên tuyệt tự Nhan Hồi.

– Như mệnh an ở cung Dần Thân Tị Hợi có Thất Sát gia Hình Kỵ lại là chỗ tuyệt của sao khác, cho có cát tinh hội chiếu nữa hạn đến ắt chết non. Như Nhan – Hồi mệnh toạ cư Khôi Việt cư Dần. Thân phùng Quyền Lộc Xương Khúc hãm ư Thiên Thương thành không được phát đạt. Đại hạn đến sao Thất Sát hãm ở cung Hợi năm nhâm thìn tiểu hạn cư Dần cung mệnh Thái Tuế lưu Dương, lưu Đà cho nên chết vậy.

41. – Kỵ ám đồng cư mệnh cung tật nguy khốn nhược uông ly.

– Như cung thân mệnh, tật nguy (giải ách) có Cự Môn, Kình, Đà, Kỵ là người nghèo khổ, bệnh tật liên miên, tiêu tan tổ nghiệp, bôn ba lao khổ.

42. – Hình Sát hội Liêm Trinh ư quan lộc, giá hữu đồng lưu.

– Như Hình Sát liêm thủ cung quan lộc mà hai hạn gặp không hoạ hoạn thì ắt phùng hinh, tù, gông cùm không tránh khỏi.

43. – Quan phủ gia Hình Sát ư biện dị, ly hương tảo phối.

– Như cung thiên di có sao Quan phủ toạ thủ gia Hình Sát thì phải lập nghiệp nơi xa quê hương gặp vợ gặp chồng.

Những cách trong bài phú thái vi ở quyển 1 đã giải.

Những cách thiết yếu của đẩu số

Thái cực là chủ tể các quần tinh tú hết cả vũ trụ, là nguyên thuỷ của cả muôn loài, nguyên nhân của cuộc đại tạo, cái cửa huyền diệu cơ vi của ngươì và vật cho, nên nói thái cực là cái nguyên thuỷ phù thân trợ mệnh. Trên Trời là cái vật dụng vô thường vi như cái Fohat của bà Blavatsky nói trong quyển Doctrines secreles, nó là cái nguyên sinh linh khí của cả vũ trụ nhuần thắm từ chỗ nhỏ bé vô cùng tận (infmiment petit) đến cái lớn lao vô biên vô giới (infiniment grand).

Đối với người thì cái mệnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của cái nguyên sinh linh khí trong cõi sinh tồn này, mỗi người một cách riêng mà cùng chung một hệ thống cho nên trước xem cách cuộc sau mới xem các sao xấu tốt.

Như có người sinh cùng một năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng iờ mà phú quí bần tiện thọ yểu khác nhau là lý làm sao? Phải chăng cũng cùng một lá số lập thành, đồng sao tốt xấu trong cùng 12 cung. Đây là cái cơ vi mà người ta gọi là huyền bí của dẩu số vậy. Hoặc người sinh không cùng màu da, không cùng xứ sở, không đồng châu quận. Người ở nam kẻ ở bắc đối một vị sao có người hợp kẻ xung. Đối với lúc sinh hai người cùng sinh trai gái phân biệt, lúc ra đời người nằm sấp kẻ nằm nghiêng, ngay ở trong buồng đẻ công cộng rộng rãi mênh mông cũng đã khác hướng sinh rồi. Đó là những chỗ dị đồng để phân biệt ảnh hưởng của hai người đồng sinh đối với cái nguyên tử vô hình tuyến của thái cực vậy.

Trên đời cùng một lúc mà hoặc có kẻ tà ác ở trong cuộc hỗn tạp mà hưởng vạn phúc lành giàu có muôn chung, hoặc có người phúc hậu hiền từ, tài năng quán thế ở nơi dân trù nước thịnh mà tao ngộ tai ương liên miên không ngớt. Phải chăng là thời đạo chỉ huy độc đoán cái thiên mệnh mà không bao giờ sự vận thăng trầm, suy vượng ra ngoài hệ thống của thiên lý, mà ta có thể tự cho là hoạ phúc, phú bần, quí tiện đến với ta theo một hệ thống nhất định, theo cái thời của từng người tùng vật. Nên biết được đạo thời bằng câu “ nhất ẩm nhất trác gia do tiền định” (ăn uống đều do tiền định cả), không có cái gì trong thiên hạ là trường cửu, cái gì cũng phải có nhàn rồi mới có quả. Nên một sự vật đều có thiên mệnh cả, mỗi một đời người quí tựu rong một cuốn phim dần dần quay ra theo thời gian đã định. Cũng cùng một lúc nhiều cuốn phim cùng quay, có cuốn lúc đó vui cười ầm ỉ, có cuốn âm thầm buồn thảm. Cho nên nếu ta nói không có số mệnh ắt là hoạ phúc bắt nhất, cát hung xáo lộn vậy. Một số người tức như một cuốn phim của đời người đó từ từ quay ra theo thời gian đã ấn định trước, mà giờ, ngày, tháng, năm, sinh làm căn bản.

Nên xem số Tử Vi muốn biết vinh nhục, quí tiện phú bần của cả một đời người phải xem ngũ hành của cung vị lập mệnh thuộc hành gì, sinh khắc chế hoá ra sao để luận vậy, xem thân tuất là hiểu được cái gốc, cái nhân tự mình gây ra, ác thiện an bày.

Xem số của người cần nhất xem cung phúc đức để biết cái quả đời xưa tiền nhân để lại, thứ đến mệnh thân, sau đến cung thiên di và các cung khác, phải phân thể của đới cung, định cái nguyên nhân của cái tam hợp mệnh vô chính diệu thì phi yểu tắc bần, cát hữu hung tinh là ngọc quí có vết.

Đã thông bác được cái lý sanh khắc, chế hoá ngũ hành của các cung và sao một cách chắc chắn. Nếu thân mệnh hợp cục tường sinh ắt phú quí sống lâu mà sinh tài lộc.

Dưới đây là các cách cuộc

44. – Mệnh hảo, thân hảo, hạn hảo đáo lão vinh sương.

– Mệnh được ở cung sinh và sao tốt, thân cư vượng địa sao toạ thủ chiếu hợp tốt, hạn tốt thì đến già cũng được vinh hiển sung sướng.

45. – Mệnh suy, thân suy hạn suy chung thân khất điếu.

– Mệnh thân ở cung tử tuyệt, lại gặp nhiều hung tinh hãm địa, hạn gặp Dương Đà linh hoả thì suốt đời chỉ đi ăn mày.

46. – Giáp quí giáp lộc thiếu nhân tri

Giáp quyền giáp khoa thế sở nghi.

– Như người sinh năm Bính Đinh Nhâm Quí an mệnh tại Thìn Tuất có Khôi, Việt toạ thủ lại có Tử Vi, Thiên Phủ, Nhật Nguyệt, Quyền Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc giáp thân mệnh nữa gọi là giáp quí ắt phú quí, ít người được.

Như người sinh năm Giáp, thân mệnh ở cung Sửu Mão mà ở cung Dần lại có lộc gọi là “sinh thành chi lộc” là thượng cách vậy. Còn như bốn năm Giáp Dần, Ất Mão Canh Thân, Tân Dậu được cùng cách đó cũng là thượng cách. Như người sinh năm Giáp an mệnh tại Tý, có Liêm Trinh Hoá Lộc cư Hợi, Phá Quân Hoá Qquyền ở Sửu, có Khoa Quyền Lộc giáp mệnh chủ phú quí.

47. – Giáp Nhật giáp Nguyệt thuỳ năng ngộ,

Giáp Xương giáp Khúc chủ quí hề.

– Như Thái Dương ở cung Dần, thân mệnh cư Sửu, cung Tý có Thái Âm, không nên gặp Không, Kiếp, Dương, Linh, ắt đại quý ít ai gặp được cách này. Như Xương Khúc giáp thân mệnh như cách trên cũng chủ quí.

48. – Giáp Không giáp Kiếp chủ bần tiện

Giáp Dương giáp Đà vi khất điếu.

Như Địa Không, Địa Kiếp, Dương Nhận (Kình Dương) Đà La giáp thân mệnh đối cung ở Liêm Trinh Vũ Khúc là hạ cách chủ hạ tiện, nếu không có cứu tinh chắc chết non.

Lại như mệnh có Hoá Kỵ Liêm Trinh Dương Đà Hoả Linh giáp cũng là hạ cách, hoặc có Lộc Tồn ở sinh vượng địa như cung Dậu thì dảm được không đến nỗi là hạ cách hoặc Dương Đà Không Kiếp ở ba phương chiếu lại ngộ Quyền Lộc không tại giáp là bại, vận hạn thì chủ tai ương.

49. – Liêm Trinh, Thất Sát phản vi tích phú chi nhân.

– Liêm Trinh thuộc hoả. Thất Sát thuộc kim, hoả khắc kim là quyền của Hoả như Liêm Trinh cư Mùi (hoả sinh thổ) là vượng địa, Thất Sát cư Ngọ (hoả khắc kim) Thất Sát được chế hoá, nếu thân mệnh gặp ở hai cung Ngọ, Mùi là cách kỳ lạ nên trái lại thành giàu có. Nếu hai sao trên lâm vào hãm địa gặp Hoá Kỵ lại là hoạ cách, là người bần tiện.

50. – Thiên Lương, Thái Âm khước tác phiêu bồng chi khách.

– Thái Âm cư những cung Mão Thìn Tị Ngọ là hãm địa. Như thân mệnh cư Tị Ngọ, có Thái Âm thủ toạ lại gặp Thiên Lương hợp chiếu là hạ cách, là người đói rét lang bạt kỳ hồ, tha phương cầu thực ham mê tửu sắc. Có Thiên Lương (hoá ấm) cũng không thể cứu được. 51. – Liêm Trinh chủ hạ tiện chi cô hàn,

Thái Âm chủ nhất thân chi khoái lạc.

– Như thân mệnh có Liêm Trinh cư Tị hợi là hãm địa, 3 phương xung hợp và trước sau 2 cung không có cát tinh thì cũng giáp ắt bị nghèo hèn lâu năm.

Lại như thân mệnh có Thái Âm cư từ Cung Mùi đến Tý là đắt địa ắt chủ phú quí, nhiều cát tinh cùng chiếu thì đại phú quí, ít cát tinh chủ văn võ công danh.

52. – Tiền bần hậu phú, Vũ Tham đồng thân mệnh chi cung.

– Như thân mệnh an ở cung Sửu Mùi có hai sao Vũ Khúc Tham Lang đồng cung, vũ là kim tinh khắc tham mộc. Mộc phùng chế hoá ắt hữu dụng nên trước tuy nghèo mà sau thành phú quí, lại hoặc ba phương có Xương Khúc Tả Hữu cũng chiếu quí. Hạn phùng Khoa, Quyền, Lộc thì qui hiển vậy.

53. – Tiên phú hậu bần, chỉ vì vận phùng Kiếp Sát.

– Như cung mệnh có một, hai chính diệu trước gặp được hạn tốt thì phú quí, sau đến trung niên hạn đến tuyệt địa lại gặp Kiếp Không Hao Sát hung tinh, thân mệnh vô lực nên sau bị nghèo hèn vậy.

54. – Xuất thế vinh hoa Quyền Lộc thủ tài quan chi vị.

– Sao Quyền Lộc cư cung tài bạch, hay quan lộc nhập miếu hội với nhiều cát tinh thì chủ vinh hoa phú quí thân mệnh được cách đó cũng vậy.

55. – Sinh lai bần tiện, Kiếp Không lâm tài phúc chi hương.

– Sao Địa Không, Địa Kiếp cư ở hai cung tài bạch và phúc đức chủ người bần tiện, ở cung thân mệnh cũng thế.

56. – Văn Xương Văn Khúc vi nhân đa học đa năng, Tả Phụ Hữu Bật bỉnh tính khắc khoan khắc hậu.

– Như cung Thìn Tuất, Tị Hợi, Mão Dậu an mệnh ngộ Xương Khúc là người bác học tài năng.

Được Xương Khúc toạ mệnh ở Cung Mùi gặp Dương Đà là tai ương, cho nên phải để tâm cẩn thận xem phép chế hoá, sinh khắc mà biến hoá thì lý đoán không thể sai được. Cũng như các chất hoá học, thêm thể ắt thành biến thể mà thể dùng khác nhau.

Như hai sao Tả Hữu cư thân mệnh, không cần các sao khác nhiều ít, là người khoan dung hậu trọng.

57. – Thiên Phủ, Thiên Tướng nãi vi y lộc chi thần, Vi sĩ vi quan định chủ hành thông chi triệu.

– Như an mệnh ở cung Sửu, có Phủ Tướng ở hai cung Tị Dậu lai chiếu, hay an mệnh ở Cung Mùi có phủ tướng ở hai cung Hợi, mão lai chiều; người sinh năm Giáp không bị sát hung tinh thì phú quí. Hạn đến – học trò đổ đạt, làm quan thì hanh thông.

58. – Miêu nhi bất tú khoa danh hãm ư hung thần.

– Giả như Hoá Khoa bị hãm trong cung có Không Kiếp Dương Đà, hoặc ở sao Thái Dương cư cung Tuất, hay Hoá Khoa ở Thái Âm tại cung Mão tuy có Khoa Quyền Lộc cũng không được toàn mỹ như cái mầm không được tươi tốt vậy.

59. – Phát bất chủ tài lộc, chủ thiều ư nhược địa.

– Như Hoá lộc ở hãm địa lại có Không Kiếp. Hoặc ở cung Tý Ngọ Thân Dậu Hoá lộc thành ra vô dụng lại chủ cô bần, không cứ có sao lộc là chủ giàu sang đâu, cần xem ở cung nào miếu vượng hay hãm địa.

60. – Thất Sát triều đẩu, tước lộc vinh sương.

– Như bốn cung Dần Thân Tị Ngọ an thân mệnh có Thất Sát toạ thủ lại thành tốt Quyền Lộc vinh hiển. Cũng cần có Tả Hữu Khôi Việt, Xương Khúc chiếu lên hay tương hợp thì nhất sinh phú quí vinh hoa, lại gặp hạn tốt lại càng tốt vậy. Nếu gặp sát tinh thì bị giảm nhiều.

61. – Tử Phủ đồng cung, trung thân phúc hậu.

– Như ở hai cung Dần Thân an Mệnh Thân có Thiên Phủ Tử Vi đồng cung, ba phương hợp lại có Tả Hữu Khôi Việt cũng chiếu ắt là trung thân phú quí phúc hậu. Người sinh năm Giáp thì hết sức tốt. Cực mỹ.

62. – Tử Vi cư Ngọ vô sát thấu vị chí công khanh.

– Như người sinh năm Giáp đinh kỷ an mệnh ở cung Ngọ có sao Tử Vi thì đúng cách, làm đến công khanh đại quí. Còn ở các cùng khác thì cũng chủ giàu có hoặc tiểu quí.

63. – Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù yếu kim y tử.

– Như người sinh năm Giáp Kỷ an mệnh ở cung Tuất có Thiên Phủ và có cát tinh cũng hợp thì đại quí làm đến đại thần, có sát tinh thì không đúng. Cần có Khôi Việt, Tả Hữu lộc quyền chủ đại phú quí, nếu không có cát tinh trên thì cũng bình thường.

64 – Khoa, Quyền, Lộc củng, danh dự chiếu trương.

– Như Thân mệnh được trong tam hoá, cung tài bạch và quan lộc có hai hoá lại hợp với nhau gọi là tam hợp, gọi là Khoa Quyền Lộc củng như vậy thì danh giá rực rỡ làm đến tam công.

65. – Vũ Khúc miếu viên, uy danh hách dịch.

– Như hai cung Thìn Tuất an mệnh có Vũ Khúc là thượng cách an mệnh ở hai cung Sửu Mùi là thứ cách có nên Quyền Lộc Tả Hữu, Xương Khúc cát tinh thì uy danh hống hách vang lừng.

66. – Khoa minh Lộc ám, vị liệt tam thai.

– Như người sinh năm Giáp, an mệnh ở cung Hợi có Hoá Khoa lại có thiên Lộc (hoá lộc) cư cung Dần (Hợi hợp Dần) gọi là cách Khoa minh Lộc am thì quan sang chức trọng vị đến tam công.

67. – Nhật Nguyệt đồng lâm, quan cư hầu bá.

– Như mệnh an ở cung Sửu, Nhật Nguyệt tại Cung Mùi, hay mệnh an ở Cung Mùi, Nhật Nguyệt ở cung Sửu thì gọi là đồng lâm.

Nhật Nguyệt đồng lâm thì luận đối cung, người sinh năm Bính Tân thì được phúc hưng long, vị đến hầu bá.

68. – Cự Cơ đồng cung canh khanh chi vị.

– Như người sinh năm Tân Ất an mệnh ở cung Mão có hai sao Cự Môn và Thiên Cơ thủ toạ lại gặp Xương Khúc, Tả Hữu là thượng cách. Người sinh năm Bính lại là thứ cách, Người sinh năm Đinh chủ bình thường. Còn các cung khác thì không phải.

69. – Tham linh tịnh thủ, tướng tướng chi danh

– Như an Mệnh ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi Tý có Tham Lang và Linh Tinh là nhập miếu thì văn võ toàn tài vị đến tể tướng. Nếu lại được cát tinh mệnh an ở cung Tý Thìn lại còn tốt hơn. Người sinh năm Mậu Kỷ thì hợp cách.

70. – Thiên Khôi, Thiên Việt cái thế văn chương.

– Như thân mệnh có Thiên Khôi toạ thủ, đối cung có Thiên Việt hay thân mệnh có Việt toạ thủ đối cung có Khôi, cũng gọi là cách toạ quí hướng quí lại có cát tinh hợp chiếu thì văn chương lừng lẫy là cách đại quí vậy.

71. – Thiên lộc Thiên Mã kinh nhân giáp đệ.

– Như an thân mệnh ở bốn cung Dần Thân Tị Hợi có thiên Lộc Thiên Mã toạ thủ lại hội cát tinh thì đỗ cao tốt, người người kính phục, nếu bị sát tinh thì không như vậy.

72. – Tả Phụ, Văn Xương hội cát tinh, tôn cư bát toạ.

– Như thân mệnh có Tả Phụ và Văn Xương toạ thủ, ba phương hội lại có cát tinh thì được quí cách làm đến công khanh có sát Kiếp Không thì không hợp cách.

73. – Tham Lang Hoả Tinh cư miếu vượng danh trấn chư bang.

– Như an mệnh ở bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi có sao Tham Lang và Hoả Tinh toạ thủ là thượng cách, danh tiếng vang lừng các nước. Ba cung có cát tinh cùng chiếu lại càng tốt thêm. Như an mệnh ở cung Mão, không có sát tinh là thứ cách, như có Dương Đà Kiếp Không thì không dùng cách.

74 – Cự nhật đồng cung quan phong tam đại.

– Mệnh an ở cung Dần, có hai sao Cự Môn và Thái Dương là đúng cách, nếu thân giáp hay ngộ Quyền Lộc thì vị đến công khanh. Nếu gặp Tứ Sát lại có Hoá Kỵ lại là người bình thường.

75. – Nhật Nguyệt tịnh minh, tả cửu trùng ư nghiêu diện.

– Như mệnh an ở cung Sửu Nhật tại Tị nguyệt tại Dậu chiếu lại gọi là cách Nhật Nguyệt tịnh minh là đại thần phò tá minh quân. Người sinh năm Tân Ất là hợp cách, sinh năm Bính chủ quí, sinh năm Đinh chủ phú, nếu gặp Tứ Sát Không Kiếp Kỵ thì lại bình thường.

76. – Khoa quyền đối củng diệu, tam cấp ư vũ môn.

– Như Khoa Quyền Lộc, ở cung thiên di, tài bạch quan lộc, xung hợp chiếu mệnh là hợp cách, hay cung mệnh có Hoá Khoa, Quyền Lộc ở 3 cung chiếu lại, không bị sát thì cũng vậy, làm quan đến thượng phẩm trong triều đình.

77. – Phủ tướng đồng lai hội mệnh cung, toàn gia thực lộc.

– Như phủ, tướng ở ba cung chiếu lại bản cung nhiều cát tinh, thân mệnh không bị bại là cách phủ tướng chiều viên, là phú quí song toàn. Nếu được cách phủ tướng chiều viên thì qyuết đoán nhất định là suất sĩ vi quan, đại cát sương.

78. – Tam hợp minh châu sinh vượng địa, ẩn bộ thiềm cung.

– Như an mệnh ở Cung Mùi, Nhật ở cung Mão, nguyệt ở cung Hợi chiếu lên gọi là cách minh châu xuất hải thì tài quan được song mỹ vẹn toàn. Như cung Thìn có nhật thủ mệnh, cung Tuất có nguyệt đối chiếu hay cung Tuất có nguyệt thủ mệnh, cung Thìn có nhật đối chiếu ắt chủ cực quí là thượng cách.

79. – Thất Sát Phá Quân nghi xuất ngoại.

– Như hai sao sát phá toạ thủ thân mệnh ở hãm địa chủ người tinh xảo về nghề thủ công, nên xuất ngoại thì được phát đạt. Lấy sát ở Dần Thân và Phá ở Tị Hợi mơí đoán như trên.

80. – Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân.

– Bốn sao trên hợp lại ở cung thân mệnh là người có công danh về quan trường đao bút, nếu gặp Sát kỵ là hạ cách ở hai cung Dần Thân có bốn sao trên hội lại là người có quan tước, thiếu một sao thì không thành.

81. – Tử Phủ Nhật Nguyệt cư vượng địa, đoản định công hầu khí.

– Tử ở cung Ngọ, phủ ở cung Tuất. Nhật ở cung Mão, nguyệt ở cung Hợi, lại có Khoa Quyền Lộc toạ thủ thân mệnh là cách công hầu như ngọc tốt sáng ngời. Nếu gặp sát Kiếp Không Kỵ là thất cách.

82. – Nhật Nguyệt Khoa Lộc Sửu cung trung, định thị phương bá công.

– An mệnh ở cung Sửu Mùi, Nhật Nguyệt Khoa Lộc toạ thủ. Như không có tam hoá mà có Nhật Nguyệt đồng cung cũng không tốt. Nếu không có cát tinh chiếu lại, quyết đoán là phúc không thể sinh ra được. Nếu Ngọ hoá cát thì tốt lắm uy quyền phúc thọ lại càng tăng.

83. – Thiên Lương Thiên Mã hãm, phóng đãng vô nghi.

– Như mệnh an ở cung Tị Hợi, thân có Thiên Lương toạ thủ là lạc hãm lại có Thiên Mã đồng cung. Hoặc lại có Hoả Đà Không Kiếp ắt là người chỉ ham chơi bời phóng đãng không sai.

84. – Liêm Trinh sát bất gia, thanh danh viễn bá.

– Sát đây là Tứ Sát là Dương, Đà, Hoả, Linh. Như an mệnh ở cung Mão có Liêm Trinh toạ thủ thì chủ qui, có cát tinh chiếu hợp lại càng tốt thêm, danh tiếng nổi khắp mọi nơi. Có sát tinh thì bình thường. Hoặc mệnh an ở hai cung Mùi, thân có Liêm Trinh toạ thủ không có sát tinh thì cũng được vinh hiển.

85. – Nhật chiếu lôi môn, phú quí vinh hoa.

– An mệnh ở cung maõ có Thái Dương toạ thủ, 3 phương hợp lại có Tả Hữu Xương Khúc, Khôi Việt thì phú quí vinh hiển vô cùng. Người sinh năm Giáp Ất canh tân thì hợp cách. Nếu bị Hình Kỵ Tứ Sát thì chỉ được no ấm. (cung Mão là quẻ Chấn kinh dịch nói rằng: “ Chấn vi lôi” nên gọi cung Mão là lôi môn)

86. – Nguyệt lãng thiên môn, tiến tước phong hầu.

– An mệnh ở cung Hợi có Thái Âm toạ thủ, 3 phương có cát tinh hợp chiếu thì chủ đại phú quí. Nếu không có cát tinh thì chỉ làm chức thường. Người sinh năm binh đinh chủ quí, sinh năm nhâm ắt quí giàu lớn. (cung Hợi là quả kiền – dịch nói rằng: “ kiền vi thiên” nên gọi cung Hợi là thiên môn).

87. – Dần phùng phủ tướng, vị đăng nhất phẩm chi vinh.

– An mệnh ở cung Dần, phủ ở cung Ngọ, tướng ở cung Tuất cũng chiếu. Người sinh năm Giáp thì đúng cách, làm đến nhất phẩm triêù đình có sát tinh thì thất cách.

88. – Mộ phùng Tả Hữu tôn cư bát toạ chi quí.

– An mệnh ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi, hai sao Tả Hữu toạ thủ ở đó là đúng cách ắt công hầu khanh tướng không sai. Hoặc ba cung thiên di, quan lộc, tài bạch có hai sao trên cũng chủ phúc thọ.

89. – Lương cư Ngọ vị, quan tứ thanh hiển.

– Mệnh cư cung Ngọ có Thiên Lương toạ thủ thì đứng cách. Người sinh năm Đinh là thượng cách, làm quan được nhiều tài lộc và quí hiển, năm kỷ là thứ cách, năm quí chỉ phú nhưng cũng là thứ cách.

90. – Khúc ngộ lương tinh vị chí thai cương.

– Mệnh an ở cung Ngọ, 2 sao Văn Khúc, Thiên Lương đồng cung là thượng cách, làm đến cận thần. Mệnh an ở cung Dần là thứ cách. Hoặc Lương tại Ngọ, khúc tại tý xung lên thì làm quan đến nhị, tam phẩm là quí cách.

91. – Khoa Lộc tuần phùng, Chu Bột hân nhiên nhập Tướng.

– Cung mệnh có cát tinh toạ thủ, ba phương có tam hoá cũng chiếu. Hay trước cung mệnh ba vị như mệnh tại cung Hợi, trước ba cung là cung Dần gặp Khoa Quyền Lộc đền chủ phú quí. Như Chu Bột hân nhiên được lên làm tướng.

92. – Văn tinh ám củng – Mại Nghị duẫn hỷ đăng khoa.

– Mệnh cung có cát tinh. Cung thiên di, quan lộc tài bạch ba phương có Xương Khúc khoa chiều cũng là như Mại nghị còn nhỏ tuổi đã dỗ cao.

93. – Kình Dương Hoả Tinh uy quyền xuất chúng, đồng hành Tham Vũ uy yểm Biên di.

– An mệnh ở tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi ngộ dương hoả nhập miếu thì văn võ toàn tài, uy quyền xuất chúng, binh quyền vạn lý. Như Tham Vũ ngộ hoả tại vượng địa thì cũng vậy.

94. – Lý quảng bất phong, Kình Dương phùng ư Lực Sĩ.

– Lý quảng là tướng anh hùng nhà hán, có công lớn dẹp Phiên mà không được phong vì Kình Dương phùng ư Lực Sĩ.

– Hai sao đó toạ tủ mệnh lại có cát tinh nhiều thì được bình thường, thêm sát tinh nữa thì tốt hung, số đàn bà mà gặp thì khỏi phải luận.

95. – Nhan Hồi yểu triết, Văn Xương hãm ư yểu thương.

– Người sinh năm Sửu, an mệnh ở cung Dần, có vân sương ở Cung Mùi hãm địa là yểu thương. Lưu niên hạn lại gặp Thất Sát, kinh đà thì chết non như số Nhan hôì vậy (Nhan á thánh)

96. – Trọng Do mãnh liệt, Liêm Trinh nhập miếu ngộ tướng quân.

– Trọng Do là thầy tử lộ. Mệnh cư thân có Liêm Trinh ngộ tướng quân toạ thủ thành ra người rất dũng mãnh tuy là bậc hiến sĩ vậy.

97. – Tử vũ tài năng, cự tú Đồng Lương xung thả hợp.

– Mệnh có Tử Vũ lập ở cung thân, cung Tý có thiên đồng, cung Dần có Cự Môn, cung Thìn có Thiên Lương, lại có Khoa Quyền Lộc Tả Hữu cùng xung hợp là cách tài ba quán thế.

98. – Dần Thân tối hỉ Đồng Lương hội.

– An mệnh ở cung Dần có hai sao toạ thủ lại có hoá cát (Khoa Quyền Lộc). Người sinh năm Giáp, Canh, Thân thì phú quí. Như an mệnh ở cung thân có 2 sao trên toạ thủ gia cát tinh, người sinh như trên cũng phú quí.

99. – Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn.

An mệnh ở cung Thìn Tuất có sao Cự Môn thất hãm chủ người làm việc điên đảo, gia sát là chủ khẩu thiệt thị phi, hình thương khắc hại.

100. – Lộc đảo, Mã đảo kỵ Thái Tuế chi hợp Kiếp Không.

– Như lộc mã lâm vào bại tuyệt không vong chi địa mà lưu niên Thái Tuế hội với Kiếp Không chủ lẫn lộn tai nạn hối lẫn, phát mà không giữ được tiền.

101. – Vận suy, hạn suy hỉ Tử Vi chi giải hung ác.

– Như đại tiểu hạn gặp hung sát tinh mà thân mệnh có Tử Vi thủ chiếu, hạn tuy hung cũng chủ bình thường, ẩn tránh đi được là nhờ thân mệnh vậy.

102. – Cô bần đa hữu thọ, phú quí tức yểu vong.

– Như mệnh thân có những sao hãm nhược, và Tài quan Tử tức ở nơi hãm địa thì nghèo hèn mới được sống lâu.

Lại như Thái Tuế toạ mệnh, chủ tinh hại nhược hoặc tài quan thiên di hoá cát tinh, hoặc lại được hạn tốt ắt được hoạnh phát nhưng không lâu, được 10 hay 20 năm quá vọng yểu vong.

103. – Điếu Khách Tang Môn, Lục Châu hữu truỵ lầu chỉ nguy.

– Đại tiểu hạn ngộ đàng trước có Tang Môn, đàng sau có Điếu Khách và Thái Tuế phùng hung tinh ắt bị kinh sợ hiểm nghèo, như Lục châu bị ngã trên lầu cao xuống.

104. – Quan phủ Thái Tuế, công dã huy tuỵ tiết chi ưu.

– Hai sao toạ thủ thân mệnh cung, trong nhị hạn lại gặp thì ắt bị trọng hình xiềng xích như anh thợ rèn nhà nước cũng có sự ưu sầu về xiềng xích.

105. – Hạn chí thiên la, địa võng.

Khuất nguyên nịch thuỷ như vong.

– Nhị hạn đi đến hai cung Thìn Tuất phùng Tham Vũ lại có Tang Môn, Điếu Khách, Bạch Hổ hội với Kiếp Không Tứ Sát xung chiếu ắt rất hung, như Khuất Nguyên bị chết đuối.

106. – Vận ngộ Địa Kiếp Thiên Không,

Nguyễn Tịch hữu bần cùng chi khổ.

– Họ nguyễn ở đời nhà Tấn chú cháu Nguyễn – hàn đều có tiếng là tài giỏi. Vận gặp Không Kiếp nên bị bần hàn. Hai hạn nếu gặp Không Kiếp và nhiều cát tinh thì cũng có nhiều tài và tài ra. Như thấy lưu niên có sát tinh ắt chủ bần khổ.

107. – Văn Xương Văn Khúc hội liêm chỉ táng mệnh thiên niên.

– An mệnh ở hai cung Tị Hợi có Liêm Trinh toạ thủ gia Xương Khúc ắt chết, người sinh năm Tân thì tối kỵ. Nếu có Vũ Khúc Thiên Tướng là tài tinh chiếu lại cứu cho thì lại phản lại là giàu có và có chủ quyền

(Xem số ông P.V.T dưới đây)

108. – Mệnh không, hạn không vô cát tấu công danh thăng đặng.

– Như mệnh và hạn phùng không gia sát tinh thì công danh không thành tựu hoặc có chính tinh cát tinh cát hoá phùng Không Kiếp cũng làm được chức nhỏ, khó nhọc cũng không lên cao được.

109. – Sinh phùng Thiên Không do như bán thiên triết sĩ.

– Cung mệnh có Thiên Không toạ thủ thì bình thường, sợ nhất trung niên bị nghiêng nghèo, nửa đời đức loạn, như con chim bay lưng chừng trơi gãy cách. Nếu hoạnh phát ắt bị hung vong. Người sinh giờ Tị, Hợi, Tý Ngọ ắt bị như trên.

110. – Mệnh trung ngộ kiếp, kháp như lãng lý hành thoàn.

– Cung mệnh phùng Địa Kiếp là người bình thường. Chủ không có tiền tài, nếu gia sát kỵ thì thậm hung đời lênh bênh như con thuyền trên nước.

111. – Hạng vũ anh hùng hạn chí Địa Không nhi táng quốc.

– Số Hạng vũ tiểu hạn gặp Địa Không ở cung thân, mệnh an tại Ngọ có Quyền Lộc gia hội, ngộ long phượng, là số cực phú quí. Nhưng Lộc Tồn thủ mệnh bị đối cung có Kỵ tinh xung phá thế là cát xứ phùng hung, 32 tuổi đại hạn đến cung Mão có Vũ sát có Thái Tuế gia hoả và Tham Liêm cư hợi nên chết ỏ hạn đó, 32 tuổi tiểu hạn ở cung thân ngộ Không cho nên thắt cổ chết ở Ô giang mà mất nước vậy.

112. – Thạch sùng hào phú, hạn hành Địa Kiếp dĩ vong gia.

– Đại tiểu nhị hạn có 2 sao Địa Kiếp, Địa Không lâm vào nơi hãm địa lại gặp lưu niên Dương Đà sát tinh thì rất hung. Giàu có lớn lao như thạch sùng cũng bị vong gia.

113. – Lã hậu chuyên quyền lưỡng trọng thiên lộc, Thiên Mã.

– Mệnh của bà Lã hậu có Lộc Tồn phùng hoá lộc cùng với Thiên Mã đồng thủ mệnh, nên mới chuyên quyền.

114. – Dương phi hiếu sắc tam hợp Văn Khúc, Văn Xương.

– Cung mệnh, tài, quan và Thiên di có Xương Khúc chiếu lại hội với Thái Âm, Thiên Cơ tất chủ dâm dật như số bà dương phi.

115. – Thiên Lương ngộ, Mã nữ mệnh tiện nhi thả dâm.

– Như an mệnh ở 4 cung Dần Thân Tị Hợi có Thiên Lương toạ thũ mà tam hợp có Thiên Mã, đàn bà là kẻ bần tiện dâm dật.

116. – Xương Khúc giáp trì, nam mệnh quí nhi thả hiển.

– Thái Dương là đan trì (thềm điện nhà vua) Thái Âm là quế phụ. Như Thái Âm, Thai dương ở cung Sửu Mùi an mệnh, trước sau có Tả Hữu, Xương Khúc lại giáp số đàn ông thì ắt quí hiển.

117. – Cực cư Mão Dậu đa vi thoát tục tăng nhân.

– Cực đây là thái cực chỉ sao Tử Vi như thủ mệnh an ở cung Mão Dậu gia sát tinh chủ tăng đạo không có sát tinh lại có cát hoả, Tả Hữu Khôi Việt lại là quí cách.

118. – Trinh cư Mão Dậu định thi công tứ lại bối.

– An mệnh ở 2 cung Mão Dậu có Liêm Trinh toạ thủ gia cát tinh định là người làm quan lại có lương.

119. – Tả thủ đồng cung tôn cư vạn thừa.

– An mệnh ở 2 cung Thìn Tuất có Thiên Phủ hội với Tả phủ gia cát tinh và cát hoả củng xung là cực phẩm chi quí.

120. – Liêm Trinh Thất Sát lưu đãng Thiên nhai.

– An mệnh ở hai cung Tị Hợi có 2 sao Liêm Trinh và Thất Sát lại có sát kỵ phùng Không Kiếp là người lang thang, hoặc phải bị đầu quân hay buôn bán gian lao khổ cực ở xa.

121. – Đặng thông ngã tử vận phùng đại hao chi hương.

– Mệnh của Đặng Thông an ở cung tý, nhị hạn đi đến cung giáp hạn thì gặp đại hao gia ác sát cho nên chết đói.

122. – Phu Tử tuyệt lương, hạn đáo Thiên Thương chi hội.

– Đức Khổng Phu Tử hết lương ở nước trần vì hạn đến chỗ gặp đại hao và nhiều hung tinh.

123. – Linh Xương La vũ hạn chí đầu Hà.

– Bốn sao Linh Tinh, Văn Xương Đà La Vũ Khúc hội ở hai cung Thìn Tuất, người sinh năm tân, nhâm, kỷ hai hạn đi đến cung Thìn Tuất ắt định sự nguy hiểm về nước nếu không có cát tinh cứu ắt chết đuối. Nếu mệnh an ở hai cung Thìn Tuất có 4 sao trên lại gia ác tinh nữa thì ắt chết đường không sai.

124. – Cự Hoả Kình Dương chung thân ải tử.

– 3 sao Cự Môn Hoả Tinh, Kình Dương toạ thủ thân mệnh đại tiểu nhị hạn lại phùng ác sát thì thắt cổ tự tử.

125. – Kim lý phùng không bất phuông lưu tất chủ tật khổ.

– Như cung mệnh vô chính diệu có một không, tam hợp lại có sát tinh tam hoá ắt là người không lư lạc giang hồ thì bị tật khổ. Nếu gặp cát tinh ắt giảm bớt được.

126. – Mã dầu đái kiếm phi yểu triết tắc chủ hình thương.

– Cách này đã giả ở số 16, là cách bổ túc thêm cho rõ cách mã đầu đái kiếm ở trên. Tuy được một thời oang liệt nhưng sau ắt yểu triết.

127. – Tý Ngọ Phá Quân gia quan tiến lộc.

– Mệnh an ở hai cung Tý Ngọ có Phá Quân toạ thủ thêm có cát tinh hội chiếu thì vị đến tam công gia quan tiến lộc.

128. – Xương Tham cư mệnh, phấn cốt toái thi.

– Như thân mệnh an ở hai cung Tị Hợi có Văn Xương và Tham Lang toạ thủ ắt yểu vong thân sát tan tành, hoặc 2 sao cư cung quan lộc thì cũng vậy.

129. – Chiều đẩu ngưỡng đẩu tước lộc vinh sương.

– Sao Thất Sát thủ mệnh ở vượng địa như ở 4 cung Tý Ngọ Dần Thân là cách chiều dẩu. Ở ba phương chiếu lại ngưỡng dẩu (ngẩng nhìn sao đẫu) là nhập cát ắt được phú quí, nếu gặp ở cung quan lộc lại không đoán như trên.

130. – Văn quế văn hoa cửu trùng quí hiển.

– Sao Văn Xương gọi là văn quế Văn Khúc là hoa như an thân, mệnhn ở cung Sửu Mùi có hai sao trên lại gặp tam hoá và Lộc Tồn hợp với cát tinh cũng giáp thì được cực kỳ quí hiển. nếu không có cát hoá(Tam hoá) lại là vô dụng.

131. – Đan trì, tảo toại thanh vân chi trí.

– Đan trì là chỉ Nhật cư cung Mão Thìn Tị.

Quế trì là chỉ Nguyệt cư cung Dậu Tuất Hợi.

Như an mệnh trong 6 cung trên và cung quan lộc có Xương Khúc hợp chiếu thì nhỏ tuổi đã suất chinh, ra làm quan một cách dễ dàng.

132. – Hợp lộc cũng lộc định vi thần phách chi thần.

– Hai sao Lộc Tồn và Hoá lộc cư ở hai cung tài và quan hợp mệnh, hoặc cung mệnh có Lộc Tồn toạ thủ, cung thiên di có hoá lộc chiếu lên, không bị ác sát tinh thì chắc chắn phú quí không sai.Quyết đoán là: hợp lộc và cũng lộc ở miếu vượng địa là chôn kim tích ngọc tức vị cao thiên ngộ Thiên Mã làm đến tể tướng chuyên quyền chi số (như số bà lã hậu)

133. – Âm dương hội Xương Khúc xuất thế vinh hoa.

– Như mệnh có Âm dương (nguyệt nhật) toạ thủ ở nơi đắc địa ở cung tài quan có Xương Khúc hội tụ, lại có Khôi Việt cát tinh đoán chắc phú quí vinh hoa hơn đời.

134. – Phụ Bật ngộ tài quan y phi trước tử (màu tía)

– Như thân mệnh ở cát chính diệu toạ thủ, 2 cung tài quan có Phụ Bật toạ thủ lại chiếu là cách phú quí tột phẩm.

135 – Cự Lương tương hội, Liêm Trinh tính hơn Lộc, uyên ương nhất thế Vinh.

– Bốn sao Cự, Lương, Liêm, Lộc, ba cung hợp nhau gặp ở cung miếu địa, ở cung Phu Thê ăt là vợ chồng hoà hợp và một đời vinh hiển.

136 – Vũ – khúc nhàn cung đa thủ nghệ, Tham hãm địa tác đồ nhân (hàng thịt).

– Vũ Khúc thủ Thân Mệnh ở cung Tị Hợi gia Sát tinh là làm nghề Thủ công.

– Thân Mệnh an ở cung Tị, Hợi có Tham – lang gia Sát ắt là Đồ – tể hay chết non.

137 – Thiên – Lộc triều viên thân vinh quý hiển,

– Như người sinh năm Giáp lập Mệnh ở cung Dần Giáp thì Lộc – tồn an ở cung Dần có Mệnh an ở đấy gọi là Lộc chiều Viên – cách. Như người sinh năm Canh Lộc cưThân, Ất Lộc cư Mão, Tân Lộc cư Dậu 4 vị ở trên có Lộc – Tồn thủ Mệnh thì cũng như trên.

Tại bốn cung Tị, Hợi, Tý, Ngọ không phải cách trên.

138 – Khôi tinh lâm Mệnh vị liệt Tam – Thai.

– Như an Mệnh ở cung Ngọ có TỬ – Vi ngộ Văn – Xương Khôi Việt đồng cung, người sinh năm Bính là cách rất lạ, chức vị định quyết, vào hàng Tam Công.

139 – Vũ – khúc cư Kiền Tuất Hợi thượng tối phạ Thái Âm phùng Tham Lang

– Quẻ Kiền ở trên địa –bàn ở giữa hai cung Tuất Hợi.

Vũ –khúc tại cung Tuất – Hợi thủ Mệnh, 3 phương có Tham – lang, Hoá Kỵ và hợp Thái –âm gia Sát tinh thì Hung chủ Thiếu niên bất lợi, Hoặc có Tham Hoả xung phá lại là chủ Quý.Người sinh năm Giáp, Kỷ, Nhâm thì hợp cách.

140 – Hoá – Lộc hoàn vi hảo hưu hướng Mộ trung tàng.

– Như Vũ Tham Hoá Lộc thủ chiếu Mệnh thì Phú, lại có Cát tinh thì phú quí song toàn. Nếu Lộc ở Tứ Mộ Thìn “Tuất Sữu Mùi lại thành vô dụng là lộc bị mộ tức như bị trôn đi mà không phát lên được.

141. – Tý Ngọ Cự Môn thạch trung ẩn ngọc.

– An mệnh ở cung Tý Ngọ có Cự Môn toạ thủ các cung hợp chiếu như Dần tuất, Thân thìn lại có Khoa Lộc nữa thì chắc chắn được phú quí như trong đá có ngọc.

142. – Minh lộc ám lộc cẩm thượng thiêm hoa.

– Minh lộc là có hoá lộc toạ thủ mệnh. Ám lộc là cung hợp với cung thân mệnh có lộc.

– Như người sinh năm Giáp lập mệnh ở cung Hợi có Hoá lộc toạ thủ, lại cung Dần (hợp hợI) có Lộc Tồn gọi là cách trên. Hoặc có Hoá Khoa ở cung đàng trước cung mệnh có lộc toạ thủ cũng như cách trên thì tốt lắm như gấm thêm hoa.

143. – Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân phú nhi bất quí hữu hư danh.

– An mệnh ở 2 cung Thìn Tuất có tử phá toạ thủ là hãm địa tất không quí chỉ có hạng trọc phú quí hư danh.

144. – Xương Khúc Phá Quân phùng hình khắc đa lao toái.

– Như cung Mão Dậu Thìn Tuất có Phá Quân thủ mệnh tuy được Xương Khúc cũng không được là toàn cát, nếu gặp hình khắc kỵ ắt bị nhiều sự lao đao khổ cực cũng không đủ quí.

145. – Tham Vũ mộ trung tam thập triển phát phúc.

– An mệnh thân ở tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi có Tham Vũ toạ thủ chủ thiếu niên bất lợi gia Hoá Kỵ thì chết non. Quyết đoán: Tham Vũ không thể phát được trong tuổi thiếu niên, quá 30 tuổi mới phát phúc thọ.

146. – Thiên Đồng tuất cung vi phản bối,

Đinh nhân hoá cát chủ đại quí.

– Sau Thiên Đồng ở cung Tuất là hãm điạ mà người sinh năm Đinh, 2 cung Dần tuất có Lộc Tồn, hoá lộc lại được Dần thìn hoá cát xung củng chiếu thì định chủ đại quí. Sao Thiên Tướng cũng vậy. Có thêm sát hung tinh thì chỉ làm hung đạo hay là hạ cách.

147. – Cự Môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hoá cát lộc tranh vinh.

– Cự Môn toạ mệnh ở cung Thìn Tuất là hãm địa. Như người sinh năm tân. Cự Môn hoá lộc tại cung Thìn, có Lộc Tồn ở cung Dậu hợp ám. Nếu mệnh cư tại cung Tuất thì được Lộc Tồn ở dậu giáp mệnh ắt chủ phú quí vinh hiển, nếu thêm sát tinh thì không phải cách đó.

148. – Cơ Lương dậu thượng hoá cát giả, túng ngộ tài quan dã bất vinh.

– An sao Cơ Lương ở cung Dậu, là tướng địa(cung sinh sao). Dậu thuộc kim, Thiên Lương thuộc thuỷ, Thiên Cơ thuộc mộc. Dậu sinh lương thuỷ sinh cơ mộc) tuy phùng hung hoá cát nhưng vô lực. Sao Cự Môn cũng vậy. Không có lực thì không mạnh phát nên nói là túng sử có gặp ở cung tài, quan cũng không được vinh hiển.

149. – Nhật Nguyệt tối hiềm nghi bối nải vi thất huy.

– Thái Dương tại Thân Dậu Tuất Hợi Tý. (về đêm) Thái Âm tại Dần Mão Thìn Tị Ngọ (về ngày) thì Nhật Nguyệt không sáng thì làm sao được. Cũng có những người được Nhật Nguyệt phản bối mà được phú quí làm nghĩa làm sao? Vậy phải coi người xem là người đàn ông hay đàn bà, cha mẹ sống chết ra sao, sainh ban đên hay ban ngày, xem bản cung tam hợp có cát hảo cũng chiếu không rồi sau mới quyết định được.

Nên Ngọc Thiềm tiên sinh thường nói rằng: “ Lời nghị bàn lý đoán trong số Tử Vi thật tối tinh vị, cái phép đoán số phải biến thông, hoạt bát theo sự thông minh suy nghiệm của người xem số vậy”.

150. – Thân mệnh định yếu tinh cầu khủng sai phân số.

– Trong số Tử Vi thì cốt có thân mệnh, phải lấy giờ sinh cho thật đúng chỉ sợ sai thì không phân biệt được. Giờ có đúng thì an thân mệnh vào cung nào mới đúng. Sau mới xem cung sinh vượng TỬ nguyệt ra sao, rồi mới lấy sự suy nghiệm các sao mà đoán.

151. – Âm chất diên niên tăng bách phúc chi ư hãm địa bất tao thương.

– Âm chất tứ là cái âm đức của người do đó mà hoạ phúc an bày. Nếu âm chất của người ta được thịnh vượng thì cung phúc đức ắt được cung sao sum họp. Cung phúc đức tốt, cư nơi vương địa ắt là được tăng bách phúc. Cho rằng thân mệnh cư tại nhược địa, hay hạn hành vào cung nhược địa đi chăng nữa thì cũng có thể qua được những sự tao thương nguy khốn. Như ví dụ dưới đây ta sẽ thấy cái đức của người có thể cải lược số mệnh mình vậy.

– Lý phùng xuân đi đến chỗ anh trấn nhậm ở hồ quảng chơi, giữa đường gặp một thầy tướng trừ danh xem tướng cho ông nói rằng: “Ông chết đến nơi rồi, cứ đi thì gặp, Phùng xuân bán tín bán nghi lủi thủi đi một cách tuyệt vọng, đi đến nữa đưởng thì gặp mưa to gió lớn, thấy một kẻ đói rét liền cho tiền gạo. Cảm cái ơn đúc ấy người cha già xin hiến đứa con gái để bồi ân. Phùng xuân cố chối từ, ra đi về hồ quảng và không hề nghĩ đến cân chuyện đã xảy ra.

Về sau ông thầy tướng lại gặp ông, giựt mình và coi tướng ông khác hẳn, nói rằng: ” Âm chất điều hiện ra, vậy bây giờ khi sắc sung vượng, có tướng cư nơi thai các. Hỏi đi hỏi lại ba lần vì cớ làm sao, phùng xuân không đáp. Nhưng sau ông cũng biết vì cái đức thành thật cứu người không nghĩ đến sự báo ơn. Đó là “ đức năng thắng số” cái âm đức là cái gì thiêng liêng của con người có thể hoà được hoạ phúc, an được tai ương. Nên học giả cần phải cân phúc đức từng số một, ắt qua khư vị lai an bày tỏ rõ vậy.

152. – Mệnh thực vận kiên, cảo điền đắc vũ, nộn thảo tao sương.

– Như mệnh toạ nơi hãm địa lại được ba nơi có cát tinh cũng chiếu thì cũng luận là phúc.

Như mệnh có cát tinh ở sinh vượng địa, gặp vận hạn bí tắc cũng không đến đỗi nguy khốn ắt có sự cứu giúp như ruộng khô gặp mưa dào, cỏ non gặp sương buổi sáng.

153. – Luận mệnh tất suy tinh thiện ác, Cự phá Kình Dương tính tất cương.

– Luận mệnh cưng phải xem tính cách các sao thiện ác ra sao. Nhưng gặp ba sao Cự Môn, Phá Quân, Kình Dương ở nơi hãm địa Không những chỉ cúng cỏi đầu bò lại chủ khẩu thiệt thị phi, nếu thêm sát tinh nữa thì thương tài phá bại.

154. – Phủ tướng Đồng Lương tính tất hiếu thất Kiếp Không tham tính bất thường.

– 4 sao phủ tướng Đồng Lương là nam đẩu tinh thuần dương là sao phù trợ bên trong, thân mệnh gặp được ác tính trung hòa. Nếu Tham Lang ngộ Hoả đồng thì phú quí, chỉ Không Kiếp lâm vào thì đoán tính tình bất thường.

155. – Xương Khúc lộc cơ thanh tú xảo, âm dương Tả Hữu tối tử tường.

– Được 4 sao Xương Khúc lộc cơ thủ mệnh thì được anh hoa tủ lệ thông minh phú quí. Như được âm dương Tả Hữu toạ mệnh không bị sát chủ, người thanh kỳ đôn hậu, phú quí độ lượng khoan hồng.

156. – Vũ Phá Trinh Tham xung hợp khúc toàn đồng chí, Dương Đà Thất Sát tạp hộ kiến tắc thương.

– Thân mệnh cung tam hợp ngộ vũ phá liêm tham phủ chiếu lại có hoa cát át phú quí.

Sao Tử Vi hay dâng quyền uy cho Thất Sát, hay sử sao Dương Đà thành thiện nên Tử Vi toạ thủ thân mệnh ngộ các sao trên thì càng tốt, nhưng về sau lúc già không được vui vẻ đẹp đẽ.

157. – Tham Lang Liêm Trinh Phá Quân ác, Thất Sát Kình Dương, Đà La hung.

– Như thân mệnh tam hợp có 6 sao thủ chiếu lại có Hoá Kỵ không có hoá cát thì chủ dâm tà phá hoại. Hoặc tai thương hình khắc. Nếu được nhập miếu ở hoá cát tuy được phú quí nhưng người vẫn hung ác.

158. – Hoả Tinh, Linh Tinh chuyên tác hoạ, Kiếp Không Thương Sứ hoạ trùng trùng.

– Đại tiểu hạn mà gặp những hung tinh trên chủ tai ương, hối lẫn đa đoan. Như thân mệnh mà gặp gia cát tinh thì Hoả Linh là chủ hư hao Kiếp Không Thương Sứ bất nghi.

159. – Cự Môn kỵ tinh giai bất cát, vận thân mệnh hạn kỵ tương phùng.

– Hoả kỵ tinh là thần đa quản (giữ gìn, quản trị) thân mệnh ở 12 cung, 2 hạn gặp nó đều chủ không tốt, huống hồ lại gặp Cự Môn chủ ám bản đã không tốt, nếu ở hãm địa nữa nhất định là không tốt, không nên gặp.

160. – Canh liêm Thái Tuế quan phù, chí quan phi, khẩu thiệt quyết bất không.

– Thái Tuế quan phù là cái gốc của thần hưng tụng (hay kiện cáo) huống hồ lại gặp sao Cự Môn là sao chủ thị phi, lại có Liêm Phá kỵ lâm vào nữa, ắt phải có sự quan tụng hay thị phi khẩu thiệt không thể tránh được.

161. – Điếu Khách Tang Môn hựu tương ngộ quản giáo tai bịnh lưỡng tương công.

– Điếu Khách Tang Môn bản chủ hình hiếu(bị hình phat và đại tang) như Không gặp Thất Sát thì hình có thể tránh được. Nếu 2 sao ở cung bịnh nguy lại gặp Hoá Kỵ nữa ắt là tai ương và bệnh tật cùng gặp vậy.

162. – Thất Sát thủ thân chung thị yểu bần, Tham Lang nhập mệnh tất chi sương.

– Sao Thất Sát thủ thân mệnh ở hãm đia gia hung tinh thì bị yểu bần. Như Tham Lang thủ mệnh không có sát tinh hoặc ở tam hợp có cát tinh chiếu lại chủ dâm đật(Tham Lang là sao đào hoa thứ hai) Như gia sát tinh hãm địa thì trai chủ phóng đãng, gái chủ goá bụa.

163. – Tâm hảo mệnh vi diệc chủ thọ, tâm độc mệnh bạc diệc yểu vong.

– Câu trên là luận về âm đước của tiền nhân, câu sau luận cái đức bạc của con người.

Người có tâm hảo mà mệnh bị hãm địa, nhược địa thì cũng có thể thọ được. Đây vẫn giữ cái nghĩa của câu” đức năng thắng số”. Mệnh đã bạc lại không có đức, tâm độc ác ắt chết non. Như gia cát vũ hầu đời nhà hán vì dụng trí thiêu mây để làm giáp trụ nên bị giảm thọ vậy. Người lý học cần phải thận trọng suy tường phân minh. Cái mệnh con người đáng giá nghìn vàng, nên phải biết xét thấu cái thời của mình chó xác đáng, biết lúc khơi lên, hư thực, đầy vơi, trường đoản, thiểu da mà luận, chớ để cái thời vận quí nó qua mà uổng vậy.

Luận về các cách thuộc nữ mệnh.

164. – Phủ tướng chi tinh nữ mệnh triển, tất dương tử quí dữ phu hiền.

– An mệnh ở cung Ngọ có 2 sao Phủ Tứơng toạ thủ người sinh năm Giáp thì hợp cách.

An mệnh ở cung Tý có hai sao toạ thủ người sinh năm kỷ thì hợp cách.

An mệnh ở cung thân có 2 sao toạ thủ người sinh ăm canh thì hợp cách, là mệnh phụ được vinh hiển phong tặng, chồng hiền hậu con cái làm nên.

165. – Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ.

An mệnh ở Cung Mùi có Liêm Trinh, người sinh năm Giáp là hợp cách.

– Mệnh toạ cung thân người sinh năm quí là hợp cách.

Mệnh toạ cung Dần người sinh năm kỷ là hợp cách đều là thượng cách, phú quí và vinh hiển.

Nữ mệnh mà được Liêm Trinh toạ thủ ắt là thanh bạch tức là cái quí nhất của các bà mệnh phụ, người thanh bạch tồn được cái đức mà con cháu ngày sau do đó mà trưởng thành và vinh hiển vậy.

166. – Canh hữu Thiên Đồng lý diệc nhiên.

– Mệnh toạ cung Dần có sao thiên Dần người sinh năm Giáp là hợp cách.

– Mệnh toạ cung Mão có sao Thiên Đồng người sinh năm ất là hợp cách.

– Mệnh toạ cung Tuất có sao Thiên Đồng người sinh năm Đinh là hợp cách

– Mệnh toạ cung tỵ có sao Thiên Đồng người sinh năm Bính là hợp cách.

– Mệnh toạ cung Hợi có sao Thiên Đồng người sinh năm Bính tân là hợp cách đều củ phú quí.

167. – Đoan chính Tử Vi, Thái Dương tinh, tảo ngộ hiền phu tính khả bằng.

– An mệnh ở cung Ngọ, Tị có Tử Vi hay Thái Dương toạ thủ chủ phú qúi, người đoan trang lại sớm gặp được người hiền lành có nhân cách tiếng tăm người người đều biết.

168. – Thái Dương Dần đáo Ngọ ngộ cát chung thị phúc.

– An mệnh từ cung Dần đến cung Ngọ, có Thái Dương toạ thủ gia cát tinh cũng chiếu định chủ phú quí, ở hãm địa thì bình thường.

169. – Tả Phụ Thiên Khôi vi phúc thọ, Hữu Bật Thiên Tướng phúc tương lâm.

– An mệnh có 4 sao trên toạ thủ ở cung vượng đắcđiạ chủ phúc thọ vinh sương.

170. – Lộc Tồn hậu trọng đa y thực, Phủ tướng chiều viên mệnh tất vinh.

– An mệnh có Lộc Tồn toạ thủ đắc địa là người phong túc, nếu có phủ tướng chiều viên mệnh tất vinh hiển.

Như mệnh có phủ ở thân và tướng ở Dần, hay ngược lại là cách phủ tướng chiều viên, người sinh năm Giáp canh là thượng cách sinh năm tân là thứ cách. Như người sinh năm binh mậu đinh kỷ nhâm quí lại an mệnh ở cung Tị Ngọ Tý hợi thì không tốt.

171. – Tử Phủ Tị Hợi tương mộ phụ, Tả Hữu phì trì phúc tất sinh.

– An mệnh ở hai cung Tị Hợi có Tử Phủ toạ thủ, lại có Tả Hữu xung chiếu giáp, giả thêm liêm cát hoá tất là phú quí vậy.

172. – Cự Môn Thiên Cơ vi phá đãng.

– An mệnh ở cung Dần Mão thân có sao cự cơ toạ thủ tuy là cung vượng địa, nhưng đến sau phúc cũng không được toàn mỹ nên nói là phá đãng.

173. – Thiên Lương nguyệt diệu nữ mệnh bần.

– An mệnh ở cung Tị Hợi có Thiên Lương, hay an mệnh ở cung Dần thìn có Thái Âm số đàn bà là nghèo hèn, hạ tiện.

174. – Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn.

– Hai sao Xương Khúc nên ở số đàn ông hơn đàn bà.

Theo cổ xưa vẫn còn sự phân biệt nam nữ gắt gao cho nên mới nói vậy. Cái lý Xương Khúc chủ về văn chương khoa giáp đối với người đàn bà trung hoa trong thời phong kiến thật là vô dụng. Đàn bà bị cấm không được đi thi cho nên Một khi hai sao an vào thân mệnh thì ắt là thông minh nhưng phúc lại không toàn vi các cung khác ắt thiếu và thông minh lỗi lạc tài năng không được mang ra thi thố với đời nên nói là phúc bất toàn vậy. Nhưng hiệu kim tài năng của trai hay gái không có sự hạn chế nên phải xét đoán theo thời mới đung.

Vậy nhà lý học cần phai 3xét đoán cho minh bạch hầu để cho một lý đoán chắc chắn.

175. – Vũ Khúc chi tú vi quả tú.

Sao Vũ Khúc nên ở số đàn ông hơn đàn bà.

– Như mệnh có Vũ Khúc toạ thủ lại có Tham Lang đắc địa ở 3 phương củng chiếu là có thể làm nữ tướng, nhưng nếu lại gặp Xương Khúc gia sát thì bị cô bần, quả phụ.

176. – Phá Quân nhất diệu tính nan minh.

– Phá Quân là sao cô độc, dâm đật đàn bà không nên gặp, lại gia Tứ Sát nữa tức là bọn hà tiện hình phu khắc tử.

177. – Tham Lang nơi lang da dâm dật.

– Tham Lang còn có tên là sao đào hoa, tính hiếu sắc. Thân mệnh gặp ỏ nơi hãm địa thì chỉ là tì thiếp, làm tính hay ghen tỵ, gian trá với chồng hại con. Nếu không đúng vậy ắt là dâm loạn không sai.

178. – Thất Sát trẩm ngâm phúc bất vinh.

– Sao Thất Sát là tướng tinh nếu cư vượng, miếu địa chủ là nữ tướng.

– Nếu nữ mệnh có cơ nguyệt toạ thủ ở Dần Thân, lại gia ác sát tínhlà người dâm đật khéo léo, mặt mày xấu xí, nếu có cát hoá thì sau cũng không được mỹ mãn, đổi chông như thay áo.

179. – Thập thiên hoá lộc tối vinh sương

Nữ mệnh phùng chi đại cát sương.

Canh đắt Lộc Tồn tương tấu hợp,

Vượn phu ích tử thụ ân quang.

Bốn câu trên đây nói về sao hoá lộc. nữ mệnh có hoá lộc. Nữ mệnh có hoá lộc toạ thủ lại có Lộc Tồn sung hợp nữa ắt là vinh hiển vô cùng. Hoặc được đứng trước ba vị, hay ở cung hợp, ám hợp, hay giáp trước sau, hoặc đồng cung điều là số mệnh phụ cực quí hiển, nếu không quí thì chủ đại phú và ắt sinh quí tử.

180. – Hoả Linh Dương Đà cập Cự Môn,

Thiên Không Địa Kiếp hựu tương lâm.

Tham Lang Thất Sát Liêm Trinh tú,

Vũ Khúc gia lâm khắc hại sâm.

Những sao: Hoả Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Cự Môn Thiên Không (Địa Không) Địa Kiếp lại cùng hợp với nhau.

Những sao: Tham Lang Thất Sát Liêm Trinh, gia thêm Vũ Khúc đàn bà không nên gặp những sao kể trên, nếu gặp ắt bị khắc hại, hạ tiện, bần yểu vậy.

181. – Tam phương tứ chinh hiềm phùng sát

Canh tại phù cung hoạ hoạn thâm,

Nhược chực bản cung vô chính diệu

Tất chủ sinh ly khắc hại chân.

Đây là luận đối và hợp cung của thân mệnh số đàn bà nên gặp cát hoá tinh, lại gặp Tứ Sát (Dương Đà Hoả Linh) hay Thất Sát ắc hoạ hoạn rất nhiều nếu bản cung vô chính diệu Tứ Sát ở tam phương tứ chính củng chiếu ắt chủ sinh ly khắc hại chồng con không sai.

DƯỚI ĐÂY LÀ TRUNG CÁCH

182. – Khốc hư Tý Ngọ đồng cung.

Tiền bần hậu phú.

Như thân mệnh an ở hai cung Tị Ngọ có hai sao thiên khốc thiên hư ắt là tiền bần hậu phú.

183. – Không Kiếp Tị Hợi đồng vị dạng nghiệp công danh.

– Địa Không Địa Kiếp miếu vượng ở hai cung Tị Hợi nếu thân mệnh hay hai hạn gặp ỏ đấy, ắt được dạng nghiệp công danh nhưng không bền.

184. – Hồng loan cư tý, thiếu niên định chiếm khôi nguyên.

– Mệnh an ở cung Tý có hồng loan toạ thủ thì nhỏ tuổiđã đổ đạt cao tột.

185. – Thiên Mã nhập mệnh, mẫn đề đa năng.

– Thân mệnh có Thiên Mã toạ thủ là người siêng năng nhiều tài cán.

186. – Lộc Tồn tại viên, chỉ tứ tổ nghiệp.

– Thân mệnh có Lộc Tồn toạ thủ ở nơi miếu vượng địa ắt được hưởng hoa lợi tổ nghiệp để lại.

187. – Thiên Đồng nhập mệnh, hoán cải vô thường.

– Thân mệnh có Thiên Đồng toạ thủ là người có tính hay hoán cải, ưa mới ghét cũ, người vô thường.

188. – Thiên diêu tài bạch, hoa đổ sinh ương.

– Cung tài bạch có thiên diêu toạ thủ là người thích bài bạc, trai gái mà thành tai ương.

189. – Mã hỉ trường sinh, thanh vân đắc lộ.

– Sao Thiên Mã gặp được trường sinh là số được nhiều sự may mắn, làm quan thì nhẹ bước thang mây, rồng mây gặp hội. Hai hạn mà gặp ắt được nhiều sự may mắn không thường.

190. – Thân cư Vũ Khúc, hắc tử trung tàng.

– Thân có Vũ Khúc toạ thủ là có mốt ruồi kín.

191. – Mộc dục độc thủ, chỉ hảo dã dong.

– Thân mệnh có một sao mộc dục toạ thủ thì chỉ làm thợ bạc hay thợ rèn.

192. – Thân cư Thái Tuế dữ nhân quả hợp.

– Thân mệnh có Thái Tuế toạ thủ ít giao du, ít bạn bè.

193. – Khôi Việt tại thân tất vi nhân trưởng.

– Thân mệnh có Khôi Việt toạ thủ ắt là con trưởng.

194. – Xương Khúc giáp quan vị định tác cao khoa.

– Cung quan có sao Xương Khúc giáp là người khoa cử đỗ cao.

195. – Tuần triệt đương đầu, thiếu niên lao khổ.

– Mệnh có tuần triệt sen vào ắt thiếu niên bị lao đao, khổ sở.

196. – Tam không (tuần triệt thiên (địa) không) độc thủ, phú quí song toàn.

– Mệnh vô chính diệu có Tam Không toạ thủ hay xung hợp chiếu có Hoá Cát chiếu ắt sẻ được phú quý, nhưng lúc thiếu thời cũng bị gian truân.Nếu thiếu thời không lao đao quyết đoán là con về ngành thứ, hay phải bán đi theo họ khác mới đúng.

197 – Nhị diệu giao huy, công danh tảo đạt.

– Nhị diệu đây là Nhật Nguyệt, tức là cách Nhật Nguyệt tịnh minh, Hai sao Thái Âm và Thái` – dương đắc địa hợp chiếu Mệnh Thân, Tức sớm đã có Công danh thiếu niên đã thành đạt.

198 – Hoá – Kỵ Điền trang đa vi giai Phúc.

– Sao Hoá Kỵ là hung tinh kể vào hàng ác tinh, trong 12 cung chỉ an được ở cung Điền – Trạch là Phúc tinh có tính cách bảo thủ giữ gìn nhà cửa ruộng nương.

199 – Tai Lâm Mệnh vị, đa hoc hiếu thời.

– Mệnh có sao Thai toạ thủ là người hồi nhỏ đã hoc hành thông bác nhiều.

200 – Tham – lang tại Thê cung, Hôn cầu Trưởng nữ.

– Cung Thê Thiếp có sao Tham – Lang, toạ thủ ắt vợ là con trưởng.

201 – Phong – cáo Thai – phụ, hiển ấm gia tiên.

– Mệnh Thân có Cáo Phụ toạ thủ ắt người có công danhđược phong tặng, hiển đạt, dương danh cha mẹ tổ tiên.

202 – Xương Khúc nhập Mệnh viên vi tài cái thế.

– Mệnh có Xương Khúc toạ thủ miếu vượng, ắt là người văn chương nổi tiếng của thế hệ.

203 – Địa – Kiếp đốc thủ thị kỷ phi nhân:

– Mệnh cung có Địa – Kiếp là người ích – kỷ chỉ biết mình, không còn biết đến ai nữa.

204 – Thiền – hình, Thất –Sát cương táo nhi cô.

– Mệnh Thân có Hình Sát toạ thủ là người có tính ương ngạnh sống cô – độc, không ai chơi với.

205 – Thiên – Khốc, Hoá – Quyền(hay Văn Xương) đồng cung minh danh vu thế.

– Thân Mệnh có Khốc – Quyền hay Sương toạ thủ đồng cung là người có tiếng tăm

danh giá lưu đến đời sau.

206 – Thiên – Phủ Vủ – Khúc đồng vị, tích ngọc mai kim.

Hai sao Phủ VŨ đều là Tài Tinh .Mệnh Thân có Phủ Vũ toạ thủ, hay an ở cung Tài – Bạchtức là người giàu có đến Cự Vạn vàng chôn ngọc cất.

207 – Thiên – Phúc, Thiên – Quan tối vi cát tú.

– Hai sao trên an ở cung Mênh Thân, Quan hay Tài là quí cách.

208 – Thiên – Khốc, địa vỏng tối thị hung ương, gia cát diệu khả tường.

– Sao Thiên Khốc cư tại cung Tuất(địa võng)là hãm địa, tức như tiếng kêu bị bao lại, thành rất hung hại, nhưng có Cát diệu xung chiếu lại có thể hiền được.

209 – Tang –môn bất nghi Điền trạch.

Sao Tang – Môn không nên cư tại cung Điền trạch, vì cái lẽ Tang – môn có tính cách ưu buồn về tang chế, nên nếu ở cung Diền – Trạch là về nhà cửa ruộng nương mà có ông Thần Buồn luôn luôn dóng ở đấy. Vì lẻ ấy khuyên rằng: ”Không nên có Tang – Môn ở cung Điền Trạch”.

210 – Cô – thần Quả – tú yếu thủ điền Tài.

– Cô – Thần Quả – Tú có tính se sắt, ích kỷ cái gì cũng thu va thu vén lấy cho mình và giữ gìn chặt chẻ, nên an ở cung Diền hay Tài, để giữ gìn của cải, điền trang được.

211 – Lưỡng – Hao bất nghi Tài – Bạch.

– Lưỡng Hao là đại hao, tiểu hao là thần hao tán, không nên cư ở cung Tài – Bạch, nếu cư ở đấy thì người kiếm được tiền vào tay phải ra tay trái, suốt đời không có.

212 – Tứ – Sát (là Dương Đà Linh Hoả) đắc địa, phát đã như lôi.

– Nên ở nơi vượng hay đắc – địa ắt được phát mạnh, và mau nhưng về sau cũng không được toàn mỹ.

213 – Hoả Linh Tử – Tức, đáo lão cô đơn.

– Hai sao Hoả Linh an ở cung Tử – Tức thì đến già không con.

214 – Thiên Không Hoả – Tinh nhập Mệnh, Trùng thương hoả hoạn.

– An Mệnh có Thiên Địa – Không.Hoả Tinh toạ thủ ở nơi hãm địa thì bị tai ương, hoả hoạn liên tiếp.

215 – Không Kiếp Tài Phúc, phi yểu tắc bần.

– Hai sao Địa – Không, Địa Kiếp an ở cung Tài Bạch hay Phúc Đức là người không chết non thì nghèo hèn, nếu Thần Mệnh không có sao giải.

216 – Đối diện chiều Đẩu cách.

– Nghĩa là sao Lộc – Tồn ở hai cung Tý Ngọ, Như Lộc Tồn ở cung Thiên – di hay Ngọ ắt có nhiều Tài lộc, hợp với Cát tinh lại mạnh thêm, kẻ tiểu – nhân muốn hại cũng không nổi mà phải trọng, ắt được Phú quí song toàn cách hiếm có.

217 – Khoa Quyền – Lộc chủ cách.

– Mệnh an được Tam Hoá cũng chiếu hay Tam Hoá liên châu, Nếu hợp Dược với “Quyền tinh, Cát diệu thì Nhập tướng Vương chiều tàn thành công, Phú quý vòi vọi đến Tam công.

218 – TẢ Hữu chiều viên cách.

– Được Hai Sao Tả Hữu thì hết sức tốt, ở ba phương chiếu lại cung Quan – Lộc thì làm về Võ quan cao tột phò tá cửu trùng quyền cao chứa trọng hiển hách một thời.

Về Văn khoa ắt danh tiếng vào bực Công Khanh.

219 – Kiêm Văn Võ cách.

– Thân Mệnh có sao Văn – Khúc, Vủ – Khúc toạ thủ, ở nơi đắc địa, không có Sát Phá gia vào tức là bậc Anh Hùng dân tộc, vinh hiển như sóng cồn đại hải.

220 – Văn Tinh Chiều Mệnh cách.

– Anh Mệnh có Xương Khúc toạ thủ hay cùng chiếu tại nơi đắc địa gia Cát tinh tức là cách thật là vinh hoa phú quý, như gấm được thêm hoa.

221 – Tham Lang ngộ Hoả danh vi Hoả quý cách.

– Cung Mệnh có Tham Hoả toạ thủ cùng chiếu ở nơi đắc địa, ba phương cùng chiếu không có hung sát tinh lại thêm Cát Hoá, tức là vị Anh Hùng của dân tộc, được phong Hầu, thực lộc vô kể đến già vẫn còn được hưởng Phúc Thọ lâu dài.

222 – Luận người có số Buôn – bán hay không?

– Phàm xem số người có số buôn – bán hay không ắt phải luận tính cách các Sao toạ thủ Mệnh cho đúng như người Mệnh có Cự Nhật Tử Phủ thủ chiếu là người an phận thủ thường, có lòng nhơn đức vui vẻ ngay thẳng, làm việc thì vô tư.Kẻ Sĩ thì không có lòng tà dâm, không muốn cầu cạnh, làm quan thì liêm khiết, nên không có óc kinh doanh, mưu tính cho nên không buôn – bán được.

Như người có Mệnh Nguyệt, Tham, Đồng, Sát kỵ là số những người có nhiều mưu hay cơ giỏi, túi tham không đáy, ngay đêm lo lắng tính toán mưu sự để cầu lợi, mới có óc kinh – doanh, mưu tính những công việc làm ăn lớn lao nên mới có thể ganh đua trong thương trường được vậy.

Như Thân Mệnh có Tham, Đồng Sát hội với Cơ Lương là người thích về tài lợi nên mới có tri hướng kinh doanh, buôn bán, đêm ngày lo nghĩ mưu này kế khác hầu thắng lợi trên thương trường nên bước đời hồ hải nay đây mai đó lắm lúc tự thấy hoang mang bôn ba nơi đất khách.

Những người Thân Mệnh có Tử – Vi ngộ Kình – dương phần nhiều là người kinh – doanh, Thương – nghiệp.Cung Thiên –di có Vũ –Khúc toạ thủ là người đi buôn – bán thì lợi hơn.Hay có Sát Phá Liêm cùng với Tả Hữu, Dương Linh Hoả ắt dương danh về Thương – Nghiệp ở đất khách quê người vậy.

223 – Luân Kỹ – nghệ gia.Kỹ – Thuật gia chi Mệnh.

– Người sinh năm Dần, Thân, Tị, Hợi, Thìn, Tuất, Sữu, Mùi gặp được Tham Vũ thủ Mệnh Thân gia Kỵ Sát là người rất lành nghề, như Kỹ – Thuật gia Kỹ – Sư.

– Sao Tam – lang toạ thủ Mệnh cư nhàn cung là người không làm đồ tể thì thợ rèn, các ban công nghệ làm nghề gì cũng tinh xảo, tính thích chơi nơi hoang dã và đi săn.

Phá Vũ an ở cung Sữu Mùi, Mệnh an ở cung Tị Hợi là người làm nghề khéo.

Phá Liêm cư Mảo Dậu là người khéo – léo làm nghề khéo – lạ.Cung Mệnh Thân có Thiên – Cơ, Thiên – Tướng toa thủ Tài –Tinh nhập Mộ, Thiên Phủ nếu cư ở cung Thiên di (là động vị) ắt là người làm được những kỳ công, Tác phẩm kỳ lạ về nghệ thuật.

224 – Luận Xuất gia tăng đạo chi Mệnh.

– Sao Tử – Vi cư Mão Dậu ngộ Kiếp Không, xem Mệnh vô chính diệu lại có Dương Hoả Kiếp Không Kị. Lại xem ba cung Phụ – mẫu – Thê – Tử có sát tinh, là số người Xuất gia tu hành, tăng đạo. Như người sinh năm Dần, tháng Thân ngày Tị giờ hợi (Tử Chính ) có Sát và Kỵ thì Nam tăng nữ ni cô.

– Mệnh Thân nó Tu73 – Vi cư Mão Dậu gặp Kiếp Không 10 người thì 9 người đi tu, lấy sự thanh nhàn, tĩnh mịch vui cùng Dạo – đức.

mệnh Toạ không hương định số kẻ Xuất gia tu hành, lại được Văn – Sương Văn – Khúc lâm Thân Me6nh5 là người tu Dạo thanh nhàn mà Phúc được gia tăng.

– Thiên – Cơ Thất – Sát Phá – Lương cùng hội với nhau ở Mệnh cung, ắt là số của người Giang – Hồ vui cùng non nước. Hạn gặp Thái – dương hay Tử – Vi ắt bị lênh đênh hồ hải, cô khắc có khi nguy đến tính Mệnh.

225. – Luận người bị Cô khắc.

– Như khắc Thê, khắc Tử, khắc Cha Mẹ, nếu phạm 1 hay 2 điêu khắc trên lại không là số Xuất gia .

Thứ nhất xem cung Phụ – Mẫu có cát hung tinh miếu hãm ra sao, nếu như ở lại hãm địa gia Sát Kỵ tất chủ hinh khắc cha mẹ.

Thư hai xem cung Thê – Thiếp và thứ ba xem cung Tử – Tứcở tại nơi miếu vương hay hãm dịa, có cát hay hung tinh toạ thủ, nếu ở tại hãm dịa lại gia Sát Kỵ ắt bị cô độc cô quả.

226. – Luận Thọ yểu dâm đãng.

– Mệnh có sao Tham – lang nhập miếu toạ thủ, ngộ Nam – Cực tinh thì sống lâu gặp sao Bắc – đẩu đế tinh mà không có ác sát thì được sống lâu cát tường.

– Sao Thất – Sát lâm cung thân ắt chết non, có Tham – lang nhập miếu định hoá chồng, hoá vợ, nếu lại ở cung đằng trước, hay tam hợp chiếu lâm lại là người hoc hành tài giỏi phò tá quân vương quên cả thân mình.

– Thân Mệnh hai cung đều có Sat1 Tinh toạ thủ thì lại là người ưa tửu sắc mà di hoạ lớn lao. Hai hạn lại gặp ở cung Thân Mệnh thì lúc bỏ lúc mê tuỳ theo ý muốn của mình.

227. – Luận người Tàn – Tật.

– Trước phải xem T inh và cung mệnh có bị lạc hãm hay có sao Dương Đà Hoả Iinh Kiếp Không Kỵ không? Lại xem cung Tật – Nguy sao bị hãm miếu, cát hung thế nào rồi đoán .

Như có Dương Đà Sát thủ Thân MỆNH, lại có Hoả Linh toạ chiếu là người phúc chưa phải là phúc bạc. Nhưng thường nếu không ngồi một chỗ thì cũng bị đau lưng ngồi một chỗ.

Và cư theo tính cách các sao thuộc ngũ hành, Nam Bắc đẩu phân chia, cư nơi hãm hay vượng địa, cung Tật – Nguy cư tại hướng nào luận theo Tượng Hậu – Thiên Bát quái thì có thể biết đượccơ thể nào đau trong người (xem trong cuốn Đại – Đồng đã giải).

228. – Luận bị Phá Tướng.

– Như cung Thân Mệnh có Sat1 tinh lại thêm 3 nơi hợp chiếu gặp Hình, cung Tật nguy (hay giai ách ) có Kinh dương gia Háo Su73 thì bị gãy cẳng, thân thể không thể toàn vẹn .

229. – Luận số người thông minh.

– Như Thân Mệnh có các sao chính diêu toạ thủ cư nơi đắc địa, miếu vượng 3 phương chiếu lại có Khôi Việt, Xương Khúc ắt là người thông minh .

Như Thân Mệnh có Văn – Khúc, Thiên – Tướng, Phá Quân toạ thủ tại miếu vương cung là người nhiều mưu kế, có Linh Tinh, ba phương chiếu lại có Xương Khúc thì nhất sinh Sảo – Nghệ hữu thanh danh. Như được Su7ơng Khúc Phủ Tướng Vũ Phá Thai Toạ Tả Hữu cũng chiếu Thân Mệnh là người cực kỳ thông minh.

230. – Luận số Phủ túc.

– Sao Thái – Âm nhập miếu ắt được sáng tỏ, tinh ba của hành Thuỷ, tượng của cải, là Tài Tinh nhập Tài vị ắt giàu có lớn lao, cung Tái – Bạch và Thân – Mệnh không bị phạm Hao, Sát, Hung tinh là số người giàu có chọn vàng tích ngọc từ nhỏ .

231. – Luận số Bần – Tiện.

– Cung Mệnh không có cát tinh lại gặp Hoả Kỵ Dương Đà vào Tử chính.

232. – Luận số làm giặc Cướp.

– Cung Mệnh phùng Phá Hao lạc hãm lại có Tham Liêm, Thất Sát chiếu lại, cung Thân có Vũ Khúc cư ở cung Thiên – di động vị, thì nhất sinh chỉ đi ăn cướp không thì làm giặc.

233. – Luận Tạp Số

– Mệnh có Cát Tinh tương phù lại có Hung Tinh làm vào là hạng người dở ông dở thằng, không biết một nghề gì để độ nhựt nếu Thân Mệnh bị ác tinh nhiều thì chỉ làm hạng Đồ Ngưu Tể Mã (giết bò chăn lợn)

234 – Luận số Phúc Thọ

– Như người ở phương Nam có Thiên Đồng, Thiên Lương (Nam đẩu Tinh)toạ thủ Mệnh, miếu vượng chủ Phúc Thọ song toàn.

235 – Luận số Uy dũng.

– Như Mệnh Thân có Vũ – Khúc, Văn – Sương, Kình – dương Thất Sát toạ Mệnh có Quyền Lộc ba phương chiếu lại gia Tử Phủ Tả Hữu nữa chủ người Vũ dũng uy nghi lẫm liệt.

236 – Luận số Văn Chức.

– Như Xương Khúc Tả Hữu Khôi toạ thủ Mệnh ở miếu vượng cung lại được tam hợp tứ chính Khoa Quyền – Lộc cũng chiếu chủ về Văn Quan.

237 – Luận số Vũ Chức.

– Vũ Khúc, Thất Sát toạ Mệnh ở cung miếu vượng lại được Thai Toạ gia Quyền Lộc, Khôi Việt cũng chiếu là làm Vũ chức.

238 – Hình danh luận.

– Như Thân Mệnh có Kình Đà Hoả Linh toạ thủ miếu vượng địa gia Vũ Khúc tức Phá Quân – Đế – Vượng Thất Sát thì tốt lắm, Hợp 3 phương không có Hung Tinh cư hãm địa ắt chủ Hình quan (quan về toà án).

ĐỊNH PHÚ CUỘC

239 – Tài ám giáp ấn.

– Thiên Tướng thủ Mệnh, có Vũ – Khúc và Thiên – lương giáp cung Điền Trạch cũng vậy (Thiên – tướng là Ấn)

240 – Nhật Nguyệt giáp tài

– Vũ – Khúc thủ Mệnh có Nhật Nguyệt giáp cung Tài – Bạch cũng vậy (Vũ – Khúc là Tài Tinh).

241 – Tài Lộc giáp Mã.

– Thiên – Mã thủ Mệnh giáp Vũ – Khúc, Lộc – Tồn hay Hoá – Lộc, lại gặp Tràng Sinh hay Đế – Vượnglại càng hay hơn nữa.

242 – Phủ Ấn cũng Thân.

– Phủ là Thiên Phủ, Ấn là Thiên – tướng là cách Phủ Tướng chiều viên đã giải ở trên, ở cung Điền – Trạch cũng vậy.

243 – Nhật Nguyệt chiếu Bích.

– Nhật Nguyệt làm cung Điền – Trạch, cư ở mộ khố thì tốt hơn.

244 – Kim Xán quang Huy.

– Một mình Thái – Dương cư Ngọ thủ Mệnh.

Sáu cách trên đây là Đại Phúc cuộc, nếu được 1 cách trên 3 phương xung hợp lại có Hoá cát, không có Sát Tinh ắt là số những nhà Triệu Phú. Nếu bị Tứ Sát, Phá Hao thì bị giảm đi nhiều lắm. Ta thường nói:

Đại Phú do Thiên, Tiểu phú do cần.

Sự giàu có tứclà cái lộc của Trời, giàu to là do Thiên Mệnh định đoạt, nhưng sự cần – kiệm cũng có thể cho người mát mặt được.

ĐỊNH QUÍ CUỘC

245 – Nhật Nguyệt giáp Mệnh.

– Nhật Nguyệt giáp Mệnh không gặp Không – vong gia cát tinh hội chiếu.

246 – Nhật xuất Phù Tang.

– Nhật ở cung Mão thủ Mệnh ở cung Quan Lộc cũng vậy.

247 – Nguyệt lảng Thiên Môn.

– Nguyệt ở cung Hợi thủ Mệnh (Quẻ Kiền vi Thiên ở giữa cung Tuất Hợi, nên gọi cung Hợi là Thiên Môn)

248 – Nguyệt sinh Thương Hải.

– Nguyệt tại cung Tí thủ mệnh, cung Quan – Lộc cũng vậy. (Cung Tý là quẻ Khảm, Khảm vi thuỷ, nên gọi cung Tí là Thương Hải, bể rộng mênh mông).

249 – Phủ Bật cũng chủ.

– Tử Vi thủ mệnh có Phụ Bật cũng chiếu hay giáp cũng vậy.

250 – Quân Thần Khánh Hội

– Tử – Vi và Tả Hữu đồng mệnh, nếu được gia hội Phủ Tướng Vũ càng hay hơn nữa.

251 – Tài Ấn giáp Lộc.

– Lộc thủ Mệnh có Lương – Tướng giáp, ở cung Tài hay Quan cũng vậy.

252 – `

– Cung đằng trước sao Thiên – Mã có Lộc Ấn (Lộc – tồn hay Hoá – Lộc và Thiên Tướng). Ở đồng cung cũng vậy.

253 – Toạ quý hướng quý.

– Khôi Việt tại Mệnh cung hay đối chiếu cũng vậy.

254 – Mã đầu đới Kiếm.

– Thiên Mã hội Kình – dương cư Ngọ tại cung Mệnh, còn các cung khác không phải.

254 – a)Thất Sát chiều đẩu cách (Trên đã giải).

254 – b)Minh Châu Xuất Hải( – id – )

254 – c)Nhật Nguyệt đồng tâm( – id – )

255 – Hình Tù giáp ấn.

– Kình – dương và Liêm –Trinh giáp Thân Mệnh có Thiên – tướng toạ thủ chủ người Vũ dũng.

256 – a)Khoa Quyền Lộc củng (Trên đã giải).

257 – Tham Hoả tương phùng.

– Sao Tham – lang và Hoả Tinh toạ thủ Mệnh ở cung miếu vượng.

258 – Vũ Khúc thủ viên.

– Vũ – Khúc thủ Mệnh ở cung Mão còn ra không phải.

258 – a)Phủ Tướng chiều Viên (trên đã giải).

259 – Tử Phủ chiều Viên.

– Mệnh Thân có sao Tử – Vi toạ thủ và Thiên – Phủ hội chiếu hay Phủ thủ Mệnh Tử – Vi hội chiếu.

260 – Văn Tinh ám cũng.

– Văn – Sương thủ Mệnh có Văn – Khúc xung hợp chiếu hay ở cung hợp Mệnh, hay Văn – Khúc thủ Mệnh, Văn Xương xung hợp chiếu.

261 – Quyền Lộc Sinh Phùng.

– Quyền Lộc thủ Mệnh ngộ Tràng Sinh miếu vượng địa. Hãm thì kém đi nhiều.

262 – Kình Dương nhập miếu.

– Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi an Mệnh có Kình – dương toạ thủ ngộ Cát Hoá – Hung tinh đắc địa phát đã như lôi.

263 – a)Cự Cơ cư Mão (trên đã giải).

263 – b)Minh Lộc ám Lộc (Trên đã giải, 2 sao phải ở nơi Miếu vượng, nếu lục hãm là không phải).

264 – Khoa minh Lộc ám

– Khoa thủ Mệnh, miếu vượng địa, hợp cung có Thiên – Lộc củng chiếu cũng vậy.

265 – Kim Dư phù giá.

– Tử – Vi thủ Mệnh có Nhật Nguyệt giáp. Như cái xe phò Vua.

ĐỊNH BẦN TIỆN CÁCH CUỘC.

266 – Sinh bất phùng Thời.

– Mệnh có Không vong gặp Liêm – Trinh (Thiên – tù).

267 – Lộc phùng lưỡng Sát.

– Lộc toạ thủ Mệnh ngộ Không – Vong lại phùng Không Kiếp Sát.

268 – Mã lạc Không – vong.

– Mã đã lạc Không – vong, nếu có Lộc xung hội cũng vô dụng chủ bôn ba.

269 – [/]Nhật Nguyệt tàng hung.

– Nhật Nguyệt phản bối (lạc hãm – địa) lại gặp Cự Môn (hoá Ám).

270 – Tài dữ Tù cửu.

– Vũ Khúc và Liêm Trinh đồng thủ Thân mệnh.

271 – Nhất sinh cô bần

– Phá Quân thủ Mệnh cư hãm địa.

272 – Quân, tử tại giã

– Tứ Sát thủ Thân mệnh làm hãm địa. Là người lấy dạo Thường làm lý tưởng, dẹp bỏ được Tài Lợi ra ngoài, vui thú cảnh thiên nhiên nên nói là tại giã.

273 – Lưỡng trùng hoa cái.

– Lộc – Tồn Hoá – Lộc thủ Mệnh ngộ Không Kiếp là cách đó.

ĐỊNH TẠP CUỘC

274 – Phong Vân tế hội.

– Thân Mệnh tuy nhược, hai hạn gặp được Lộc – mã như gió mây gặp hội ắt được nhẹ bước thang mây.

275 – Cẩm thượng thiên hoa.

– Hạn có Cát Tinh mà Mệnh lại được ở Cát Địa, như gấm thêm hoa.

276 – Lộc Xung mã khổn.

– Hạn gặp Thất Sát, Lộc mã ngộ Không – vong.

277 – Bộ số vô y.

– Tiếp hạn trước đến hạn sau xấu không ra xấu, tốt không ra tốt, liêm miên không phân rõ ràng như có bịnh ở nhà đi bộ đã lâu mà không gặp thầy thuốc.

278 – Thuỷ thương giá tính.

– Một năm tốt lại một năm xấu.

279 – Cát hung tương bạn.

– Mệnh có chủ Tinh, hạn trước thì phát là cát, hạn sau bí tắc là hung là cách trên vậy.

280 – Khô mộc phùng xuân.

– mệnh an ở nơi Suy địa gặp được hạn tốt như cây gặp mùa Xuân.

Luận các sao chính

an tại 12 cung vị Miếu Hãm để phân biệt Phú Quí, Bần Tiện Thọ Yểu.

I – Tử – Vi

Miếu: Dần Ngọ Sửu Mùi.

Vượng: Thân Hợi mão Tị Dậu

Đắc địa: Thìn Tuất

Bình: Tý

Không hãm.

Cách:

258 – Tử – Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ. Giáp ĐinhKỷ Mệnh chí công khanh.

Hình là sao Kình – Dương, Kỵ là Hoá – Kỵ.

Tử – Vi cư Ngọ thủ Mệnh, người sinh năm Giáp Đinh – Kỷ thì hợp cách, vị đến Công Khanh. Nếu gia Hình – Kỵ Kiếp Không ắt chỉ bình thường.

259 – Tử – Vi cư Tý Ngọ

Khoa Quyền Lộc chiếu tối vi kỳ.

Khoa Quyền Lộc ở ba cung xung hợp chiếu Mệnh có Tử – Vi toạ thủ Tý Ngọ gọi là cách “ngưỡng diện chiều Đẩu” (ngẩng mặt chầu sao Đẩu).

260 Tử – Vi nam Hợi, nữ Dần cung,

Nhâm Giáp sinh nhân phú quí đồng.

– Nam an mệnh ở cung Hợi, nữ ở cung Dần có Tử – Vi toạ thủ, người sinh năm Nhâm Giáp thì được Phú – Quí song toàn.

261 – Tử – Vi Mão Dậu Kiếp Không.

Tứ Sát đa vi thoát tục chi tăng

– Tứ Sát là Dương Đà Linh Hoả, Tử – Vi ở cung Mão Đậu Thủ Mệnh lại gặp Kiếp Không. Tứ Sát là người tăng đạo thoát tục.

262 – Tử Vi Thiên Phủ toàn Y Phụ Bật chi Công

– Tử Phủ toạ thủ Mệnh lại có Phụ Bật củng chiếu gia hội thì chung thân phú quí.

263 – Tử Phủ đồng cung vô sát thấu, Giáp nhân hưởng phúc chung thân.

– Tử Phủ đồng cung ở Dần Thân thủ Mệnh người sinh năm Giáp thì chung thân Phú quí.

264 – Tử Phủ chiều viên hoạt Lộc Phùng, Chung Thân Phúc hậu chí Tam Công

Mệnh toạ cung Dần Thân có Tử Phủ gia Lộc – Tồn và cát tinh thì suốt đời hưởng Phú quí vị đến Tam – Công.

265 – Tử Phủ đồng tâm Tị Hợi. Nhất chiều phú quí song toàn.

– Mệnh an ở Tị Hợi có Tử – Phủ thủ Mệnh thì suốt đời một mực Phú Quí song toàn, không lúc nào bị gián đoạn.

266 – Tử Phủ Nhật Nguyệt cư Vượng Địa, Tất định Xuất giai Công Khanh khí.

– Tử – Vi cư Ngọ Phủ cư Tuất thủ Mệnh, Nhật Nguyệt cư Sửu không bị Sát Tinh gia Cát – Hoá thì được tuyệt mỹ, làm đến Công Khanh dễ dàng.

267 – Tử Phủ Vũ Khúc lâm Tài Trạch Canh kiêm Quyền Lộc Phú xa ông.

– Như cung Tài, cung Điền Trạch có Tử Phủ Vũ thủ chiếu lại có Quyền Lộc hội chiếu là số Đại Phúc (được Tả Hữu gia Lộc – Tồn cũng vậy).

300 – Tử Vi Phụ Bật đồng cung. Nhất hô Bá nạc cư Thượng phẩm.

– Tử – Vi Phụ Bật cùng toạ thủ Mệnh là cách Thượng phẩm gọi một tiếng trăm người thưa hoặc được 3 phương chiếu lại là thứ cách, thủ cung Tài – Bạch thì làm chức quan về Tài – Chánh.

301 – Tử Phả Kình – dương tại Cự thương

– Được Vũ – Khúc cư Thiên – di thì tốt lắm, Tử Phủ ngộ Kình – dương ở Thân Mệnh là nhà buôn bán lớn.

302 – Tử Phủ giáp Mệnh vi quí cách.

– Như mệnh an ở cung Dần Thân, có Tử Phủ giáp là Quí Cách.

303 – Tử Lộc đồng cung, Phụ Bật chiếu Quí bất khả ngôn.

– Tử Vi Lộc Tồn đồng cung thủ Mệnh lại có Phụ Bật cũng chiếu thì quí không nói được.

304 – Tử Vi Xương Khúc phú quí khả kỳ.

– Mệnh có Tử Vi toạ thủ gia Xương Khúc Ắt Phú Quí

305 – Tử Vi Thất Sát Hoá Qquyền, Phản tác trinh tường.

– Mệnh Thân có Tử – Vi Thất Sát toạ thủ gia Hoá – quyền thì chở lại thành tốt lắm. (Thất Sát ngộ Tử – Vi Hoá Quyền).

306 – – Tử Vi Vũ Khúc sát diệu phùng Nhất sinh tăng lại sính anh hùng.

– Tử Vi Vũ Khúc toạ thủ thân Mệnh gặp Sát tinh là hạng Văn nhân sính anh hùng.

307 – – Tử Vi Phá Quân vô Tả Hữu. Vô Cát diệu hung ác hôn Lại chi đồ

– Mệnh Thân có Tử Phá toạ thủ không có Tả Hữu và Cát Tinh là bọn quan liêu ngu dốt hung ác.

308 – Tử Vi Vũ Khúc Phá Quân hội Dương Đà khi Công hoạ loạn.

– Mệnh Thân có Tử Vũ Phá hội lại gia Dương Đà là hạng người không ưa thích quan quyền, nên đi buôn bán.

309 – Tử – Vi Quyền Lộc quá Dương Đà. Tuy hoạch Cát nhi vô đạo.

– Mệnh Thân có Tử Quyền Lộc gia Dương Đà tuy cũng được phú quí nhưng là người vô đạo, bất chính.

310 – Tử Vi Thất Sát gia Không vong. Hư danh thụ ám.

– Mệnh có Tử – Vi ngộ Thất Sát gặp Không vong thành là bị hư danh che lấp.

311 – Tử Phá Mệnh lâm ư Thìn Tuất Sửu Mùi Tái gia Cát diệu Phú Quí kham kỳ

– Mệnh có Tử Phá toạ thủ ở Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ Khố) lại thêm Cát Tinh hợp chiếu vận đến thì phú quí lớn lao.

312 – Tử Phá Thìn Tuất. Quân Thần bất nghĩa.

– Mệnh có Tử Phá cư ở Thìn Tuất gia thêm Tứ Sát và hung tinh là số bị phản phúc, là Quân Thần bất nghĩa như số An Lộc Triệu Cao vậy.

313 – Tử Phá Tham – lang vi chí dâm Nam nữ tà dâm.

– Mệnh có Tử – Vi ngộ Phá Tham là người dâm dật số nam hay nữ cũng vậy.

314 – Nữ Mệnh Tử – Vi, Thái – dương tinh. Tảo ngộ Hiền phu tin khả bằng.

– Nữ Mệnh có Tử – Vi ở cung Dần Ngọ Thân thì cát và quí lắm (như Thái Dương) Vượng phu ích Tử, sớm đã gặp được đấng trượng phu quân Tử Vinh hiển, ở các cung khác thì bình thường. Duy chỉ ở cung Tý Dậu và Tị Hợi gặp Tứ Sát thì như Ngọc quí có Tỳ về sau không tốt.

II. –THIÊN PHỦ

Miếu : Sửu Mùi Mão Thìn Tuất.

Vượng : Tý Ngọ.

Địa Tị Hợi, Dần Thân Dậu

Vô hãm.

305 – Thiên Phủ Tuất cung vô sát Thấu.

Giáp Kỷ nhân yếu Kim hựu thả Phú.

– Thiên Phủ an ở cung Tuất cư Mệnh không có Tứ Sát hợp chiếu người sinh năm Giáp Kỷ giàu có lớn. Nếu gia Tứ Sát ắt không được chơn nhu có tì vết.

306 – Thiên Phủ Thiên Tướng Thiên Lương đồng.

Quân thần khánh hội.

– Mệnh có Thiên Phủ toạ thủ, Thân có Thiên Tướng cung đàng trước có Thiên Lương gia Cát Hoá là Quân Thần Khánh hội ắt được phú quí không sai.

307 – Thiên Phủ cư Ngọ Tuất, Thiên Tướng lai chiều.

Giáp nhân nhất Phẫm chi quí

– Mệnh có Thiên Phủ cư Tuất Ngọ, có Thiên Tướng hợp chiếu người sinh năm Giáp là Quí đến tột bực, hàng Thái – Sư, Thủ – Tướng, Tể – Tướng.

308 – Phủ Tướng chiều Viên thiên cung chung thực Lộc.

– Mệnh an ở Dần Thân có Phủ Tướng ở cung Tài, Quan chiếu lại là Thượng cách, các cung khác là thứ cách.

309 – Thiên Phủ Lộc Tồn Xương Khúc

Cụ Vạn chi Tứ

– Mệnh có Thiên Phủ toạ thủ gia Lộc – Tồn Xương Khúc là số Triệu Triệu Phú.

310 – Thiên Phủ Xương Khúc Tả Hữu.

Cao đệ ân vinh.

– Mệnh có Thiên Phủ gia Xương Khúc Tả Hữu là người đỗ cao vinh hiển được ân tứ.

311 – Thiên Phủ Vũ Khúc cư Tài Bạch

Canh Kiêm Quyền Lộc Phú Xa Ông

_Thiên Phủ Vũ Khúc cư 2 cung Tài Bạch và Điền Trạch lại có cả Quyền Lộc chiếu thì giàu có lớn.

III – THIÊN TƯỚNG

Miếu : Dần Thân Tý Ngọ Sửu Mùi.

Địa : Tị Hợi

Hãm : Mão Dậu.

312 – Thiên Tướng Liêm Trinh Kình Dương giáp Đa chiêu hình Trượng cập nan đào.

– Mệnh có Thiên Tướng có Liêm Kình giáp thì suốt đời chịu tôi không tránh được.

313 – Thiên Tướng chi Tinh Nữ mệnh Triền.

Tất dương tử quí cập phu hiền.

– Số đàn bà có ThiênTướng thủ Mệnh ắt chồng hiền con quí người sinh năm Kỷ an tại Mệnh cung Tý, sinh năm Giáp an Mệnh cung Ngọ, sinh năm Canh an Mệnh cung Thìn là Quí cách.

314 – Hửu Bật Thiên Tướng Phúc lai lâm.

– Đàn bà sinh năm Quí, Mệnh an cung Tý có Thiên – Tướng và Tả Hữu chiếu, người sinh năm Kỷ Mệnh an ở cung Dần, sinh năm Canh Mệnh an ở cung Thân là quí cách, Thiên Tướng an ở cung Sửu Mùi Hợi thì không Quí ở cung Tý Ngọ Mão Dậu thì Phúc ít.

IV – THIÊN LƯƠNG

Miếu : Dần Thìn Tý Ngọ

Vượng: Sửu Mùi.

Địa: Tuất Mão

Hãm: Tị Hợi Thân.

315 – Thiên Lương Nguyệt diệu nữ dâm tham.

– Lương cư Tị Hợi thủ Mệnh có Thái Âm cư hãm địa chiếu. Số đàn bà là dâm dật tham lam. Nếu được ở cung Miếu Vượng Địa thì y lộc toại lòng, nếu hãm là Hạ tiện.

316 – Thiên Lương cư Ngọ vị

Quan tứ thanh hiển Triều Đường.

– Thiên Lương cư Ngọ thủ Mệnh ắt làm quan được hưởng lộc thanh hiển. Người sinh năm Đinh Kỷ quí là hợp cách.

317 – Thiên Lương thủ chiếu cát tương phùng bình sinh phúc thọ.

– Thiên Lương cư Ngọ thủ mệnh thì cực tốt được Phúc thọ.

318 – Lương Đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị

Nhất sinh lợi Nghiệp thông minh.

– Mệnh Thân cư Dần Thân có Đông Lương toạ thủ gia Thiên Cơ Thái Âm hợp chiếu thì thông minh, suốt đời Phú quí danh tiếng vang lừng.

319 – Lương Đồng Tị Hợi

Nam da lãng đãng nữ da dâm

– Lương Đồng cung Tị Hợi thủ mệnh trai làng hạng lười biếng thất thểu, gái thì đa dâm, gia thêm Hình Kỵ Sát là Hạ Tiện.

320 – Thiên Lương Thai Dương Sẫng Lộc hội

Lư Truyền đệ Nhất danh

– Thiên Lương thủ Mệnh cư Miếu Vượng địa gia Thái Dương Sương Lộc hội chiếu, là người rất thông minh đỗ đến trạng nguyên danh giá.

321 – Thiên Lương Văn Xương cư miếu vượng

Vị chí Đài – Cương

– Mệnh có Thiên Lương toạ thủ gia Văn Xương ở Miếu vượng địa thì làm đến Tể Tướng.

322 – Lương Vũ Âm Linh.

Nghĩ tác Đống lương chi Khách .

– Mệnh có Lương Vũ Âm Linh hội, cư miếu vượng địa là làm đến Tứ Trụ, là đường cột trong nước.

323 – Lương tú Thái Âm khước túc

Phiêu bồng chi khách

– Lương cư Dậu, Nguyệt Cư Tị là người tang bồng hồ thỉ nay đây mai đó, lang thang vui cùng gió mây.

324 – Thiên Lương Thiên Mã vi nhân phóng đãng phong lưu.

Thiên Lương hội với Thiên Mã cư Mệnh là người phong lưu thích đi chơi bời giao du.

325 – Thiên Lương gia Cát toạ Thiên di

– Số Thiên Lương cư Thiên di ở miếu vượng địa gia Cát hoá là người buôn bán lớn lắm, nếu gia Hình Kỵ lại thường thôi.

V. – THIÊN ĐỒNG

Miếu : Tị Hợi

Vượng: Tị Thân

Bình: Mão Dậu Thìn Tuất

Lợi: Dần

Hãm: Sửu Mùi Ngọ

326 – Thiên Đồng hội Cát, Thọ Nguyên thời.

– Mệnh có Thiên Đồng toạ thủ cư miếu vượng địa gia Cát Tinh là số thọ lắm.

327 – Đồng Nguyệt hãm cung gia Sát.

Trọng Kỵ nghệ hoa hoàng

– Thiên Đồng hội với Thái Âm ở hãm địa gia Sát tinh là người thích về Kỹ – Nghệ.

328 – Thiên Đồng Tham Dương Đà cư Ngọ vị.

Bính Mậu trấn ngự biên cương

– Dược Đồng Tham Dương Đà cư cung Ngọ là cách mã đầu dái Kiếm được cả Phú Quí, người sinh năm Bính Dậu là Võ Tướng trấn ải biên thuỳ.

329 – Thiên Đồng Tuất cung Hoá Kỵ

Đinh nhân Mệnh ngộ phản vi giai.

– Mệnh có Thiên Đồng Hoá Kỵ toạ thủ cư Tuất, người sinh năm Đinh là xấu hoá ra tốt.

330 – Nữ Mệnh Thiên Đồng tất thị Hiền.

– Đàn bà Mệnh có Thiên Đồng ắt là người hiền lành đức độ.

Người sinh năm Tí Mệnh an ở cung Dần

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – Tân – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – Mão

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – Đinh – – – – – – – – – – – – – – – – – – – Tuất là nhập cách.

Người sinh năm Bính Tân Mệnh có cát tinh, người tuổi Tị Hợi gặp thì hoá Tốt nhưng dâm dật.

VI. – THIÊN CƠ

Miếu : Tý Ngọ

Vượng: Mão Dậu

Đắc Địa: Dần Thân

Bình: Tị Hợi

Lợi ích: Thìn Tuất

Hãm: Sửu Mùi

331 – Cơ Lương hội hợp thiện đàm Bính

Cư Tuất diệt vi mỹ luận.

– Cơ Lương đồng cung cư Tuất là người thích nói chuyện về chính trị binh quyền như số ông Mạnh Tử cung Thiên di ở cung Tuất có Cơ lương.

332 – Cơ Lương thủ Mệnh gia cát diệu Phú quí tứ tường.

– Mệnh có Cơ Lương gia Cát Tinh là số người phú quí lại hiền hậu không mắc tai hoạ, nếu gia Hình Kỵ là số tăng đạo.

333 – Cơ Lương đồng chiếu Mệnh Thân Không, thiên nghi Tăng đạo.

– Cơ Lương thủ Thân Mệnh ngộ Không vong thì lại chở lại là số tăng đạo.

334 – Cơ Lương Thất Sát Phá Quân xung.

Vũ Khách tăng lưu Mệnh sở phòng.

– Cơ Lương thủ Mệnh ngộ Thất Sát Phá Quân là số những giang hồ vũ khách hay tăng đạo.

335 – Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân.

– Mệnh cư Dần Thân có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương là số làm về quan trường thì tốt không có Cát Hoá lại gia Sát tinh thì bình thường. Nếu gặp Tứ Sát Không Kiếp Kỵ là hạ cách.

336 – Thiên Cơ gia Ác Sát đồng cung cẩu thâu thử khiết.

– Mệnh có Thiên Cơ gia Ác Sát đồng cung là người suốt đời bị trộm cắp (chó cắn chuột trộm) là tiểu nhân bị hoạ hại.

337 – Cơ Lương Tham Nguyệt đồng cơ hội,

Mộ dạ Kinh Thương vô miên thuỳ

– Có Cơ Lương Tham Nguyệt cư Mệnh là số người buôn bán kinh doanh khó nhọc làm việc đêm cũng như ngày không ngơi nghĩ.

338 – Thiên Cơ Tị cung Dậu phùng hiểu ẩm, lỵ tổ gian giảo trọng.

– Mệnh có Thiên Cơ ở cung Tị hay Dậu là người thích rượu chè, bỏ quê hương hay gian dối.

339 – Cự hãm Thiên Cơ vi Phá Cách

– Nếu là Nữ Mênh có Cự Cơ cư Dần Thân Mão Dậu tuy được phú quí nhưng không khỏi dâm dục đê hèn.

VII. – Thái Dương

Miếu : Mão

Vượng: Dần Thìn Tị Ngọ

Hoà Bình: Dậu

Hãm: Tuất Hợi Tý Sửu.

340 – Nhật xuất Lôi môn vu Thìn Mão địa

Chú sinh Phú Quí Thanh dương

– Theo Hậu Thiên Bát quái thì cung Mão là Quẻ Chấn tượng Lôi Nên Nhật cư Thìn, Mão thủ Mệnh có Nhật xuất Lôi môn, người sinh ban ngày thì Phú quí tiếng tăm lừng lẫy.

341 – Thái Dương cư Ngọ

Canh Tân Đinh Kỷ nhân Phú quí song toàn.

– Thái Dương cư Ngọ thủ Mệnh, người sinh năm Canh Tân Đinh Kỷ thì được phú quí song toàn.

342 – Thái Dương Văn Xương tại Quan Lộc Hoàng diện Triều ban.

– Có Thái Dương miếu vượng cư quan Lộc ngộ Văn Xương hay Văn Khúc cũng vậy là người làm quan đến chức Đại Thần trong triều.

343 – Thái Dương Hoá Kỵ

Thị phi nhật hữu mục hoàn thương.

– Thái Dương thủ mệnh ngộ Hoá Kỵ nếu ở cung Miếu vượng ắt bị thị phi đau mắt nếu bị lạc hãm ngộ Ác Sát nữa ắt mù.

344 – Nhật lạc Mùi thân tại Mệnh vị.

Vi nhân tiên cẩn hậu lạt

– Mệnh có nhật cư Mùi Thân là người trước thì hái cẩn thận, nhưng sau lạt lẻo Dần và biếng nhác.

345 – Nữ mệnh đoan chính Thái Dương tinh, Tảo phối hiền phụ tính khả bằng.

– Đàn bà Mệnh có Thái Dương cư Miếu vượng địa thì sớm đã gặp chồng hiền hậu, là số vượng phu ích tử, hàng Mệnh Phụ. Nếu lạc vào hãm địa thì bình thường.

IX. – Thái Âm

Miếu: Tí Sửu Hợi

Vượng: Dậu Tuất

Lợi ích: Mùi Thân Dần

Hãm: Mão Thìn Tị Ngọ

346 – Thái Âm cư Tý, Bính Dinh phú quí trung lương.

– Mệnh có Thái Âm cư Tý, người sinh năm Bính Đinh về đêm là hợp cách thì phú quí và trung hậu hiền lương.

347 – Thái Âm đồng Văn Khúc cư Thê cung

Thiềm cung Triết Quế

– Cung Thê có Thái Âm miếu Vượng Văn Khúc chiếu Thân là người làm về Công Nghệ lấy được vợ đẹp con nhà danh giá trâm anh.

348 – Thái Âm Vũ Khúc Lộc Tồn đồng

Tả Hữu tương đồng Phú Quí ông

– Thái Âm Vũ Lộc thủ Mệnh, Tài, Điền, lại có Tả Hữu củng chiếu là cách Giàu có lắm.

349 – Thái Âm Dương Đà, tất chủ nhân lỵ tài tán

– Mệnh cung hai hạn gặp Âm ngộ Dương Dà là chủ tài hao người chết.

350 – Nguyệt lãng thiên môn ư Hợi địa

Dăng Vân chức trưởng đại quyền

– Mệnh có Nguyệt cư Hợi, giữa cung Tuất Hợi là quẻ Kiền, Kiền vi Thiên nên gọi là cách : Nguyệt lãng Thiên môn là đường thang mây nhẹ bước, quyền cao chức trọng trong triều, người sinh năm Tý về đêm thì hợp Cách không quí thì đại phú.

351 – Nguyệt diệu Thiên Lương nữ dâm tham

– Thái Âm ngộ Thiên Lương cư Mệnh ở cung Dần Mão thìn Tị Ngọ phần nhiều chủ dâm tham, hoặc goá bụa, hoặc làm nô tỳ. Nếu gặp được Xương Khúc Tham Lang ở cung Phu thì lấy được chồng thông minh và hiền hậu.

ÂM DƯƠNG CỦNG CHIẾU

352 – Nhật tỵ Nguyệt dậu Sửu chung Mệnh bộ Thiềm cung.

Mệnh an ở cung Sửu Nhật ở Tị Nguyệt ở Dậu củng chiếu là cách Mệnh bộ Thiềm Cung, là Mệnh Di trong cung Trăng Phú – quý cách.

358 – Nhật Mão Nguyệt Hợi, an Mệnh Mùi cung đa Triết quế.

– Được như trên là người tài hoa, có nhiều vợ toàn là con nhà trâm anh thế – phiệt.

354 – Nhật Nguyệt đồng Mùi, an Mệnh Sửu, Hầu Bá chi tài.

– Nhật Nguyệt đồng Cung Mùi, xung chiếu cung Sửu an Mệnh là người có tài làm đến Hầu Bá.

355 – Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi,

Tam phương vô Cát phản vi hung.

– Nhật Nguyệt Thủ Mệnh Thân cư Sửu Mùi mà ba phương không có Cát tinh củng chiếu là trở thành hung.

356 – Nhật Nguyệt thủ Mệnh bất như chiếu hợp tịnh minh.

– Nhật Nguyệt toạ thủ Mệnh không bằng chiếu, hợp tịnh minh.(Nhật Nguyệt đắc địa hợp chiếu là cách Nhật Nguyệt tịnh minh)gia thêm nhiều Cát tinh thì càng tốt, nhiều sao Xấu củng xấu.

357 – Nhật Thìn Nguyệt Tuất tịnh Trang quang Quyền Lộc phi tàn.

– Nhật ở Thìn Nguyệt ở Tuất đều là nơi đắc địa đua nhau sáng chiếu nên toạ thủ hay chiếu hợp Mệnh Thân ắt Quyền Lộc Không bao giờ hết.

358 – Nhật Nguyệt giáp Mệnh, giáp Tài gia Cát diệu, bất quyền tắc phú.

Nhất Mậnh an ở Sửu, Nhật cư Dần, Nguyệt cư Tý là Cách Giáp Nhật Nguyệt nếu được cát diệu nữa là người không có quyền cao chức trọng thì giàu có lắm, giáp cung Tài cũng vậy, nếu bị Dương Đà xung thủ lại xấu lắm.

359 – Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối.

– Như Nhật Nguyệt đồng cung sưủ mùi thì phải biết nhật tốt hay nguyệt tốt đối với người có số ấy. Vậy phải xem giờ sinh, người sinh ban ngày thì Thái Dương tốt, nếu sinh ban đêm thì nên coi sao Thái Âm. Nếu phản bối như nhật ở cung Tuất, nguyệt ở cung Thìn, nhật Hợi nguyệt Tị, nhật Tý nguyệt ngọ, nếu xuất ngoại ly tông ắt thành gia nghiệp nếu không thì đoán ngược lại.

360. – Âm dương Tả Hữu hợp vi giai.

– Nhật Nguyệt toạ thủ hay chiếu mệnh lại có Tả Hữu chiếu thì đẹp đẽ và tốt lắm, nên sợ không vong và Tứ Sát.

361. – Nhật Nguyệt Dương Đà đa khắc thân.

– Nhật Nguyệt gặp Dương Đà thì phần nhiều là khắc cha mẹ.

362. – Nhật Nguyệt hãm cung phùng ác sát, lao toái bôn ba.

– Mệnh có Nhật Nguyệt lạc hãm gia cát sát tinh là người khổ cực bôn ba.

363. – Nhật Nguyệt canh tu tham sát hội.

Nam đa gian đạo, nữ đa dâm.

– Nhật Nguyệt thủ mệnh thân hội với tham sát là trai thì gian trá, gái đa dâm.

364. – Nhật Nguyệt tật nguy, mệnh cung không yếu đa mục cổ.

– Như Nhật Nguyệt an mệnh ở cung tất nguỵ phùng

Không – Vong Tứ Sát Kỵ thì chủ lưng còng, mù mắt, ở cung Mệnh cũng vậy.

IX. – VĂN – XƯƠNG

Miếu : Tị Dậu Sửu

Địa : Thân Tý Thìn

Lợi – ích : Hợi Mão Mùi

Hãm : Dần Ngọ Tuất

365. – Văn – Sương Vũ – Khúc vi nhân đa học đa năng.

– Sương Vũ ở Tứ Mộ, Thân Mệnh an ở cung Mão Dậu Tị Hợi, ba phương chiếu lại có Khoa Quyền Lộc là người học hành uẩn súc tài năng quán Thế.

366. – Văn Khoa củng chiếu Mãi Nghị niên thiếu Khoa đăng.

– Thân Mệnh có Văn Khoa tọa thủ, đắc địa thì như số Mãi – Nghị nhỏ đã đổ cao.

367. – Tả – Phụ Văn – Sương vị chí Tam Thai.

– Mệnh Thân có Tả – Phụ ngộ Văn – Sương là người làm đến Tam Công.

368. – Văn Xương Vũ Khúc ư Thân Mệnh văn vũ kiêm bị.

– Thân Mệnh có Văn Vũ tọa thủ là người Văn Vũ toàn tài như số Tôn Tẫn được cách trên này.

X. – VĂN – KHÚC

Miếu : Tị Dậu Sửu

Vượng : Hợi Mão Mùi

Đắc địa : Thân Tý Thìn

Bình : Dần

Hãm : Ngọ Tuất

369. – Nhị Khúc miếu viên phùng Tả Hữu Tướng Tướng chi Tài.

– Văn – Khúc nên ở cung Tý Mão Dậu, Vũ – Khúc nên ở Tứ Mộ Mệnh có Nhị – Khúc ở cung miếu vượng phùng Tả Hữu là người có Tài làm đến tể tướng.

370. – Nhị Khúc vượng cung, uy danh bách dịch.

– Văn – Khúc ở cung Tý là nhất, ở cung Dậu là thứ

– Vũ – Khúc ở cung Thìn là nhất, ở cung Sửu Mùi là thứ.

Được hai sao trên cư vượng địa thì uy danh lừng lẫy, bách địa vô cùng.

371. – Nhị khúc Tham – lang Ngọ Sửu

Hạn phùng nịch Thủy chi ưu

– Nhị Khúc Tham – Lang ở cung Ngọ, Sửu, hạn gặp cách trên đây ắt sợ chết đuối.

VĂN – SƯƠNG VĂN – KHÚC

372. – Xương Khúc giáp Mệnh tối vi Kỷ

– Như Mệnh an ở cung Sửu, Sương tại Dần, Khúc tại Tý, là cách không quý thì phú, có nhiều sao Tốt chiếu lại là Quí Cách.

373. – Xương Khúc lâm ư Sửu Mùi.

Thời phùng Mão Dậu cận Thiên – Nhan.

– Mệnh có Xương Khúc lâm cung Sửu Mùi, thời đến năm Mão Dậu thì được bệ kiến chầu Thiên – Nhan.

374. – Xương Khúc Tị Hợi lâm.

Bất quí tức đương Đại Phú.

– Mệnh Thân có Xương Khúc cư Tị Hợi là người không Quí tức được Đại Phú.

375. – Xương Khúc cát tinh cu Phúc – Đức

Vị chi Ngọc – Trục Thiên.

– Cang Phúc – Đức có Sướng Khúc cư Miếu Vượng địa thì qui nhu cái Trục Ngọc trên Trời.

376. – Xương Khúc hãm cung hung Sát Phá.

Hư dự chi long.

– Cung Phúc – Đức có Xương Khúc hãm địa lại gia hung Sát Phá là long Mạch hư – hại.

377. – Xương Khúc hãm ư Thiên – Thương.

Nhan Hồi yểu tử.

– Số Nhan – Hồi có Thân cư Mùi có Xương Khúc tọa thủ hãm ư Thiên – Thương nên chết non (32 tuổi chết).

378. – Xương Khúc Kỷ Tân Nhân sinh nhân

Hạn phùng Thìn Tuất lự đầu hà.

– Như hai sao nhập miếu vượng địa thì tốt, đại – hạn đều đến cung Mệnh tọa Thìn Tuất thì ắt phải đâm đầu xuống sông chết đuối, nếu chỉ có một sao thì giảm được nhẹ.

379. – Xương Khúc Liêm – Trinh ư Tị Hợi.

Tao hình bất thiện thả hư khoa.

– Sướng Khúc ngộ Liêm – Trinh tọa thủ Thân Mệnh ở cung Tị Hợi là cung Hãm địa của Liêm – Trinh, là người gian dối khoe khoang hung dữ bị hình tù hay làm nhiều chuyện điên đảo nếu ở hai cung Tý Thân lại là quí cách đẹp đẽ.

380. – Xương Khúc Lộc – Tồn do vi kỳ đặc.

– Mệnh có Xương Khúc ngộ Lộc là người có tài riêng kỳ lạ.

381. – Xương Khúc Phá – Quân lâm Hổ, Thố.

Sát Dương xung phá bôn ba.

– Mệnh cư Dần (Hổ) Mão (Thố) có Xương Khúc ngộ Phá – Quân tọa thủ gia Sát Dương ắt bị xung hại, phá tán bôn ba khổ cực.

382. – Xương Khúc Tả Hữu, hội Dương Đà đương sinh dị trí.

– Có Xương Khúc Tả Hữu hội với Dương Đà cư Mệnh Thân là người có nốt ruồi lạ.

383. – Nữ nhân Xương Khúc thông minh.

Phú quí chỉ đa dâm.

– Nữ Mệnh có Xương Khúc là người thông minh, phú quí, nhưng chỉ đa dâm.

XI. – VŨ – KHÚC

Miếu : Sửu Mùi Thìn Tuất

Vượng : Tý Ngọ

Đắc – địa : Dần Thân

Lợi – ích : Mão Dậu

Bình : Tị Hợi

Không hãm

384. – Vũ Khúc chiều viên uy danh bách dịch.

– Mệnh có Vũ – Khúc ở miếu Vượng địa là người, có uy danh bách dịch, người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, an Mệnh thì kỵ Thìn Tuất Sửu Mùi nếu đóng ở đấy thì bị giảm đi.

385. – Vũ Phá tương Ngộ Xương Khúc phùng.

Thông minh xảo nghệ định vô cùng.

– Mệnh có Vũ Phá ngộ Xương Khúc là người thông minh hoạt bát làm nghề khéo tuyệt mỹ.

386. – Vũ – Khúc Lộc Mã giao Trì, Phát tài viễn quận.

– Mệnh có Vũ Lộc Mã giao nhau là số phát tài xa quê hương.

387. – Vũ Khúc Khôi Việt cư miếu vượng, Tài phú chi quan.

– Vũ Khúc là Tài Tinh ngộ Khôi Việt là quí tinh nên là cách làm quan chức về Tài – Chính.

388. – Vũ – Khúc Thiên – Di cư thương cao mại.

– Cung Thiên – di có Vũ – Khúc tọa thủ là người buôn bán lớn.

389. – Vũ – Khúc Tham – Lang Tài Trạch vị hoạnh phát tứ tài.

– Cung Tài – Bạch hay Điền – Trạch có Tham Vũ tọa thủ ở miếu vượng địa là số Hoạnh phát tài.

390. – Vũ – Khúc Liêm – Trinh Tham Sát, tiện tác kinh thương.

– Mệnh có Vũ – Khúc Tham Sát nên kinh doanh về Thương mại thì tốt.

391. – Vũ – Khúc Tham – Lang gia Sát Kỵ, Kỹ – Nghệ chi nhân.

– Thân – Mệnh có Tham Vũ gia Sát Kỵ, là người làm về Kỹ – Nghệ giỏi như Kỹ – Sư Bác – Vật.

392. – Vũ – Khúc Phá – Quân, phá tổ phá gia lao toái.

– Thân Mệnh có Vũ Phá lạc hãm là người phá Tổ – nghiệp, phá gia – tài, cực khổ.

393. – Vũ – Khúc Phá Liêm ư Mão địa, Mộc áp Lôi kinh.

– Mệnh Thân có Vũ Phá Liêm cư Mão là người bị nhiều sự tai – ương kinh khủng.

Vũ – Khúc là Kim Tinh – Mão thuộc Mộc – Kim khắc Mộc cho nên nói là Mộc bị ép thì Lôi – kinh (là sự khủng – khiếp của Sấm Sét) Mão cũng là quẻ Chấn theo Hậu Thiên Bát – Quái là Chấn vì Lôi. Nên mới nói Mộc áp Lôi kinh.

394. – Vũ Khúc Kiếp Sát hội Kinh – Dương, nhân tài trì đao.

– Mệnh Thân có Vũ – Khúc, Kiếp Sát ngô Kinh – dương là hạng người đao búa, làm giặc cướp.

395. – Vũ – Khúc Dương Đà kiêm Quả – tú, táng Mệnh nhân Tài.

– Mệnh Thân có Vũ ngộ Dương Đà, Quả Tú là người keo bẩn vì tiền mà chết.

396. – Vũ – Khúc chi tinh vi Quả Tú.

– Sao Vũ – Khúc cũng như sao Quả – Tú.

Nếu Nữ Mệnh có Vũ – Khúc tọa thủ là người đàn bà cướp đoạt quyền chồng, như vậy ắt miễn hình khắc, nếu gặp chồng cứng cõi, hai đàng cùng găng ắt chủ hình Khắc Sinh Ly.

XII. – THAM LANG

Miếu : Thìn Tuất Sửu Mùi

Vượng : Tý Ngọ

Lợi – ích : Mão Dậu

Bình : Dần Thân

Hãm : Tị Hợi

397. – Tham – lang ngộ Linh Hỏa Tứ Mộ cung.

Hào Phú gia tứ, Hầu Bá qui.

Mệnh Thân có Tham tỏa thủ ngộ Linh Hỏa ở Thìn Tuất là Thượng cách, ở Sửu Mùi là Thứ cách, là nhà giàu có, được phong đến tước Hầu Bá.

398. – Tham – lang nhập miếu Thọ nguyên Thời

– Mệnh Thân có Tham – lang nhập miếu là số Thọ lắm

399. – Tham – lang hội Sát vô cát điệu, Đồ – Tể chi nhân.

– Mệnh Thân có Tham tọa thủ ngộ Sát tinh là số người làm đồ tể, bán thịt.

400. – Tham – lang Tý Ngọ Mão Dậu

Thử thiết cẩu thâu chi bối

– Thân Mệnh có Tham – lang cư Tý Ngọ Mão Dậu là hạng chó chuột, trộm cắp suốt đời không làm gì được.

Người sinh năm Thân Tý Thìn Mệnh tọa cung Tý

Người sinh năm Dần Ngọ Tuất Mệnh tọa cung Ngọ

Người sinh năm Hợi Mão Mùi Mệnh tọa cung Mão

Người sinh năm Tị Dậu Sửu Mệnh tọa cung Dậu

thì đoán như trên.

401. – Tham – lang gia Cát tọa Tràng Sinh, Thọ khảo vinh như Bành Tổ.

– Như người sinh năm Dần Ngọ Tuất, Hỏa Mệnh Tràng – Sinh cư Dần, Mệnh an ở cung Dần hay cung Thân có Tham – lang tọa thủ Cát tinh là người sống lâu như ông Bành – Tổ.

402. – Tham – lang Tị Hợi gia Sát

Bất vi đồ thi diệc tao Hình.

– Mệnh Thân an ở cung Tị hay Hợi có Tham – lang tọa thủ Sát tinh thì không làm đồ tể, bán thịt, xác chết thì Hình thương khắc hại.

403. – Tham Vũ đồng hành, vãn cảnh Biên – di thần – phục

– Thân Mệnh có Tham Vũ đồng hành tọa thủ ở nơi miếu vượng, ở cung Thìn Tuất thì tốt nhất, Sửu Mùi là thứ cách, về già người người đều thần – phục, kính trọng.

404. – Tham Vũ tiên bần nhi hậu phú

– Mệnh Thân có Tham – Vũ ở miếu vượng địa là số trước nghèo sau giàu sang, nếu hội với Khoa Quyền Lộc và Cát tinh thì về sau được qui hiển

405. – Tham Vũ thân cung vi Hạ cách

– Mệnh an ở cung Thân có Tham Vũ tọa thủ là hạ cách.

406. – Tham lang gia Sát đồng hương, nữ thâu hương, nam thữ thiết.

– Mệnh Thân có Tham – lang gia sát đồng cung, đàn bà là hạng mua phấn bán son, trai là trộm cắp.

407. – Tham Vũ tứ Sinh tứ Mộ cung

Phá – quân Kỵ Sát Bách – Công thông.

– Mệnh Thân có Tham Vũ cư ở Dần Thân Tị Hợi hay Thìn Tuất Sửu Mùi, gia Phá Kỵ Sát là người hay về kỹ – thuật.

408. – Tham lang Vũ – khúc đồng thủ Tuân vô cát, Mệnh phản bất trường.

– Mệnh không có Cát tinh, Thân có Tham Vũ tọa thủ là Yểu – vong hay Cô – bần.

409. – Tham Vũ Phá – Quân vô Cát diệu, Mê luyến Tửu di vong thân.

– Mệnh Thân có Tham Vũ Phá không có Cát tinh là người mê rượu chè đến nổi bỏ mạng.

410. – Tham Nguyệt Đồng Sát hội Cơ Lương.

Tham Tài vô yếm tác kinh thương.

– Mệnh Thân có Tham, Nguyệt, Đồng Sát hợp với Cơ Lương là người tham tài đi buôn bán.

411. – Tham – lang Liêm Trinh đồng bộ

Nam đa lãng đãng nữ đa dâm.

– Mệnh Thân có Tham Liêm tọa thủ, trai thì lêu lổng chơi bời, gái thì đa dâm.

412. – Tham ngộ Dương Đà cư Hợi Tý, Danh vi phạt thủy đào hoa.

– Mệnh Thân có Tham ngộ Dương Đà ở cung Hợi Tý là hạng trai gái mê tửu sắc mà chết.

413. – Tham – lang Đà – la tại Dần cung.

Hiệu viết : Phong lưu thái trượng.

– Mệnh cư Dần có Tham Đà tọa thủ là hạng phong lưu chơi bời mà sinh ra bị hình trượng, đánh đòn.

414. – Nữ Mệnh Tham – lang đa tật đố.

– Mệnh cư tại Hợi Tý ngộ Dương Đà là người đàn bà hay ghen tuông, gia Cát Hóa cũng không tốt.

XIII. – LIÊM – TRINH

Miếu : Dần Thân

Lợi : Thìn Tuất Sửu Mùi

Hãm : Tị Hợi.

415. – Liêm – Trinh Thân Mùi cung vô Sát.

Phú quí thanh dương phiên viễn danh.

– Mệnh Thân có Liêm – Trinh tọa thủ tại Thân Mùi cung không có Sát tinh là cách Phú – quí vinh hiển, thanh danh lừng lẫy, nếu gia Sát lại là bình thường.

416. – Liêm – Trinh Mão Dậu cung gia sát

Công tư vô diệu quan nhân.

– Mệnh Thân có Liêm tọa thủ cư Mão Dậu gia sát tinh là người làm Công Nghệ, không làm quan Chức được.

417. – Liêm – Trinh ám Cư tăng tại tham lam.

– Mệnh có Liêm – Trinh tọa thủ ám hợp với Cư – môn là hạng quan lại, hay nhà sư có lòng tham lam.

418. – Liêm – Trinh Tham Sát Phá – quân phùng Vũ – khúc, Biên di tác Cụ Nhung.

– Thân Mệnh có Liêm Tham Phá Sát ngộ Vũ – Khúc là số quan Võ ở Biên Thùy (sợ gặp Văn – Khúc).

419. – Liêm – Trinh Thất Sát cư miếu – vượng.

Phản vi tích phúc chi nhân.

– Nếu Mệnh Thân có Liêm Sát tọa thủ ở miếu vượng địa là số giàu có Phú – quí, như cư cung Ngọ là cách hiếm có, nếu ở vào hãm địa gia Kỵ lại là tham – lam bần – tiền tàn tật.

420. – Liêm – Trinh Phá Hỏa cư hãm địa, Tự ải đầu hà.

– Mệnh có Liêm Phá ngộ Hỏa lạc hãm là số tự tử treo cổ hay đâm đầu xuống sông.

421. – Liêm – Trinh Thất – Sát cư Tị Hợi, lưu đãng thiên nhai.

– Mệnh có Liêm Sát cư Tý Hợi là lạc hãm là số chơi bời phóng đãng.

422. – Trọng – Do uy mãnh, Liêm – Trinh nhập miếu hội Tướng quân.

– Số Ông Trọng – Do dũng mãnh có uy quyền là Mệnh có Liêm – Trinh nhập miếu hội với Tướng – quân.

Người sinh năm Giáp Mệnh an ở Cung Sửu.

Người sinh năm Ất Mệnh an ở cung Hợi.

Người sinh năm Bính Mậu Mệnh an ở cung Dậu.

Người sinh năm Đinh Kỷ Mệnh an ở cung Dần.

Người sinh năm Canh Mệnh an ở cung Tý.

Người sinh năm Tân Mệnh an ở cung Mão.

Người sinh năm Quí Mệnh an ở cung Thân.

423. – Liêm – Trinh Tứ Sát tao hình lục

– Tứ – Sát là Dương – Đà Linh – Hỏa, Mệnh có Liêm – Trinh tọa thủ hội với Tứ – Sát ắt chung thân bị hình lục.

424. – Liêm – Trinh Bạch Hổ, hình trượng nan đào.

– Lưu niên Thái – Tuế cùng Tiểu – hạn tọa cung lại có Bạch – Hổ gia làm thì chủ Quan – Phi gặp Hình Trượng.

425. – Liêm – Trinh Phá Sát hội Thiên – di Tử ư ngoại đạo.

– Cung Thiên – di có sao Liêm – Trinh Phá Sát ắt chết đường.

426. – Liêm – Trinh Dương Sát cư Quan Lộc.

Giá nữu nan đào.

– Cung Quan – Lộc có Liêm Dương Sát là số không tránh khỏi gông cùm.

427. – Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ.

– Số đàn bà nên có Mệnh được Liêm – Trinh tọa thủ ắt được thanh cao, vinh hiển.

Người sinh năm Giáp Kỷ Canh Quí an Mệnh ở cung Thân Dậu Hợi Tý.

Người sinh năm Bính Tân Ất Dậu an Mệnh ở cung Dần Mão Tị Ngọ.

thì hợp cách như trên, nếu an Mệnh ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi lại là bần tiện.

XIV. – CỰ MÔN

Miếu : Mão Dậu Dần Thân.

Vượng : Tý Ngọ Hợi Tị

Bình : Thìn Tuất

Hãm : Sửu Mùi.

428. – Cự Nhật Dần cung, lập Mệnh thân, Tiên khu danh nhi thực lộc.

– Cự Nhật an ở cung Dần, lập Mệnh ở cung Thân ắt có công danh trước mà hưởng lộc.

429. – Cự Nhật Mệnh cung Dần vị, Thực Lộc trì danh.

– Mệnh cư Dần có Cự Nhật tọa thủ là số được hưởng lộc và công danh.

430. – Cự Nhật thân, lập Mệnh Dần, Trì danh thực lộc

Là số Danh lợi gồm đủ.

431. – Cự – Môn Tý Ngọ Khoa Quyền Lộc

Thạch trung ẩn Ngọc, phúc hưng long.

– Mệnh Thân có Cự – môn cư Tý Ngọ gia Khoa Quyền Lộc là Ngọc ẩn trong đá, Phú quí song toàn.

Người sinh năm Tân Quí là thượng cách, sinh năm Đinh Kỷ là thứ cách, sinh năm Bính Mậu chủ đàn ông thì tốt.

432. – Cư Nhật Mệnh lập thân cung diệc diệu.

– Mệnh an ở cung Thân có Cư Nhật tọa thủ cũng còn tốt, nhưng thường thôi vì Nhật cư Thân, là Mặt trời hoàng hôn, gần hết sáng.

433. – Cự tại Hợi cung Nhật Mệnh Tị, Thực lộc trì danh.

– Mệnh an ở Tị có Cự ở Hợi, Nhật ở Tị hai sao đều được ở vượng địa nên danh lợi đều có cả.

434. – Cự tạy Tị cung, Nhật Mệnh Hợi, Phản vi bất giai.

– Cách này ngược lại cách trên 433 như vậy ắt không vui đẹp, phản bối cách.

435. – Cự Nhật củng chiếu diệc vi kỳ.

– Như Nhật ở cung Ngọ, Cự ở cung Tuất, Mệnh cư Dần thì tốt, Nhật kỵ hãm địa.

436. – Cự Cơ Mão Dậu Ất Tân Kỷ Bính chí Công – Khanh.

– Mệnh an ở Mão có Cự Cơ tọa thủ, người sinh năm Ất Tân Kỷ Bính làm đến Công Khanh, người sinh năm Giáp thì chỉ bình thường là vì sao? Nhân vì Giáp thì có Lộc – Tồn cư Dần, Mãi có Kinh – Dương ngộ Cự Cơ ở Mão là Phá cách vậy.

437. – Cự Cơ Dậu thượng hóa Cát giả.

Túng hữu Tài quan dã bất chung.

– Mệnh an ở Dậu Cự Cơ tọa thủ hội với Cát tinh, tuy có tài quan nhưng không trọn đời, nếu bị cô bần thì sống lâu, Cự phú tất yểu – vong, gia Hóa – Kỵ lại càng hung.

438. – Cự – Môn Thìn cung Hóa – Kỵ,

Tân nhân Mệnh ngộ phản vi Kỷ.

– Cự – Môn ở cung Thìn thủ Mệnh gia Hóa – Kỵ, người sinh năm Tân ngược lại thành ra là tốt lạ kỳ.

439. – Cự – Môn Sửu Mùi vi Hạ cách.

– Cự – Môn thủ Mệnh Thân ở cung Sửu Mùi là Hạ cách.

440. – Cự – Môn Dà – La tất sinh dị trí

– Cự – môn gặp sao Dà – La thủ Mệnh ắt người có nốt ruồi lạ.

441. – Cự – Môn Dương Đà ư Thân Mệnh, Tật nguy.

Lỏa hoàng, khốn nhược đạo nhi sương

– Cự – Môn thủ Mệnh Thân ngộ Dương Đà, hay cung Tật – nguy cũng thế là người bịnh hoạn rỗ tóc kết, khốn khổ, suy nhược, là tụi ăn cắp hay ca nhi.

442. – Cự Môn Tứ Sát hãm nhi hung.

– Cự – Môn ngộ Tú – Sát ở hãm địa thì hung lắm.

443. – Cự Hỏa Kinh – Dương Đà phùng ác diệu,

Phòng ải – Tử đầu – Hà

– Cự – Môn gặp Hỏa Dương Đà và Ác tính nữa thì hung lắm, hạn gặp ắt thắt cổ hay đâm đầu xuống sông tự tử.

444. – Cự Hỏa Linh – Tinh phùng ác hạn. Tử ư ngoại đạo.

– Cự – Môn Hỏa Linh thủ Thân Mệnh, hạn gặp Ác tinh ắt chết đường.

445. – Cự Tú Thiên – Cơ vị phá đãng.

Đàn bà Mệnh có Cự Cơ Mão Dậu tuy Phú – quí mà không khỏi dâm dật, nếu ở Hãm địa lại là Hà – Tiện.

XV. – THẤT SÁT

Miếu : Dần Thân Thìn Tuất Sửu Mùi.

Vượng : Tý Ngọ Mão Dậu

Bình : Tị Hợi

Vô hãm.

446. – Thất – Sát Dần Thân Tý Ngọ, Nhất sinh tước lộc vinh – sương.

– Cũng gọi là cách Thất – Sát chiều Dẩu cách, Thất – Sát ở cung Miếu Vượng thì Phú quí suốt đời tước lộc vinh sương.

447. – Thất – Sát Phá – Quân chuyên y Dương – Linh chi Hư.

– Sát ngộ Phá thì sự Hung hại cũng như Dương – Linh.

448. – Thất – Sát Liêm – Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi.

– Sát Liêm đồng vị lạc hãm là số chết đường Liêm ngộ Hao ở Thiên – Di cũng vậy, nếu lại gặp Kỵ Dương Đà thì lại càng hung.

449. – Thất – Sát Phá – Quân nghi Xuất – ngoại,

Chư ban thủ nghệ bất năng tinh.

– Mệnh Thân có Sát Phá nên Xuất – ngoại, xa quê hương là người không tinh một nghề nào cả.

450. – Thất – Sát lâm Thân Mệnh, lưu niên Hình Kỵ tại thương.

– Mệnh Thân có Sát tọa thủ, hạn gặp Hình Kỵ ắt bị tai thương nếu gặp Tử – Vi, Thiên – Tường Lộc – Tồn thì giải được.

451. – Sát lâm tuyệt – địa hội Dương Đà.

Nhan – Hồi Yểu – Triết.

– Sát cư nơi Tuyệt địa gặp Dương – Dà, hạn gặp ắt chết như thầy Nhan – Hồi.

452. – Thất – Sát trong phùng Tứ – Sát.

Yểu đà bối khúc, trận trung vong.

– Sát ngộ Dương Đà Hỏa – Linh lạc hãm ắt bị tật nguy, lưng đau gấp khúc, lâm trận địa ắt chết.

453.– Thất – Sát Hỏa Dương bần thả tiện. Đồ – tể chi nhân.

– Sát ngộ Hỏa Dương tọa Thân Mệnh là hạng bần tiện, nếu ở nơi Sinh hương là làm Đồ tể.

454.– Thất – Sát Dương Linh, lưu niên Bạch – Hổ, Hình lục tai độn.

– Thân Mệnh có Sát Dương Linh tọa thủ, nhị hạn gặp Bạch – Hổ ắt bị tai ương hình lục.

455.– Thất – Sát lưu Dương nhị Quan – phù, Ly lương tao phối.

– Sát tọa Thân Mệnh, lưu hạn có Dương, Quan – phù, thì xa bỏ quê hương gặp sự phối hiệp tao phùng.

456.– Thất Sát thủ chiếu, tuế – hạn Kình – Dương, Ngọ sinh nhân, Mệnh an Mão Dậu cung chủ Hung vong.

– Tuế hạn có Thất – Sát thủ chiếu, lưu niên đến là Lưỡng Sát trùng phùng, người sinh năm Ngọ, Mệnh an Mão Dậu là chủ Hung vong.

457.– Thất Sát trầm ngâm phúc bất Vinh.

– Cung Phúc – Đức có Thất – Sát ắt không được vinh hiển, trai thì có uy quyền, gái thì không ai ưa.

458.– Thất – Sát lâm Thân chung thị yểu.

– Thất – Sát tọa thủ Thân lạc hãm ắt chết non.

459.– Thất – Sát đơn cư Phúc đức.

Nữ nhân thiết kỵ tiện vô nghi.

– Có một mình sao Thất – Sát cư cung Phúc – Đức số đàn bà thì tối Kỵ, nếu có là số bần – tiện.

XVI. – PHÁ QUÂN

Miếu : Tý Ngọ

Vượng : Thìn Tuất Sửu Mùi

Hãm : Dần Thân

Bình : Tị Hợi

460.– Phá Quân Tý Ngọ cung Vô Sát.

Quan tứ thanh hiển chi Tam Công.

– Mệnh Thân có Phá – quân cư Tý Ngọ không gia Sát tinh là người làm Quan đến Tam Công, nhiều bổng lộc, thanh – hiển phú – quí. Ngừơi sinh năm Giáp Quí là hợp cách năm Đinh Kỷ là thứ cách, năm Bính Mậu là khốn cùng.

461 Phá – Quân Tham – lang phùng Lộc Mã.

Nam đa lãng đãng nữ đa dâm.

– Mệnh Thân có Phá Tham đồng vị gặp Lộc Mã tuy có Lộc mã giao – trì là kiếm được nhiều tiền một cách dễ dàng nhưng không kiềm chế được tính cách Phá – quân, nên trai thì lêu lổng chơi bời phá tán, nữ thì đa dâm.

462.– Phá – quân ám hợp Đồng Lương. Thủy chung tác trác.

– Như Thân Mệnh có Phá – quân tọa thủ ở cung Dậu có Đồng Lương ở cung Thìn ám hợp, là cách Mài Ngọc trong nước, sau ắt vinh hiển nhưng vẫn có tính tiêu xài rộng rãi những việc đáng mua bán.

463.– Phá – Quân Hỏa Linh, bôn ba lao toái.

– Phá – quân không hợp với Hỏa – Linh như Tham – lang cho nên nếu gặp là người bôn ba khổ cực.

464. – Phá Quân nhất diệu tính nan minh.

– Mệnh cung có một mình Phá Quân tọa thủ là người không sáng suốt, phá tán không suy xét.

465.– Phá Hao Dương Linh Quan Lộc – vị.

Dáo sứ khất cầu.

– Cung Quan – Lộc có Phá, Hao Dương Linh là số ăn mày, suốt đời nghèo khổ (muốn đoán chắc phải xem Tham – lang tại Tý Ngọ Mão Dậu, xem hãm vượng ra sao mà đoán).

XVII. – DƯƠNG – NHẬN

hay KÌNH – DƯƠNG

Miếu : Thìn Tuất Sửu Mùi

Đắc địa : Dần

Hãm : Tý Ngọ Mão Dậu.

466.– Kình – Dương nhập Miếu, Phú – Quí thanh dương.

– Có Cát tinh chiếu thì mới đoán là Phú – quí thanh dương.

467.– Dương Hỏa đồng cung, Uy – quyền áp chúng.

– Như Mệnh Thân có Dương Hỏa đồng cung tọa thủ ở Tứ Mộ ắt là người có uy quyền người người phải khuất phục, Mệnh ở Thìn Tuất thì tốt nhất, ở Sửu Mùi là thứ.

468.– Kình Da Linh Hỏa thủ Thân Mệnh.

Yếu đà bối khúc chí nhân.

– Tứ Sát mà thủ Thân Mệnh là người gù lưng, lạc hãm thì đại hung, vất vả nghèo khổ.

469.– Kình – Dương Tý Ngọ Mão Dậu

Phi yểu triết nhi hình thương.

– Ở cung Ngọ thì hung, ở Mão thì thứ chi, Tị Dậu thứ chi. Nếu được cách Mã đầu đái kiếm lại có nhiều Cát tinh lại chở lại có uy – danh lẩm – liệt.

470.– Kình – Dương phùng Lực – Sĩ, Lý – Quảng nan phong (trên đã giải).

Người sinh năm Giáp Mệnh ở cung Mão.

Người sinh năm Bính Mệnh ở cung Ngọ.

Người sinh năm Canh Mệnh ở cung Dậu.

Người sinh năm Nhâm Mệnh ở cung Tý.

Nhiều sao tốt chiếu hợp thì bình thường, gia Sát thì hung.

471.– Dương – Đà Hoả Linh phùng Cát phát tài, Hung tắc Kỵ.

– Mệnh Thân có Tứ – Sát lâm vào, ngộ Cát tinh lại là phát tài kỵ nhất là có thêm hung tinh.

472.– Dương Linh tọa Mệnh, lưu niên Bạch – Hổ tai thương.

– Mệnh có Dương Linh mà tiểu – hạn gặp Bạch – Hổ thế nào cũng bị tai ương, thương tổn.

473.–Kình – Dương đối thủ tại Dậu cung.

Tuế dật Dương Đà Canh Mệnh hung.

– Mệnh có Dương Đà tọa thủ ở cung Dậu, lưu niên tiểu – hạn gặp cung Mệnh ngộ Dương Đà, người sinh năm Canh thì Mệnh hung lắm, nếu không có sao Cứu – trợ chắc chết.

474.– Dương Đà giáp Kỵ vi Bại cục.

– Như an Mệnh ở cung Thân lại phùng Kỵ Tinh, Dương tại Dậu, Đà tại Mùi, Giáp Mệnh là bị nghiêng nghèo hai hạn đi đến đó thì bị cô bần hình khắc, tuy Mệnh có Lộc – Tồn tọa thủ không có Cát tinh đồng viên ắt cũng bị tai ương hung họa.

475.– Dương Đà lưu niên Linh Phá, diện tự han lạng nhất, Kình – Dương Hỏa – tinh vi hạ cách.

– Mệnh có Dương Đà, lưu niên gặp Linh Phá thì mặt mày bị bệnh loang lổ, lại gặp Dương Hỏa là hạ cách, bần yếu.

476.– Kình – Dương trùng phùng lưu, Dương tây thí khuynh vận thân.

– Tuế hạn trùng phùng Kình – Dương cư Thân Mệnh tại cung Dậu ắt là tự vận chết.

XVIII. ĐÀ – LA

Miếu : Thìn Tuất Sửu Mùi

Hãm : Dần Thân Tị Hợi

477.– Đà – La Tị Hợi Dần Thân, Phi yểu – triết nhi hình thương.

– Mệnh có Đà – La tọa thủ ở Tị Hợi Dần Thân thì không chết non cũng bị hình thương khắc lại, có thể ly tổ xuất ngoại thì thành cơ – nghiệp, nếu Mệnh có Cát Chính – Tinh thì chủ người Phá – tướng.

XIX. – HỎA TINH

Miếu : Dần Ngọ Tuất

Địa : Tị Dậu Sửu

Lợi ích : Hợi Mão Mùi

Hãm : Thân Tý Thìn

478.– Hỏa linh tượng ngộ đa chấn chư Bang.

– Hỏa Linh thủ Thân Mệnh cư Miếu Vượng địa là Hung tinh đắc – địa phát dã như lôi, làm tướng tài trấn giữ các nước.

479.– Hỏa Linh giáp Mệnh vi Bại cục.

– Như Mệnh an tại Dần, Hỏa tại Sửu, Linh tại Mão, nhiều sao tốt hợp chiếu Mệnh thì còn đỡ, Giáp kỳ thì Hung, Tuế – Hạn đi đến cung đó thì cũng tốt không ngại.

XX. – LINH – TINH

Miếu : Dần Ngọ Tuất

Địa : Thìn Tị Mùi &nb sp;(Đông Nam)

Hợi : Tý Hợi Dậu Sửu (Tây Bắc)

480.– Hỏa Linh vượng cung, diệc vi Phúc luận.

– Mệnh Thân có Hỏa linh tọa thủ ở vượng miếu địa cũng là Cách quí, phải luận là Phúc không phải Hung Họa.

481.–Kình – Dương Hỏa Linh vi hạ cách.

– Mệnh Thân số đàn bà gặp ba sao Kinh Hỏa Linh ở miếu vượng địa còn khá, nếu lạc hãm là hạ tiện, bần – cùng yểu – triết.

XXI. – XXII. – KHÔi VIỆT

482.– Khôi Việt giáp Mệnh vi kỳ cách.

– Như Mệnh an ở cung Thìn, Khôi ở Mão, Việt ở Tị là quí cách.

483.– Khôi Việt Mệnh Thân đa Triết Quế.

– Như tọa ngay cung Thân Mệnh thì tốt diệu, ở ba phương chiếu lại thì thứ chi, là người lấy được vợ con nhà trâm – anh, hạn gặp hay gặp nhiều sự may mắn lại có kỳ duyên hội ngộ với những người nhà thế – phiệt trâm – anh.

484.– Khôi Việt, Xương Khúc Lộc – Tồn phù

Hình Sát vô xung Thai – phụ quí.

– Mệnh Thân có những sao trên tọa thủ ở nơi miếu vượng địa là Cách rất quí, làm đến Tam Công, nếu ở ba cung chiếu lại thì thứ cách, gặp Hình Sát tương xung thì lại bình thường.

485.– Khôi Việt trùng phùng Sát thấu.

Cố tật vưu đa.

– Mệnh Thân có Khôi Việt tọa thủ gia Hình Sát là người có nhiều bệnh không chữa được.

486.– Khôi Việt phụ tinh vi Phúc Thọ.

– Khôi Việt ở tại Mệnh Thân hay các cung khác là Phúc Thọ song toàn.

XXIII. – XXIV. – TẢ – PHỤ HỮU – BẬT.

487.– Tả Hữu Giáp Mệnh vi Quí Cách.

– An Mệnh tại Sửu, Tả tại Tý, Hữu tại Dần người sinh tháng 4 Tả Hữu ở Mùi xung chiếu, sinh tháng 12 thì Tả ở Sửu, Hữu ở Tý thì được Quí cách nếu không Quí thì đại phú.

489.–Hữu – Bật Tả – Phụ chung thân phúc – hậu.

– Tả Hữu cư Mệnh hay cung Thiên – di thì chung thân được phúc hậu, ở ba cung hợp chiếu là thứ cách.

490.– Tả Hữu đồng cung phi la y tử.

– An Mệnh ở cung Thìn Tuất người sinh tháng Giêng, tháng 7.

An Mệnh cung Sửu người sinh tháng 9 (Tả Hữu giáp cũng vậy).

An Mệnh Cung Mùi người sinh tháng 4 (Tả Hữu đồng cung).

An Mệnh cung Mão người sinh tháng 6 (Tả ở Dậu, Hữu ở Tị).

An Mệnh cung Hợi người sinh tháng 9 (Tả ở Tý, Hữu ở Dần).

Những người được cách như trên này gia Cát Hóa là cách đại quí làm đến Đại Thần (mặc áo màu tía) nếu ở ba phương lại không luận như vậy.

491.–Tả Hữu đơn thủ chiếu Mệnh cung. Ly tông thứ xuất.

– Thân Mệnh vô chính diệu gặp Tả Hữu là người phải xa quê hương, là bậc thứ dân xuất thân. Nếu ba phương hợp lại có Tử – Phủ Vũ Tướng lại càng tốt lắm.

492.– Tả Hữu Trinh Dương tao hình đạo nhất.

Tả Hữu Xương Khúc phùng Dương – Đà dương sinh ám Chí.

– Mệnh Thân có Liêm – Trinh phùng Tả – Hữu gia Kình – Dương nữa là người hay bị bệnh phạt tổn thương.

Có Tả Hữu thủ Mệnh gặp Xương Khúc Dương Đà là người sinh ra đã có rất nhiều nốt ruồi kín.

493.–Tả Hữu Tài Quan kiêm giáp củng, Y Lộc phong dinh.

– Cung Tài Bạch hay Quan – Lộc có Tả Hữu tọa thủ, giáp hay chiến đều là số ăn mặc no đủ, phong túc.

494.–Tả Hữu Khôi Việt ư Phúc Thọ.

– Bốn sao trên cư tại cung Mệnh thì luận Phúc Thọ song toàn, nếu đàn bà gặp thì Vượng phu Ích tử.

495.– Hữu – Bật Thiên – Tướng phúc lai lâm.

– Hai sao trên an vào cung nào cũng đều là Phúc cả, duy ở cung Sửu Mùi Hợi thì không quí, có cũng không bền, nếu ở cung Mão Dậu thì ít khi được xứng tâm tọai ý.

XXV. – LỘC TỒN

496.– Lộc – Tồn thủ ư Tài Trạch, Tích ngọc mai Kim.

– Cung Tài – bạch hay Điền – Trạch có Lộc – Tồn tọa thủ là số giàu có, có vàng chôn ngọc cất, ở tại mệnh Thân cũng vậy nếu hội với Khoa Quyền Lộc lại càng mau.

497.–Lộc – Tồn Tý Ngọ vị Thiên – Di, Thân Mệnh phùng chi lợi Lộc nghi.

– Cung Thiên – Di ở Tý Ngọ có Lộc – Tồn tọa thủ, hay ở Thân Mệnh là số người giàu có tài lợi đều nên.

498.–Minh Lộc ám Lộc vị chí Công Khanh.

– Như Thân Mệnh cư Mão có Lộc – Tồn tọa thủ, hợp với cung Tuất có Hóa – Lộc là cách trên thì làm đến Công hầu Khanh tướng.

499.–Song Lộc trùng phùng chung thân phú quí.

– Mệnh Thân hay Tài Trạch có Song Lộc trùng phùng là suốt đời Phú quí vinh hoa, không nên gặp Không Vong Hung Sát.

500.– Lộc phùng sung Phá, Cát dã thành Hung.

– Nếu lại gặp xung Phá, thì là Cách tốt nhưng trở lại thành hung.

500 ). – Song Lộc thủ Mệnh, Lã – Hậu chuyên quyền (trên đã giải).

501.–Lộc Tồn trọng hậu da y Lộc.

– An ở các cung đều là đáng phúc, gây nên sự nghiệp Phú quí, vượng Tài – Lộc.

XXVI. – THIÊN MÃ

502.– Lộc Mã tối hỉ giao Trì.

– Thiên Mã ngộ Lộc – Tồn cư Thân Mệnh, hay gặp Sát Tinh Dương Hoả, Triệt – Lộ Không – Vong trái lại bị nhiều sự lao tâm khổ trí.

502.– Thiên – Mã Tứ Sinh Thê cung

Phú quí hoàn dương phong tặng.

– Cung Thê an ở Dần Thân Tị Hợi có Thiên – Mã tọa thủ là số Phú quí được phong tặng.

503.–Mã ngộ Không – Vong chung Thân bôn tẩu.

– Thiên – Mã cư Thân Mệnh bị Triệt, là chung thân bôn tẩu, phải ly tổ xuất ngoại thì được tốt.

XXVII – XXVIII – KHOA QUYỀN LỘC

504.– Khoa Quyền Lộc hợp, phú quí Song toàn.

– Lộc – Tồn gọi tắt cũng là Lộc, Lộc hội với Hóa – Lộc là song Lộc (hai Lộc) người Mệnh có Song Lộc không bị Hung Sát thì phú quí song toàn, hội với Cự Khúc ở cung Tuất thì đương danh. Hóa – Khoa hội với Khôi Việt thì được Quí Hiển an tại cung Mệnh thì cực tốt, ở hai cung hợp chiếu là thứ cách. Nếu lại gặp nhiều hung tinh tuy tốt nhưng ví như Ngọc quí có tỳ vết vậy.

505.– Lộc Quyền Mệnh phùng kiêm hợp Cát.

– Mệnh Thân có Lộc Quyền tọa thủ lại hội với Cát tinh là người có quyền cao chức trọng, trong triều là hàng Đại thần Tể – Tướng.

506.– Quyền Lộc trùng phùng Tài Quan song mỹ.

– Luận ba phương có nhiều Cát tinh cũng chiếu nữa thì Tài quan song mỹ, nếu gặp nhiều hung tinh thì không mỹ mãn.

507.– Khoa Mệnh Quyền chiếu, đăng chung Giáp – Đệ

– Cung Mệnh có Hóa – Khoa tọa thủ lại có Quyền hay Lộc chiếu lên thì tốt lắm là cách lộc phùng nghinh (gặp Lộc hay Quyền nghinh tiếp) ắt đỗ cao Khoa Giáp – Đệ.

508. – Hoạt Lộc Tý Ngọ vị Thiên – Di, Phu – Tử văn chương quán thế.

– Cung Thiên – Di có Lộc cư Tý Ngọ là cách đối diện chiếu Đẩu. Mệnh có Thái Dương, Hóa – Lộc tại cung Ngọ là số đức Phu – Tử văn chương quán thông Thế – hệ, ở các cung khác thì xem các sao cát hung hội chiếu mà đoán.

509.– Khoa Lộc giáp vi Quí Cách.

– Như Mệnh ở cung Tý, Khoa ở Hợi, Lộc ở Sửu là cách Khoa Lộc giáp là Quí cách, ở các cung khác cũng vậy.

510.–Quyền Lộc trùng phùng Sát thấu, Hư dự chi Long.

– Như Quyền Lộc trùng phùng có nhiều Sát tinh là cách có tiếng không miếng, trong đom đóm ngoài bó đuốc. Nếu gặp ắt ở cung Phúc Đức là long – mạch hư giả không thực, ắt Mộ không kết.

511.– Khoa danh hãm ư hung thần, Miêu nhi bất tú.

– Như Nhật ở cung Tuất thủ Mệnh, Nguyệt ở cung Mão, Hóa – Khoa ở hãm địa hoặc lại gia Dương Đà Không Kiếp là như có Mầm mà không tươi tốt.

512.– Lộc chủ triền ư nhược địa, Mệnh bất chủ Tài

– Như Lộc cư cung Giải – Ách. Nô, Huynh là nhược địa ắt không có ảnh hưởng đến Mệnh Thân nên nói Mệnh không chủ Tài Lộc.

513.– Quyền Lộc thủ Tài, Phúc chi vị. Sứ thế Vinh – Hoa.

– Như cung Tài – Bạch, Phúc – Đức có sao Quyền Lộc ắt được Vinh – Hoa Phú – Quí.

514.–Quyền – Lộc Cát tinh Nô – Bộc vị,

Túng nhiên quan quí đã bôn ba.

Như cung Nô – Bộc có Quyền Lộc và Cát tinh hội chiếu, cung Nô – Bộc hợp với cung Quan – Lộc (như Quan cư Ngọ, Nô cư Mùi, hay Quan Tý Nô cư Sửu) thì cũng có Quan – quyền quí – hiển nhưng vất vả long đong.

XXX. – XXXI. – KIẾP KHÔNG

515. – Kiếp Không giáp Mệnh vi bại cục.

– Như Mệnh an ở Hợi, Kiếp tại Tý, Không tại Tuất, tuế – hạn đi đến đó thì hung hại, giáp Tý cũng hung là cô – bần hình – khắc.

516. – Kiếp Không lâm hạn, Sở – Vương táng quốc, Duyên – Châu vong

– Hạn gặp Kiếp Không là như Sở – Vương Hạng – Vũ mất nước và kinh thành Duyên – Châu.

517.– Sinh sứ Kiếp Không, do như bán Thiên Triết – Sĩ

– Mệnh Thân có Kiếp Không tọa thủ là như chim bay giữa trời gãy cánh.

518. – Kiếp Không lâm Tài Phúc chi hương, Sinh lai bần – tiện.

– Như cung Tài, Phúc có Kiếp Không tọa thủ là số Bần – Tiện.

XXXII. – XXXIII. – THƯƠNG SỨ

519.– Thiên – thương gia Ác – diệu

Trọng – Ni tuyệt lương, Đặng – Thông vong.

– Hạn gặp Thiên – Thương ngộ ác tinh như Đức Phu – Tử bị tuyệt lương ở nước Trần, hay như Đặng – Thông bị chết.

XEM CUNG MỆNH

520.– Tam giáp Mệnh hung, lục giáp Cát

– Tam giáp Mệnh hung là Kiếp – Không, Hỏa Linh và Dương Đà.

– Lục giáp cát: Tử – Phủ, Tả – Hữu, Xương – Khúc, Khôi – Việt, Khoa – Quyền – Lộc, Nhật – Nguyệt.

Còn những trung – cách giáp như:

Long – Phượng, Thai – Tọa, Cáo – Phụ.

Cung Mệnh được nhiều sao xấu ít sao tốt tuy tốt mà hung, nhiều Sao tốt ít xấu là tuy xấu mà tốt. Xem cung Mệnh ở ba phương hợp có sao tốt xấu, miếu vượng hay lạc hãm mà đoán.

521. – Mệnh vô chính – diệu, nhị Tính diên Sinh

– Người Mệnh mà không có chính – diệu là người khó nuôi, một là phải bán cho họ khác, hai là nhận kế mẫu làm mẹ, ba là con thứ mẫu.

522. – Mệnh phùng Cát diệu, Tùng Bách thanh tú di nan điêu.

Mệnh có nhiều Cát tinh ví như cây Tùng cây bách to lớn xanh tốt khó lòng mà tàn tạ, nên kỵ Thái Tuế đóng ngay cung Mệnh gặp Thái Tuế ở hai hạn còn không lợi nữa là ngay cung Mệnh nếu có ắt hung.

523. – Mệnh phùng hung diệu, Liều lục, Đào hồng nhi dị tạ.

Mệnh gặp hung tinh như cây liễu xanh, đào hồng màu tàn cỏ lả.

Mệnh gặp hung tinh mà hạn gặp được sao miếu vượng thì phát, hạn gặp hung tinh lạc hãm tất hung lắm.

524. – Mệnh thực vận sinh, như tảo miếu đắc vũ.

– Như Mệnh bình thường, ba phương có sao tốt, gặp đến hạn tốt ắt được phúc, như mầm non gặp mưa tưới.

525. – Mệnh suy vận nhược như nộn thảo nhi tao sương

– Như Mệnh tọa nơi hãm kỵ, Hạn lại gặp Ác Hung tinh ắt bị bình thường vong khắc.

526. – Mệnh hữu Cát tinh Quan sát

– Mệnh có sao tốt gặp sao Quan – Phủ và Tứ Sát tọa hay ở đối cung là người cũng vào hàng Quan chức nhưng lao đao cực khổ.

CUNG THÂN

527.– Tam giáp Thân hung, Lục giáp Cát

(Tiên cung Mệnh đã giải)

528.– Thân Mệnh câu Cát, Phú quí song toàn

– Thân Mệnh đều có Cát tinh ắt là số người suốt đời Phú quí song toàn.

529.– Thân Cát Mệnh hung diệc vi mỹ luận

– Mệnh hung mà Thân được Cát tinh Miếu vượng thì luận về già được mỹ mãn đẹp đẽ.

530. – Mệnh nhược, Thân cường, Tài nguyên bất tụ

– Mệnh mà suy nhược Thân ở cường cung tuy kiếm được tiền của nhiều nhưng bản Mệnh suy kém không đủ lực giữ được tiền tài, như nước đầy tràn trong hồ, đất hồ sành ắt có ngay bể vỡ, không như trong hồ gang hồ thép vững chắc ắt giữ nước được lâu.

531.– Tham Vũ thủ Thân vô Cát Mệnh

Phản bất vi Lương

– Thân có Tham Vũ tọa thủ là sao Tài tinh nếu không có Cát Mệnh tức như ví dụ trên số 530 ắt trở lại bị tan vỡ không lánh vậy.

XEM NẠP ÂM

(Phải coi bảng Trường Sinh)

532. – Nạp âm Mộ khố khán hà cung?

– Như người sinh Thủy Mệnh, Khố là cung Thìn có Tài quan ở đó, hoặc Lộc Tồn lại càng tốt hơn. Nếu cung Thiên di ở đó lại phùng Hao Sát là bất mỹ.

Tuyệt: Tuyệt địa. Trường Sinh: sinh địa. Mộc dục: bại địa. Đế vượng: Vượng địa

BẢNG TRƯỜNG SINH MỆNH THUỘC

Ở cung Kim ; Mộc &n bsp; Hỏa Th 911;y Thổ

Tý Tử &n bsp; Mộc ; Thai Vư ợng

Sửu Mộ & nbsp; Quan &nb sp; Dưỡng ; Suy

Dần Tuyệt &nbs p; Lâm & nbsp; Sinh B 7883;nh

Mão Thai ; Vượng & nbsp; Mộc &nbs p;Tử

Thìn Dưỡng &nbs p; Suy & nbsp; Quan M 7897;

Tị Trường sinh Bịnh &nbs p; Lâm Tuyệt

Ngọ Mộc dục Tử & nbsp; Vượng &nb sp;Thai

Mùi Quan đái Mộ &n bsp; Suy DưO 05;ng

Thân Lâm – quan Tuyệt Bị ;nh Sinh

Dậu Đế vượng Thai &nbs p; Tử M& #7897;c

Tuất Suy ; Dưỡng& nbsp; Mộ ; Quan

Hợi Bịnh ; Sinh & nbsp; Tuyệt &n bsp;Lầm

533.– Sinh phùng bại địa phát đã hư hoa

– Như Nạp – âm theo năm sinh là Thủy Thổ thì Tràng Sinh ở cung Giáp Thân (Thân thuộc Kim là chủ cung Thủy) nếu an Mệnh ở cung Dậu là bại địa lại gặp Dương Đà kỵ Hao Thất Sát thì bất mỹ được Lộc – Tồn thì cũng được tốt nhưng không bền như cái Hoa sáng nở tối tàn.

534. – Tuyệt sứ phùng Sinh, Hoa nhi bất hại

– Như người sinh Thuỷ Thổ Mệnh, Tuyệt tại cung Tị, an Mệnh ở cung Mệnh là Tuyệt – sứ, được Kim Tinh tại Tị sinh Thủy thành ra phương vị không bị tuyệt, mỏng mảnh như cái Hoa mà không bị tàn tạ.

TÀI – BẠCH

535. – Nhật Nguyệt giáp Tài gia Cát diệu, bất qui tắc phú

– Như cung Tài – Bạch tại Cung Mùi, có sao Thiên – Phủ ở đó, Nhật ở cung Ngọ, Nguyệt ở cung Thân giáp Tài thì không qui ắt đại phú.

536. – Tả Hữu Tài cung kiêm giáp củng, y lộc phong long

– Như Tả Hữu cùng ở cung Tài – Bạch tại Sửu cung Nhật ở cung Dần, Nguyệt ở cung Tý giáp Tài – Bạch, là Tài lộc nhiều.

537. – Tử Vi Phụ – Bật đa vi tài phú chi quan.

– Như cung Tài Trạch có Tử – Vi tọa thủ ngộ Phụ Bật là người làm Quan lớn về Tài – chính.

538.– Vũ Khúc Thái Âm đa cư Tài phú nhi nhậm

– Cung Tài, Trạch có Vũ – Khúc gặp Thái – âm đã có nhiều trách nhiệm về Tiền – tài như số các ông Chủ Nhà Băng.

539. – Tử – Phủ Vũ – Khúc cư Tài – Bạch canh kiêm Quyền Lộc, Phú – Xa – Ông

– Cung Tài – Bạch có Tử – Phủ Vũ – Khúc tại gia Quyền Lộc là số nhà Đại Phú

540.–Vũ – Khúc Tham – lang Tài – trạch, hoạch phát tứ tài

– Cung Tài – Trạch có Tham Vũ là số người có Tài lợi hoạch phát, tự nhiên có ở đâu mang lại. Như các nghề Tự do như Kiến trúc sư, Luật sư, Bác sĩ, Họa sĩ.

Cách trên chỉ Kỵ Không – vong không nên gặp.

541. – Lộc – Tồn thủ ư Tài, Trạch mai Kim tích ngọc

– Cung Tài, Trạch có Lộc – Tồn tọa thủ là người giàu có vàng chôn ngọc cất.

TÀi, PHÚC

542. – Quyền Lộc thủ Tài, Phúc chi vị, Xuất thế Vinh – Hoa

– Cung Tài – Bạch, Phúc – Đức có Quyền – Lộc tọa thủ, là người vinh hiển hơn đời.

543. – Kiếp Không lâm Tài,, Phúc chi hương sinh lai bần tiện

– Cung Tài Bạch, Phúc Đức có Kiếp Không tọa thủ là người sinh ra đã bần tiện

544. – Cốt yếu của Mệnh – Số

– Xem Thân Mệnh Lộc – Mã không bị lạc vào Không vong, Thiên – không, thứ nhì là lạc vào Tuần – không, rất nguy là lạc vào Triệt – không.

Trước hết phải xem cung Mệnh những sao tọa thủ cát hung, miếu vượng hay lạc hãm, Kỵ – Sát sinh khắc thế nào? Sau đến cung Thân cũng xem như cung Mệnh ở trên.

Thứ ba xem đến những cung xung hợp Mệnh là Thiên – di, Tài – Bạch, Quan – Lộc ba phương chiếu lại, hình xung khắc hại thế nào?

Thứ tư xem đến Phúc đức, các sao Quyền – Lộc, Kiếp – Không miếu hãm thế nào? Lấy cung Tài – Bạch đối chiếu cung Phúc – Đức thế nào?

Sáu cung: Thân, Mệnh, Thiên – di, Tài, Quan, Phúc là sáu cung cần thiết nếu được nhập Miếu tụ đựơc Cát tinh thì hóa Cát, được phú quí vinh hiển cao Thọ, nếu 6 cung ở vào hãm địa và có hung tinh hội lại Kỵ khắc thì yểu – triết, cô – bần, nếu người sinh giờ Mão Dậu thì Xuất – ngoại tốt hơn.

Cung Điền – Trạch theo sau có cùng Tật – nguy (Giải – ách) và cung Phụ – Mẫu, Thê, Tử ba cung sau đều có Kiếp Không Sát Kỵ là Mệnh số người đi tu, nếu không thế thì bị cô độc bần cùng.

Nếu Mệnh vô Chính – diệu nhưng được cung Tài, Quan có Cát tinh cũng chiếu thì cũng được Phú quí song toàn hoặc là con Thứ mẫu sinh ra, nếu ba phương có hung tinh chiếu thì phải mang hai họ mới sống lâu, ly tổ Xuất ngoại có thể thành cơ – nghiệp.

Như cung Mệnh có chính – diệu, có Cát tinh mếu vượng, có Tam – Hóa 3 phương có Cát tinh hội hợp là Thượng Thượng Chi Mệnh.

Như Mệnh vô chính – diệu, ba phương có Cát tinh chiếu lại là Thượng Thứ Chi Mệnh.

Như Mệnh có sao không Cát không hung, hoặc Cát Hung tinh bằng nhau, như ba phương cũng chỉ có sao Trung bình chiếu lại là Trung – cách.

Cung Mệnh tuy Sao đựơc nhập miếu vượng địa, nhưng ba phương chiếu lại có Ác tinh thủ chiếu là Phá cách.

Cung Mệnh có sao bị lạc hãm, phản hội gia Dương Đà Kiếp Kỵ, thì được Lộc Tồn và Hóa Cát chiếu lại cũng là Trung Đẳng Chi Mệnh.

Nếu Mệnh không có Cát tinh lại bị phản chiếu như hung sát Kỵ không có Lộc lại lạc hãm là Hạ Đẳng Chi Mệnh, nhưng ba phương có Cát tinh chiếu lại thì có thể vào hàng Trung – đẳng trước nhỏ sau to, cũng không được lâu rồi sau cũng bị thành bại yểu – triết.

Nếu an Mệnh ở vào cung hãm địa gia hung sát Kỵ ba phương lại hội với Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là Hạ – cách, bần – tiện mang hai họ thì sống lâu là Nô – bộc chi Mệnh, nếu không phải thì chết non hay Lục – súc Chi Mệnh.

545. – Luận Mệnh nhập Cách

1. Như Mệnh nhập Cách (coi những cách ở trên) miếu vượng, tụ hội các Sao Tốt như Khoa Quyền Lộc là Thượng Thượng Chi Mệnh.

2. Không nhập miếu gia Cát hóa Khoa Quyền Lộc là Thựơng Thứ Chi Mệnh.

3. Không nhập miếu, không gia Cát tinh là Bình Thường Chi Mệnh, Nhập miếu không gia Cát tinh là Bình Đẳng Chi Mệnh.

4. Nếu cư hãm địa lại gia Sát Kỵ là Hạ Đẳng Chi Mệnh, không phải là cứ lấy sự Nhập Cách mà luận, Nhập cách mà không hóa Cát lại hóa Hung lại là vô ích, vậy chỉ lấy Bản Mệnh Cát Hung tinh nhiều ít mà đoán.

546. – Luận Cách của Tinh Số cao Hạ

Tinh là sao miếu hay lạc hãm. Số là Mệnh số đã luận ở số 544 Sao Tử – Phủ và số tương hợp thế nào?

Ta phải hiểu thấu hết các cách cục, các Tinh và Số để có thể hòa với nhau mà quyết đoán đến cùng kỳ lý thì háo ly cũng chẳng sai một mãy.

Biết rằng: Tử – Vi là sao Nam – Bắc – Đẩu là Chủ các hàng Tinh – tú trong vũ trụ, mà Thiên – Phủ làm chủ các sao Nam – Đẩu, lại có Âm Dương hoà đều nhau, cân đối để lấy sự quân – bình mới có sự tương sinh, nếu Âm Dương không đều hòa lẫn nhau thì số không có sự tương Sinh tương Hợp ắt là Hạ cách. Âm Dương thuần một thứ là Trung cách. Ba phương tứ chính đều có Cát tinh là Thượng cách. Cát hung tinh đều nhau là Trung cách. Cát tinh mà gặp Ác sát là Hạ cách, là gặp bọn côn đồ.

Thương – Phàm Tinh sao được Thượng cách mà số lại được Thượng Cách là Bậc Nhất, là số của hàng Chủ – Tể một nước, là số những bậc Hoàng – Đế, bậc Tổng thống, Quốc vương.

– Phàm tinh được Thượng cách mà số được Trung cách là Hạng Nhì vị đến Tam Công. (Đại thần, Tứ trụ, Tể tướng).

– Tinh được thượng cách mà số là Hạ cách là hàng Thứ Ba vị đến Lục – Khanh (Thượng – Thư, Tổng – trưởng) đều là Thượng cách hay Thượng Thọ Chi Nhân.

Trung – Tinh Sao được Trung cách mà số thượng cách là Thứ Tư làm đến Giám – Ty (Giám đốc Công sở)

– Tinh Trung, Số Trung là Thứ Năm làm đến huyện lệnh.

– Tinh Trung, Số hạ cách là Thứ Sáu là số các người theo con đường khác lạ mà đến bực Quí Hiển đều liệt vào hạng Trung đẳng hay Hưởng Phúc Chi Nhân.

Hạ – Tinh hạ cách mà Số được Thượng Cách là Thứ Bảy được Y Lộc phong túc giàu có như Đào – Công tác nghiệp con cháu phồn – thịnh, sống lâu. Tuy Tinh Sao là hung nhưng vẫn nhập cách hợp cục mới được như trên đoán, nếu không thì hư danh hư lợi.

– Tinh hạ Số Trung là Thứ Tám hạng người Y Lộc lúc nào cũng đủ.

– Tinh hạ số hạ là Thứ Chín là người bôn tẩu bần cùng yểu – triết.

Thượng, Trung, Hạ ba hạng trên đây cứ y theo cái lý trên mà đoán thì người hàng Thuợng đẳng có thể biết được cái nguyên giống của Tổ – Tông (Vì mình là cái Quả mà Tổ – Tông là nhân) mà người Hạ đẳng có thể biết được sự vương – thịnh của con cháu về sau (vì Hạ cách ắt phải động, làm lụng cực nhọc, đó là cái nhân mà con người gieo ra để được Quả Trái về sau tức là con cháu vậy).

Đó là huyền – linh ảo – diệu cơ – vi của con người trong vòng Nhân – Quả, thịnh suy của Thiên – Lý.

547. – Luận Nam Nữ Mệnh dị đồng

– Số Mệnh đàn ông và đàn bà, tinh Số có những ảnh hưởng khác nhau.

Nam Mệnh trước phải xem cung Thân, Mệnh đến cung Tài Quan, Thiên – Di, nếu được Miếu vượng thì tốt, bại hãm lại tụ hợp các hung tinh là hung. Thứ ba xem đến cung Phúc – Đức Quyền – Lộc, Kiếp, Không miếu hãm cát kỵ. Rồi xem đến Điền – Trạch, Thê – Thiếp, Tật – bịnh cát hung thế nào để đoán sau. Lại xem cung Phụ – Mẫu, Thê, Tử ba cung nếu có Kiếp Không Sát Kỵ lạc hãm là Tăng – Đạo chi Mệnh, không phải thì bần cùng cô quả.

Phải xem xét cân nhắc cho tường tận ắt có thể biết được họa phúc vinh nhục của Người.

Nữ Mệnh trước phải xem Thân Mệnh Cát Hung như gặp Tham Sát, Kinh thì không tốt. Sau xem đến cung Phúc đức các hung ra sao nếu gặp Thất – Sát một mình cư cung Phúc – đức tất chỉ làm Nô tỳ, Ca kỹ. Thứ ba xem đến cung Phu, sau đến Tử – tức, Tài – trạch nếu có Đào – hoa Hình Sát thì bị bại tuyệt không tốt; nếu được sao tốt đắc miếu vượng thì tốt.

Luận số đàn bà cung Phu và Mệnh có quí cách, thì tốt lắm nếu ngược lại là vô dụng.

Lấy ba cung: Phu, Phúc, Tử – tức là chính cường.

Cung Điền, Tài là thứ cường. Cung Quan, Thiên, Tật – Ngụy, Nô – Bộc là Nhược cung.

548. – Luận Tiểu – Nhi Mệnh

– Có Bác sĩ, Lực Sĩ cư Mệnh thì trên ngắn dưới dày, có Thanh – long, Tướng – quân là tai nhỏ đầu tròn, có Đại – hao là mũi hếch, môi mỏng; có Tử – Phù, Bịnh – Phù thì tiếng lớn tính hùng mạnh; có Quan – Phù, Tấu – thư phùng ác diệu lạc hãm địa thì khóc cười không ra tiếng. Có Bạch – hổ Thái Tuế ngộ Thất – Sát thì thân hình yếu đuối như giải khoai gặp nhiều sự tổn thương về sức khỏe.

Nên phân sinh khắc, chế hóa sao và cung của Mệnh xem giờ Sinh suy bại chi địa, sau xem giờ Quan Sát ở đâu thì biết được Thọ – yểu.

Xem số Tiểu – nhi nếu Mệnh có sao được miếu vượng đắc địa, xem 2 hạn mà đoán ít bệnh, dễ nuôi, không hình khắc cha mẹ. Nếu Mệnh có ác sát tinh tọa thủ lạc lại hãm thì xem 2 hạn mà đoán sự tai nạn thương hại, khó nuôi hay hình khắc cha mẹ.

549. – Luận giờ sinh an Mệnh Cát Hung

– Phàm Nam Nữ sinh giờ:

Dần Ngọ Tuất – Thân Tý Thìn là 6 giờ được thuộc dương an Mệnh tại 6 cung đó thì tốt.

Tị Dậu Sửu – Hợi Mão Mùi là 6 giờ thuộc âm an Mệnh tại 6 cung đó thì tốt.

Phản lại thì ít khi được toại lòng.

550.– Luận sinh con cái khắc cha mẹ

– Như người sinh năm: Dần Ngọ Tị Dậu mà sinh giờ Thìn Tuất Sửu Mùi thì tối độc

Sinh giờ: Tý Thân Hợi Mão thì giảm bớt

Sinh năm: Dần Hợi Tị, giờ: Ngọ Thân Dậu Hợi là chủ phòng khắc Cha trước, qua 16 tuổi thì khỏi.

Như sinh năm: Thìn Tị Sửu Mùi, giờ: Tý Ngọ Mão Tị Hợi Thân Dậu chủ khắc Mẹ trước.

551. – Luận số tiền phú hậu bần

– Người sinh ra trong nhà giàu sang phú quí, nhất sinh khoái lạc, hưởng phúc tài quan hiển đạt, thê vinh tử quí, tôi tớ thành tựu giúp đỡ, thanh danh rực rỡ mà sau nữa chừng lại gặp những sự rủi ro, người nào chết, tài tán, quan phi hỏa đạo, thân tàn gia vong.

Xét cho kỹ thì tất nhiên hạn bộ gặp lại nhị hạn có Thái Tuế xung chiếu gia hung tinh Sát tinh thủ làm ắt bị phá tán, tổn hại, không bần tắc yểu. Đó là số trước thành sau bại, trước sau lớn nhỏ. Tiền phú hậu bần vậy.

552. – Luận số tiền bần hậu phú

– Ngược lại có số người xuất thân ở nơi bần – hàn vi – tiện sinh hoạt bằng Công – nghệ y – thuật làm ruộng lúc đầu gian truân lao – khổ độ nhật nhưng về sau trung và hậu – vận được bình yên làm ăn cứ thế mà phát tài tiến lên Dần Dần làm cho lân cận xóm giềng đều kính phục. Vì sinh ra là trung đẳng chi cục, sau rồi nhân được hạn độ tương phù, tinh phùng cát diệu miếu vượng, họa trở lại thành phúc, tiến tài, mới gọi là Tiền bần hậu phú, trước nhỏ sau to vậy.

553. – Luận họa Phúc Đại – hạn 10 năm

– Phàm xem các sao ở cung Đại – hạn toàn là Cát tinh miếu vượng đắc địa, không bị Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì chủ 10 năm an tĩnh nhân tài toàn mỹ. Nếu trong hạn có Kinh Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ là sự thành bại bất nhất.

Như phân xem trong cung có những sao hội lạc hãm có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ lại lưu niên có Ác Sát tinh tấu hợp, lại Tiểu – hạn đi đến chỗ có Hung Sát tinh là gặp Quan – tai, Tử Vong, gặp đại hạn tướng xuất có nhiều Cát tinh ắt không tai nạn, nếu ít sao tốt thì tai nạn lại nhiều, tổn người phá của.

Phàm đi đến cung Dần Thân Tị Hợi, Tý Ngọ gặp Tử – Vi Thiên – Phủ, Thiên – Tướng, Âm – Dương, Xương Khúc Lộc – Tồn chủ Cát tinh ắt được Nhân tài hưng vượng, thêm đỉnh vui vẻ. Đại hạn đi đến cung Thìn Tuất Sửu Mùi, Mão Dậu gặp Ác Sát tinh như Liêm – Trinh, Thiên – Sứ, Dương Đà Hoả Linh, Không Kiếp Kỵ chủ người ly tán tửu sắc hôn mê nghèo khó tử biệt. Nếu gặp Tả Hữu Xương Khúc thì kẽ Sĩ ắt thắng cao chức phận, là người thường ắt sinh thêm con cái phát tài, đàn bà thì gặp hỉ sự, tăng đạo cũng lợi, thương gia phát tài.

Phàm Đại tiểu nhị hạn chỉ sợ đến chỗ có Thái Tuế gặp Thương Sứ hay Không Kiếp giáp sợ đi đến cung Dương Đà xung chiếu ắt gặp hung họa. Lại cũng nên sợ Thương Sứ Kiếp – Không Dương Đà đến giáp. Như năm ở cung Sửu, Thiên – thương Cung Tý, Thiên – Sứ cung Dần là giáp vậy. Sao gặp vậy nên xem thọ tinh như Tử, Đồng Lương, Tham toạ Mệnh thì có thể giải được; lại xem Nhật Nguyệt có bị ác sát tinh chiếu hợp Đại, Tiểu hạn, tháng, ngày giờ năm thứ xem cát hung tinh cân nhắc xấu tốt mà đoán.

Thái – tuế đi đến cung có Tấu – Thư, Tướng – quân, Chực – Phù, Thiên – Sứ, Thiên – thương, Dương – Đà, Hỏa – Linh, Không – kiếp kỵ gặp một hai vị chủ nhân ly, tài tán, bịnh hoạn, là triệu hung hại, đau buồn. Nếu gặp hạn phạm nhiều sao kể trên, như Nhật Nguyệt gặp một hai vị Hung Sát trên lại gặp Kỵ Tinh nữa thì Quan – lại bị khiển trách, thường nhân thì bị chuyện lôi thôi bất kỳ, đàn bà thì tổn thai, người bịnh thì chết. Nếu Ác Sát Tinh lại lạc hãm thì tai ương họa hại đến như vũ như bão.

Nếu Đại tiểu hạn không có Cát tinh, Mệnh không có cứu tinh thì chết chắc.

554. – Luận Thái – Tuế Cát hung trong nhị hạn

– Nên xem cung Đại hạn cát hung thế nào cùng Tiểu hạn cát hung thế nào? Sao Thái – Tuế ở cung nào Cát hung ra sao? Như nhị hạn đều gặp hung ác tinh thì hung. Lại xem Đại tiểu hạn gặp nhau cát hung thế nào. Đại tiểu hạn gặp Thái – Tuế cát hung thế nào? Mà định họa phúc.

Lại xem Thái Tuế xung Đại tiểu hạn thế nào, xung Dường Đà Thất Sát ra sao, rồi sau mới có thể đoán được Cát Hung.

555.– Hành hạn phân Nam Bắc đẩu tinh.

– Về Dương – Nam Âm – Nữ gặp Nam – đẩu – Tinh là Phúc

– Về Âm – Nam Dương – Nữ gặp Bắc – đẩu – Tinh là Phúc.

Sao Bắc đẩu: các sao Bắc đẩu cát hay hung ứng 5 năm dấu trong đại hạn 10 năm, ứng nửa năm trên trong tiểu hạn 1 năm.

Sao Nam đẩu: các sao Nam đẩu cát hay hung ứng 5 năm sau trong Đại hạn 10 năm, ứng nửa năm sau trong tiểu hạn 1 năm.

Nếu bị Tuần – triệt ảnh hưởng lại ngược lại.

556. – Luận lưu – niên Thái – Tuế phùng Cát Hung Tinh Sát

– Phàm Thái – Tuế thì xem 3 phương đối chiếu lại có sao tốt xấu thế nào để định họa Phúc, Thái – Tuế ở tại cung Mệnh thì sự Họa Phúc lại can hệ hơn các cung khác. Như Mệnh an tại cung Tý Thái – Tuế cũng ở cung Tý lại là người sinh năm Quí gặp Cát tinh thì tốt, nếu gặp hung tinh thì xấu.

557. – Luận Âm Dương duyên Thọ

– Âm dương của Trời đất là tốt cần cho sự sống lâu hay chết yểu, nên nói là Âm Dương duyên thọ sinh bách phúc. Âm Dương đều hòa nhịp nhàng đã sống lâu còn sinh trăm sự phước lành nên gặp hạn có bị hung ác Tinh cũng không đến nỗi chết. Như có người Đại tiểu hạn, và Thái Tuế đến ở cung hãm địa mà cũng không chết, thấy sự nguy nan mà không hề hấn mà còn tăng cho Âm Dương thường ngày để lợi vật cho người, phản thân tu đức mà làm Thiện tác Phúc, tuy bị hung mà không hại. Như Tống Giao lấy cỏ làm cầu cứu kiến được tăng Thọ, lại như Gia Cát Lượng nhà Hán đốt mây làm giáp trụ cho quân đi giết nhau là độc ác cho nên bị giảm thọ một kỷ.

Xem như vậy trong Số trời đã định tức là Thiên Mệnh cũng có thể dời đổi được, người ta thường nói: “Đức năng thắng Số” là lẽ ấy vậy. Bồi đắp cái Đức, lấy Đức hóa mà hòa cùng Thiên Lý cùng Trời Đất.

558. – Luận Dương Đà ẩn lộ

– Như người sinh năm Canh, Mệnh cư Mão, Thiên – di ở Dậu như Dương Đà lưu niên thì xem Canh Lộc Tồn cư Thân, thì lưu Dương tại Dậu, lưu Đà tại Mùi, Mệnh ở Mão có Dương ở Dậu xung hợp lưu niên, lại gặp Lư Đà hợp chiếu nữa như vậy là ẩn lộ Dương Đà.

559. – Luận Thất – Sát trùng phùng

– Như cung Mệnh Tam hợp có Thất – Sát thủ chiếu mà lưu niên lại gặp Dương Đà xung chiếu. Như vậy là gặp Sát trùng phùng là tối độc, nếu nhập miếu thì tai ương bị che tối mà giảm bớt đi. Như ở hãm – địa gặp Kỵ và cung Mão Dậu (các cung: lầu cao) gặp Dương, người sinh năm Ngọ thì bất lợi. Nhưng Thất – sát gặp nhiều sao tốt cũng có thể chuyển hung hóa cát, không thể cứ nhất khái luận là hung cả. Dương Đà Thất Sát gặp được Tử Tướng Lộc – Tồn ba nơi hợp lại có thể giải được.

560. – Luận Đại Tiểu – Hạn

Chư Tinh quá độ 12 cung gặp 12 chi Kỵ số quyết định.

Nếu gặp thì chủ tai ương ở đâu đến, quan phí, đại tang, hỏa đạo, phá tài bình thường, tử vong.

Người sinh : năm Tý Mệnh kỵ Dần Thân.

Ví dụ như người sinh năm Tý thì kỵ nhất hạng năm Dần Thân bị tai bối thật nặng, lại Kỵ năm Tý Ngọ là hạn trong Xung.

Năm Sửu, Ngọ kỵ năm Sửu Ngọ

Nếu gặp tuế – hạn vào năm Sửu Ngọ lại có Thất – sát thủ chiếu ắt bị tai hối cực nặng.

Năm Dần Mão thì phòng năm Tị Hợi.

Như người sinh năm Dần Mão thì kỵ năm Tị Hợi tuế – hạn và kỵ năm Dần Thân Mão Dậu là năm tương xung.

Năm Tị Thìn: kỵ lâm vào bản thân.

Như người sinh năm Tị kỵ gặp năm Tị và đi đến hạn Tị người sinh năm Thìn kỵ đến Thìn và đi đến hạn Thìn là Thiên – la và đến cung Tuất là địa – võng.

Nếu gặp thì bị tai hối tật bịnh nguy hiểm, quan phi phá tài, ưu chế liên miên.

Năm Thân kỵ gặp 2 sao Linh Hỏa, nếu gặp tất tai ương nặng và kỵ năm Dần xung.

Năm Mùi kỵ gặp năm hạn Hợi, Dậu và kỵ gặp Kình Dương tại Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi).

Năm Tuất Hợi kỵ gặp Dương Đà, không thì tai nạn lớn.

Sinh năm Tuất lại hạn đến cung Tuất là Tuế – hạn ở Địa võng và kỵ đi đến cung Thìn là Thiên – la. Thìn Tuất tương xung là bất mỹ.

Năm Dậu cũng kỵ gặp Dương Đà ở Tuế – hạn và kỵ đi đến cung Mão Tuế – quân tương xung

Thơ rằng:

Chư khuyển sinh nhân mạc ngộ Xà.

Thìn Tuất thiết kỵ đáo Võng La.

Dự tiên chỉnh đốn y quan mộc.

Mùi vấn sinh nhân sướng vãn ca.

Giải: Người sinh năm Hợi Tuất không nên gặp năm Tị

Người sinh năm Thìn Tuất rất kỵ Thiên la, Địa Võng.

Nếu gặp thì nên mua áo quan trước

Sinh năm Mùi ắt là bị đại tang.

561. – Luận tập Mệnh hành hạn cung ca.

Thơ rằng :

1 – Kim nhân ngộ Khảm, Mệnh tu thương

2 – Mộc Mệnh lạc Ly hữu họa ương.

3 – Thủy ngộ Cấn cung ứng kiểu đái

4 – Hỏa lai Đoài thượng họa nan tàng

5 – Thổ khắc Đông – Nam phùng Chấn Tốn

6 – Tu phòng nung huyết cập kinh hoàng

7 – Túng nhiên Cát – diệu tương phùng chiếu,

8 – Vị miền Quan tai náo nhất Tràng.

1. – Giải : Người sinh Kim Mệnh, mà hạn đi đến cung Tý là cung Khảm thuộc Thủy thì bị thương hại, lấy nghĩa Mệnh Kim sinh Thủy cung, ắt Mệnh bị suy tàn nên mới nói là thương hại.

2. – Người sinh Mệnh thuộc Mộc, hạn lạc vào cung Ngọ thuộc quẻ ly hành Hỏa tức như trên Mộc Mệnh sinh Hỏa cung, ắt Mệnh được sáng nhưng không khỏi bị thương tổn nên nói là có tai ương họa hoại.

3. – Người sinh Thủy Mệnh mà hạn đến cung Sửu Dần là quẻ Cấn hành Thổ tượng là Ngưng Chỉ bế tắc. Mệnh Thủy bị Cấn thổ Khắc cho nên nói là kiểu vận bị bế tắc, như ngòi lạch bị chận ngưng bí lối.

4. – Người sinh Hỏa Mệnh mà hạn hạnh đến cung Dậu là quẻ Đoàn hành Kim tức là Mệnh Hỏa khắc kim cung tức là không có chỗ đứng ắt là nguy khốn nên nói là họa khó tránh được.

5. – Thổ Mệnh mà hạn đi đến cung Mão quẻ Chấn hành Mộc tượng là Lôi – đình, Kinh – hoảng. Tốn là cung Thìn Tị, Tốn hành Mộc.

6. – Mộc khắc Thổ Mệnh nên bị suy nhược, có bệnh về máu huyết, hay kinh hoảng điên cuồng.

7. – Nếu gặp được Cát tinh xung chiếu.

8. – Nhưng cũng không tránh khỏi Quan – Tài làm kinh sợ một phen.

562. – Luận Thái – Tuế theo Tiểu – Hạn với các Sao Miếu Hãm trong 12 cung Cát Hung.

NĂM TÝ

A. – Thái – Tuế cùng Tiểu – hạn đến cung Tý có các sao nhập miếu Hóa Cát

Có Sát Phá tại cung Tị thủ Tuế – hạn người sinh năm Quí Canh Kỷ thì phát Phúc.

Có Cự Cơ người sinh năm Ất Quí thì phát Phúc.

Có Phủ Tướng Lương, người sinh năm Đinh Kỷ Canh thì tài vượng toại lòng, lại có Thiên – Đồng người sinh năm Bính Đinh thì tài quan song mỹ.

B. –Thái – Tuế cùng Tiểu – hạn đến cung Tý có các sao nhập miếu Hóa Hung.

Có Tử Vi tại cung Tý thủ Mệnh và Tuế – hạn đến đó người sinh năm Bính Mậu Nhâm là hối – lẫn phá tài tai ương.

C. – Thái – Tuế cùng với Cát Hung Tinh

Tuế – hạn có Thái – tuế cùng với những sao: Lộc – Tồn Cơ Đồng Âm, Sương, Khúc, Phụ, Bật, Phá, Tướng, Liêm, Vũ, Phủ, Cự, Sát, có thể đoán năm đó nhân tài đều vượng tốt, sự toại lòng.

Nếu gặp Tham, Tử – Vi, Lương, Kỵ Tinh, Dương Kinh thì lại đoán người và tiền tài hao tán, quan tai, tang chế, bản thân, bị tai hổi không yên. Tai ương lớn nhỏ thì theo số sao trên nhiều ít.

NĂM SỬU

A. – Thái – Tuế đến cung Sửu

Có Thiên – Cở thủ Mệnh tại cung Sửu, người sinh năm Bính Tân là phát tài thịnh vượng.

Người sinh Mệnh có Thiên – tướng ở cung Tuất là Phát, Vượng.

Có Âm Vũ người sinh năm Bính Mậu là Phát Vượng.

Có Phủ Liêm người sinh năm Bính Mậu là Phát Vượng

Có Thiên – Lương người sinh năm Bính Mậu Tân là Phát Vượng.

B. – Thái – Tuế cư Sửu thủ Mệnh người sinh năm Mậu bị hối lẫn.

Có Thái – dương người sinh năm Giáp Ất thì hối lẫn.

Có Thiên – cơ người sinh năm Bính Tân Quí thì hối lẫn.

Có Đồng – liêm người sinh năm Đinh Canh thì chiêu quan phi.

C. – Tuế – hạn có Thái – tuế cùng với những sao: Tử Tướng, Lương Âm, Phủ Lộc – Tồn, Liêm – Phá Xương Khúc Cơ Phu Bật thì đoán là trong năm việc gì cũng được toại nguyện.

Nếu gặp Đồng Cự, Kỵ, Dương, Kinh Đà Hỏa Linh thì đoán năm ấy nhân tài hao tán, quan tai khẩu thiệt tang chế, bản thân bị gặp chuyện mờ ám.

Tai ương lớn nhỏ thì theo số sao trên nhiều ít.

NĂM DẦN

A. – Thái – Tuế ở cung Dần có Tử Dương Vũ Sương Sát người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ thì đựơc tài quan song mỹ.

B. – Có Liêm Tham Phá tại cung Dần người sinh năm Bính Mậu là chieu quan phi, người sinh năm Giáp Tị gặp hạn năm Dần Thân không tốt.

C. – Có Tử Phủ Cơ Âm Vũ Sát Đồng Tướng Dương Cự Lương thì đoán trong năm đó nhân tài tiến ích, làm việc toại lòng. Nếu gặp Tham Đà Kỵ thì đoán năm đó nhân tài bị phá tán, quan phi, tang chế, bản thân bị tai ương.

Ít hung tinh thì tai họa giảm phân nữa.

NĂM MÃO

A. – Thái – tuế ở cung Mão có Tử Cơ Dương Tướng Phủ Đồng Vũ ở cung Mệnh người sinh năm Ất Tân thì phát tài thịnh vượng.

B. – Có Liêm – trinh người sinh năm Giáp Bính là Hoạnh phát

Có Thái Âm người sinh năm Canh là chủ tai hại.

C. – Có những sao : Lương Tử Cơ Đồng Phủ Tham Cự Sát thì đoán năm ấy nhân tài hưng vượng, hôn nhân có việc vui mừng liên tiếp các việc đẹp lòng.

Nếu gặp Liêm Phá Âm Hình Kỵ là năm đó phá tài quan tai khẩu thiệt, bản thân bị mờ ám.

Gặp ít sao trên đây thì sự xấu hay tốt ít đi.

NĂM THÌN

A. – Thái – tuế ở cung Thìn có Tử Tham Sát tại cung Thìn thủ Mệnh Hạn người sinh năm Quí Giáp thì được tài quan lộc vượng.

Có Cơ Dương người sinh năm Đinh Canh Quí thì nhân vượng Tài lộc phát.

Có Thiên – đồng người sinh năm Mậu Canh Quí là được thuận ý toại lòng.

Có Cự Môn người sinh năm Bính Tân là toại ý.

B. – Có Tham Vũ tại cung Thìn gặp Thái Tuế tuế hạn ở đây sinh năm Đinh Canh là tai hối.

Có Liêm – trinh người sinh năm Nhâm Quí là chủ tai ương hối lẫn thật nặng.

Có Thái Âm, Dương Cơ người sinh năm Giáp Ất Mậu Kỷ là tai hối.

C. – Có Dương Cơ Lương Sát Tham, Sương Tả Hữu thì đoán năm đó tài lộc đến thật nhiều, gia nghiệp hưng long, thêm đinh tiến khẩu, hôn nhân hỉ khánh trùng trùng.

Nếu gặp Tử Đồng Liêm Phủ Âm Cự Tướng Phá Kỵ thì đoán năm đó phá tài tang chế quan tai khẩu thiệt.

NĂM TỴ

A. – Thái – Tuế ở cung Tị có Tử Phủ Đồng Cự Tướng Lương người sinh năm Bính Mậu Tân là phát Phúc.

Có Âm Cơ người sinh năm Đinh Nhâm Tân Bính thì phát tài có Tham Lang, người sinh năm Giáp Mậu là bình thường.

B. – Có Cự Tham người sinh năm Quí Bính là khẩu thiệt tai hối.

Có Âm Phá là tai hối đa đoan.

C. – Có Tử Phủ Dương Đồng Lương Lộc – Tồn đoán là năm đó có tài xứng ý, hỉ sự trùng phùng.

Nếu gặp Vũ Liêm Thái – tuế, Tham Cự Tướng Phá Kỵ đoán năm đó nhân tài tổn thất, quan tai khẩu thiệt, bản thân bịnh hoạn. Gặp ít sao trên thì giảm được.

NĂM NGỌ

A. – Thái – tuế ở cung Ngọ có Tử Lương Vũ Đồng Lương Liêm Sát Phá người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Quí thì tiến tài toại tâm.

B. – Có Tham – lang người sinh năm Bính Ngọ, Nhâm Quí là phá tài, quan tai khẩu thiệt.

C. – Có Tử Phủ Cơ Dương Vũ Liêm Tướng Cự Lương Phá Lộc Tồn đoán năm đó nhân tài hưng vượng, hôn nhân hỉ sự trùng phùng.

Nếu có Thái – Âm Tham Đồng Dương Đà Kỵ thì đoán năm đó nhân tài phá hại, quan tai khẩu thiệt, tang chế bản thân có thể tránh được tai nguy.

NĂM MÙI

A. – Thái – tuế ở Cung Mùi có Tử Phủ, Tướng Cơ Lương người sinh năm Nhâm Ất thì phát phúc.

Có Thái – Âm người sinh năm Canh Nhâm là phát phúc sinh tài.

B. – Có Thái Dương người sinh năm Giáp Ất là nhiều tai hối.

Có Đồng người sinh năm Đinh Canh là nhiều tai nạn.

Có Vũ – khúc người sinh năm Nhâm Quí là sinh tai nạn, chiêu quan phỉ, hoạnh hoạ.

C. – Có Tử Phủ Liêm Phá Cơ Tướng đoán năm đó nhân tài tăng ích, làm việc như ý, có sự vui mừng về hào con. Nếu gặp Âm – Dương Vũ Đồng Tham Cự Dương Đà Kỵ thì đoán năm đó nhân tài hao tán, tang chế quan tài, đàn bà thì khẩu thiệt, không yên ổn. Bản thân bị nguy nan không tránh được.

NĂM THÂN

A. – Thái – tuế ở cung Thân có Liêm Tử người sinh năm Giáp Canh Quí là phát phúc.

Có Cự Môn người sinh năm Giáp Canh Quí là phát phúc.

B. – Có Thiên Cơ người sinh năm Ất Mậu là tai hối

Có Cự Môn người sinh năm Đinh không nên gặp

Có Liêm – trinh người sinh năm Bính Thân có tai họa.

Có Thiên – đồng người sinh năm Giáp Canh có tai họa.

Có Tham – lang người sinh năm Bính có tai họa.

C. – Có Tử Phủ Liêm Dương Cự Sát Sương Vũ Lộc Tồn là năm đó nhân tài lợi ích, hỉ sự trùng phùng.

Nếu gặp Cơ Đồng Lương Tướng Âm Phá Kỵ thì đoán năm đó nhân tài tán thất, quan phi tang chế, bản thân tai bịnh.

NĂM DẬU

A. – Thái – tuế ở cung Dậu có Tử Lương Âm thủ hạn và Mệnh ở cung Dậu người sinh năm Bính Mậu Ất Tân là Tiền tài cát lợi.

B. – Có Dương Đồng người sinh năm Giáp Ất không nên gặp.

Có Vũ – Khúc người sinh năm Canh Nhâm không nên gặp.

Có Thiên – Lương người sinh năm Giáp Canh không nên gặp.

Có Liêm – Trinh người sinh năm Giáp Canh Bính Tân không nên gặp.

Có Thiên – Phủ người sinh năm Giáp Canh Nhâm không nên gặp.

C. – Có Lộc – Tồn, Thái – Tuế, Tử – Vi, Xương Khúc Tả Hữu đoán năm đó nhân tài hưng vượng, làm việc toại lòng.Nếu có Cơ Cự Vũ Liêm, Kinh Đà Kỳ thì đoán năm đó nhân ly tài tán, khẩu thiệt quan phi.

NĂM TUẤT

A. – Thái – Tuế ở cung Tuất có Tử – Vi người sinh năm Nhâm Giáp Đinh Kỷ là tiến tài.

Có Thái – Âm người sinh năm Đinh Kỷ là Cát khánh.

Có Vũ – Khúc người sinh năm Đinh, Kỷ, Giáp, Canh là Cát khánh.

Có Thiên – Cơ người sinh năm Giáp Ất Đinh Kỷ là phát phúc.

Có Cự Môn người sinh năm Đinh Kỷ Tân Quí là phát phúc.

Có Thiên – Đồng Liêm Phá Sát người sinh năm Đinh Kỷ Tân Quí là Đinh Kỷ Giáp là phát tài.

B. – Có Tham – lang người sinh năm Quí không nên gặp.

Có Đồng người sinh năm Canh không nên gặp.

Có Cợ người sinh năm Mậu không nên gặp.

Có Cự người sinh năm Đinh không nên gặp.

Có Dương người sinh năm Giáp không nên gặp.

Có Liêm người sinh năm Bính không nên gặp.

Có Vũ người sinh năm Nhâm không nên gặp.

C. – Có Cơ Âm Lương Phủ Vũ Sát Tham Tả Hữu Đồng là đoán năm đó nhân tài lợi ích, làm việc tọai lòng, gia nghiệp hưng vượng.

Nếu gặp Cự Dương Phá Tử Tướng Kỵ thì đoán năm đó Nhân tài thoái thất, tang chế quan tai, bản thân bịnh tật. Gặp ít sao trên thì tai họa giảm được.

NĂM HỢI

A. – Thái – Tuế ở cung Hợi có Tử Đồng Cự Lương người sinh năm Nhâm Quí Mậu thì Cát khánh.

Có Cơ người sinh năm Nhâm thì Cát mỹ.

Có Tướng người sinh năm Đinh Kỷ Binh Mậu thì phát phúc.

Có Âm người sinh năm Mậu Kỷ thì tài quan song mỹ.

B. – Có Liêm người sinh năm Bính Nhâm Quí không nên gặp.

Có Vũ người sinh năm Nhâm Bính không nên gặp.

Có Dương người sinh năm Giáp không nên gặp.

C. – Có Đồng Âm Lương Tử Phủ Xương Khúc Lộc Tồn thì đoán năm đó nhân tài tiến ích, Hỉ khí trùng trùng, mưu sự đều xứng ý toại lòng.

Nếu gặp Liêm Phá Sát đoán là năm đó nhân tài hao tán, miệng tiếng thị phi Tử vong, bản thân bị tai hối.

Trên đây là 562 chú giải những Cách để luận số cũng như những giải thích các Phương Trình Thức lập thành của Toán học, hội ý được tất cả 562 luận giải trên đây tôi chắc chắn sự Minh Đoán Thiên Mệnh của Người không sai được.

Sau đây tôi xin chú giải 12 cung trong số theo sự sưu tầm nghiên cứu của tôi.

i. – CUNG MỆNH

Dưới đây giải thích tính cách các sao an ở 12 cung Cát hung theo từng người sinh một, cho Nam Mệnh, Nữ Mệnh và Đại Tiểu Nhị hạn.

563. – TỬ – VI

Tử Vi thuộc Thổ Nam Bắc Đẩu tinh hóa Đế Tọa chủ Quan Lộc. Người có Tử Vi thủ Mệnh thì mặt đỏ tía hồng hào lưng dày người béo (mập), tính tình Trung hậu, về già thì khiêm nhượng, cung kính cảnh vẻ, thẳng thắn.

Có quyền chế được Thất Sát, Hỏa Linh hội với Phủ Tả Hữu, Xương Khúc Nhật Nguyệt Lộc Mã ba phương hợp lại hay giúp thì cực tốt, lộc đến thiên chung, Cự Phú đại Quí lại có cả Lộc Tồn cũng chiếu lại đặc biệt hơn nữa.

Không nhập miếu, không có Tả Hữu là ông chúa cô đơn chỉ là Tăng đạo thanh nhàn, gặp Phá Quân thì làm chức lại cùng với Dương Đà Hoả Linh xung hợp, với nhiều Cát tinh thì được Phát tài, thứ nhân thì tốt, đàn bà thì Vượng Phu Ích Tử.

An ở cung Tý người sinh năm Đinh Kỷ Canh là Quí cách.

An ở cung Tý người sinh năm Nhâm Quí không được bền.

An ở cung Ngọ nhập miếu, người sinh năm Giáp Đinh Kỷ là Tài Quan cách.

Người sinh năm Bính Mậu thành thất bại và mang Tật.

Cung Mão Dậu là Vượng cung, đồng với Tham – lang người sinh năm Ất Tân là Quí cách, người sinh năm Giáp Canh lại không bền.

Cung Dần Thân là Vượng địa cùng với Thiên Phủ, người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là Vượng địa cùng Thất Sát người sinh năm Ất Mậu là Tài Quan cách.

Cung Thìn Tuất là đắc địa cùng với Thiên – Tướng, người sinh năm Giáp Ất Kỷ Canh Quí là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi nhập miếu với Phá – Quân đồng cung người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ Ất Nhâm là Tài Quan cách.

NAM MỆNH

Mệnh Thân gặp được Tử Vi thì Phúc tài hưng vượng nếu được Tướng Tá hội cùng thì được phú quí song toàn oai danh lừng lẫy.

Tử Vi thủ Mệnh thì hiền lành, gặp nhị Sát thì không sống lâu, gặp Dương Đà Hỏa Linh hội lại xấu lắm làm tăng đạo thì hơn.

Tử Vi ở cung Thìn Tuất gặp Phá Quân là giàu có, phú mà không quí, chỉ là hư danh, Nếu gặp Tham – lang ở cung Mão Dậu là kẻ làm tôi bất trung, người bất nghĩa, Hỏa Linh Dương Đà hội lại gia Thất Sát là người ti tiện, cô đơn lại bị hình thương khắc hại.

NỮ MỆNH

Mệnh Thân có Tử Phủ Gia Cát tinh hội chiếu ắt là số Mệnh phu, phong tặng hưởng phúc lâu dài.

Tử Vi an ở cung Phu, ba phương có sao tốt chiếu lại là chồng đuợc Vinh hiển. Nếu bị Sát Phá thì ăn mặc được đầy đủ nhưng dâm dật và xảo trá.

HẠN

Hai hạn gặp Tử Vi là Phúc lộc hưng. Người thường thì hưởng lắm tài giàu có, làm Quan thì được thăng quan tiến chức Tử Vi nhập hạn gốc thì tốt nhưng chỉ sợ ba phương chiếu lại có Sát Phá Tham người thường gặp thì bất lợi và quan viên thì bị dáng trật và bị Kinh thương.

564. – THIÊN CƠ

Thiên Cơ thuộc Mộc Nam đẩu tinh hóa Thiện tinh chủ Huynh Đệ. Nhập miếu thì người dài, béo tốt, tính mau mắn, tâm từ thiện lắm cơ mưu, biến chuyển. Cùng với Thiên Lương hợp chiếu là người có nhiều cơ mưu hay bàn về binh bị. Người sinh năm Ất Bính Đinh nhập miếu hóa cát được Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, Thái Âm cũng hợp; Mệnh ở cung Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi có Quyền Lộc là người về Văn hay Võ đều Đại Quí đến Cực Phẩm thêm có Cự Môn Dương Đà Kỵ ở Tị Dậu Sửu Hợi là Hạ cách, cô đơn bần cùng; ở cung Tài, Quan cũng được Quí hiển nhưng không bền, nên kinh doanh buôn bán, hay làm công nghệ thì tốt.

Đàn bà gặp Thiên Cơ thủ Mệnh nhập Miếu thì tính rất khó và cương trực, người cơ sảo trong tay nắm quyền trong nhà, tề gia nội trợ giỏi, vượng phu ích tử, gặp Lương lại có Cự Dương và Dương Hỏa Kỵ sum họp thì tuy có tài nhưng dâm đãng đê tiện, thay đổi chồng hay góa bụa là số tôi đòi hay thương phu khắc tử.

Cung Tý Ngọ là nhập miếu người sinh năm Đinh Kỷ Quí Giáp Canh Nhâm là Tài Quan cách.

Cung Mão Dậu là vượng địa cùng Cự Môn, người sinh năm Ất Tân Mậu Quí là Tài Quan cách.

Cung Dần Thân là đắc địa cùng với Thái Âm, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh Quí là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là bình hòa người sinh năm Bính Nhâm Mậu là hợp cực nhưng cũng không bền.

Cung Thìn Tuất là lợi ích ngộ Thiên – Lương, người sinh năm Nhâm Canh Đinh là Phúc.

Cung Sửu Mùi Hãm địa, người sinh năm Bính Mậu Đinh Nhâm là Tài Quan cách, năm Ất Nhâm là cách Hợp Lộc.

NAM MỆNH

Người Mệnh có Cơ Nguyệt Dương, thường nhân thì giàu có lớn, ruộng nhà nhiều; gặp Khoa Quyền Lộc là làm Quan Đại Thần, chức vụ cao cả.

Thiên Cơ ngộ Kỵ vào nhân cung Thủ Mệnh hay cung Tài Quan thì gia tài khánh tận lại bị yểu vong, người gặp số này chỉ nên xa lánh hồng trần, vui cùng non nước, ngao du trên non cao rừng thẳm luyện Đạo thì hơn.

NỮ MỆNH

Mệnh có Thiên Cơ lại có Cát Tinh phù hợp là người đàn bà hay làm, nhanh nhẩu tính tình cương quyết quá trượng phụ lại gặp Quyền Lộc cũng chiếu thì vinh hiển quí lắm.

Thiên Cơ ngộ Thái Âm đồng cung, đàn bà gặp là người xảo trá, ăn mặc tuy được đầy đủ sau không được mỹ mãn, là góa phụ hay tỳ thiếp, chủ dâm dật.

HẠN

Nam Nữ hai hạn gặp Thiên Cơ, có Lộc nữa chủ có Quyền hành lớn lao, kinh doanh ắt gặp nhiều quí nhân phù trợ, phát tài phát phúc ít người hay.

Thiên Cơ hãm địa chiếu hạn thì không được yên ổn, trong nhà công việc rối reng, ngoài thì nhiều sự lôi thôi, gặp Dương Đà và Cự Môn nên nhớ rằng không bị tai ương nặng ắt có thể chết được.

565. – THÁI – DƯƠNG

Là Nam Bắc Đẩu tinh hóa Quí, chủ Quan Lộc.

Nhập miếu thì hình mạo đường đường hùng tráng mặt đầy tròn trĩnh. Người sinh ban đêm là hãm mà Mệnh lại có Thái Dương tọa thủ ở miếu vượng địa là người có tâm từ thiện, mặt đỏ thích bố thí làm việc nghĩa, nếu hội với Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt Âm Lộc Tồn thủ chiếu cung Quan Lộc, Tài Bạch là Quí đến Cực Phẩm (số ông Thượng P.V.B); làm quan Văn Võ đều tốt, gặp được nhiều cá tính là Cực Quí, môn hạ cũng là Công Khanh hầu hạ. Người sinh năm Canh, Mệnh tọa cung Mão là được miếu địa Quí Đệ nhất, người sinh năm lục Nhâm là thứ cách Mệnh tại cung Hợi Thân là Hạ cục ắt bần yểu, tuy có phát nhưng không bền.

Nhật ở miếu vượng địa thì chung hàn Phú Quí, ở hãm địa gia Quyền Lộc cũng hung lâm vào cung Quan Lộc thì không được hiển đạt, trước thì hăng hái sau ra lơ là, thành bại bất nhất, xuất ngoại ly tổ thì tốt, cùng với Dương Đà xung phá lại bị ở hãm địa là Hạ cách, hoạnh phát hoạnh phá không đều. Người làm thương mại kinh doanh hay công nghệ cũng bị cay đắng khổ sở thì họa ít mà sống lâu, nếu thêm Hung sát tinh thì có tật. Gặp Hóa kỵ ắt đau mắt, cận thị, ở hãm địa ngộ Kỵ chắc Mù

Mệnh đàn bà mà gặp Nhật ở nơi miếu vượng thì vượng phu ích tử, nếu ở hãm địa lại gặp Dương Đà Hỏa Linh Kỵ Kiếp là bần tiện, tàn tật nhưng là người Trinh tiết thanh bần, nhà sư có Dương cư Mệnh thì được Thanh khiết.

Cung Tý thì hãm Ngọ là vượng người sinh năm Đinh Kỷ là Tài Quan cách, sinh năm Nhâm Bính Mậu thì bị lầm lẫn hối hận.

Cung Mão thì miếu, cung Dậu hòa bình người sinh năm Ất Tân là Tài Quan cách, người sinh năm Giáp Canh thì khốn cùng.

NAM MỆNH

Nam Mệnh mà gặp Thái Dương ở nơi miếu vượng thì được Phúc Thọ lâu bền, lại Quyền Lộc gặp Lưỡng Tướng có Khôi Sương Tả Hữu cũng chiếu là Phú Quí song toàn như số Thạch Sùng.

Mệnh có Nhật Nguyệt ở Sửu, Mùi ba phương không có Hóa Cát cũng chiếu thì Phúc bạc, có Cát Tinh đi nữa sau cũng không mỹ mãn, nếu gặp Sát tinh thì một đời bần cùng.

Bị thất hãm hay Phản bối gặp Hóa Kỵ thì nhiều sự bị tắc mờ ám, hay gặp việc bất ngờ phá tán gia tài, nếu Mệnh ở cường cung có Hóa Lộc thì cứu được.

NỮ MỆNH

Thái Dương chiếu Nữ Mệnh Thân là người bệ vệ có vẻ Bà tính cách đoan trang được Cát tinh chiếu ắt được phong tặng Phu nhân.

Thái Dương cư Mệnh là người có tài năng xuất chúng, ở vào hãm địa nên phòng Sát Hung tinh chiếu thì làm việc trầm ngâm lúc tiến lúc vui làm ăn khổ cực để độ nhựt thì tránh được sự khuynh gia bại sản. Thái Dương ở cung phản bối thì chủ tâm hoang mang ăn mặc bình thường, không thọ, bại chồng khắc con đến bỏ chồng lấy kẻ khác.

566. – VŨ – KHÚC

Là sao Bắc đẩu hóa Tài, chủ Tài bạch, Người có Vũ Khúc tọa thủ Mệnh thì có tính cứng cỏi quả quyết, tâm thẳng không nham hiểm độc địa. Hình vóc thanh cao mà nặng cân. Người sinh năm Giáp Kỷ thì hợp được phúc hậu, có tóc lông kỳ lạ.

Nhập miếu với Xương Khúc đồng hành là cách Xuất Tướng Nhâp Tướng. Về Vũ chức thì tốt vượng, về văn nhân thì tài học thâm thúy, hội với Tham – lang ngộ Hỏa hóa Cát là thượng cách. Người sinh năm Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quí là Trung cách.

Cùng với Phủ Tướng, Lương Nguyệt Lộc Mã hội hợp chủ Quí. Người ở Tây Bắc là Phúc, người Đông Nam là bình thường.

Ở vào Hãm địa là người làm công nghệ khéo hay Tăng đạo, Ngộ Liêm Trinh, Phá Quân Dương Kỵ Không Kiếp xung phá là Hạ cách là phá tổ bại gia.

Nữ Mệnh có Vũ Khúc nhập miếu là Quyền quí.

Hãm địa lại có Sát tinh thì cô đơn, hình phu khắc tử và còn là người bất chính.

Cung Tý Ngọ, là vượng địa gặp Thiên Phủ. Người sinh năm Đinh Kỷ Canh là Tài Quan cách.

Cung Mão, Dậu là lợi ích cùng Thất Sát người sinh năm Ất Tân là Tài quan cách.

Cung Dần Thân, là đắc địa cùng Thiên Tướng, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh là Tài quan cách.

Cung Tị Hợi hòa bình cùng Phá Quân người sinh năm Nhâm Mậu là Tài quan cách.

Cung Thìn Tuất là nhập miếu người sinh năm Ất Giáp là Tài quan cách.

Số đàn bà tam hợp có Cát tinh cũng chiếu là chủ Phong tặng, duy chỉ có Ác Sát Tinh xung chiếu cũng chưa phải là Hạ cục.

Nếu nhập miếu lại gặp Lộc thì tính cương cường, lẫm liệt cơ sảo thanh tú, vượng phu ích tử.

Số nhà sư có Liêm Trinh thủ Mệnh ngộ Cát tinh cũng chiếu thì làm đến Hoà Thượng.

Sao Liêm Trinh thích hợp với sao Thiên Tướng ắt hóa được cái xấu của nó.

Cung Tý Ngọ là Hòa bình gặp Thiên Tướng người sinh năm Đinh Kỷ Giáp là Tài quan cách.

Cung Mão Dậu là hòa bình người sinh năm Ất Tân Quí gặp sao Phá Quân thì cũng tốt.

Cung Dần là hòa bình người sinh năm Giáp Canh Kỷ là Quí cách.

Cung Sửu Mùi là lợi ích, có Thất Sát và Cát tinh cũng chiếu là Tài quan cách.

Cung Thìn Tuất là lợi ích cùng với Thiên Phủ người sinh năm Giáp Canh là Tài quan cách.

Cung Tị Hợi là hãm địa người sinh năm Giáp Kỷ Bính Mậu là có Phúc nhưng không lâu.

NAM MỆNH

Vũ Khúc thủ Mệnh là người phi thường, tính khí ương ngạnh cương cường, làm quan Văn Võ đều lại Quí, được thanh hiển danh giá, tiếng tăm lừng lẫy.

Cung Sửu Mùi, nhập miếu Tham – lang, người sinh năm Mậu Tân là Đại quí Tài Quan cách.

NAM MỆNH

Đàn ông có Vũ Khúc thủ Mệnh là người có uy quyền thêm Cát tinh chiếu nữa thì Phúc Thọ song toàn, trí khí hơn người, siêu phàm nhập thánh.

Nếu bị Hao Sát xung phá thì lúc đầu được sung sướng, vinh hiển, tài lộc nhiều sau lại thành tiếng cả nhà không.

NỮ MỆNH

Đàn bà có Vũ Khúc thủ Mệnh gặp Thiên Phủ là người có trí khí anh hùng quá trượng phu, lại có Tả Hữu Lộc Tồn căng chiếu thì được phú quí song toàn đẹp đẽ vô cùng. Tính cương cường khác người y lộc thao thao bất tuyệt nếu gặp Phá Quân không chết non thì cũng bị hung vong.

HẠN

Đại tiểu hạn mà gặp, nếu nó ở nơi miếu địa thì chủ tài hưng vượng, thêm Xương Khúc, gia Tả Hữu thì Phúc Lộc song toàn vừa ý vừa lòng.

Vũ Khúc lâm hạn thì tức như sao Hóa Quyền, cầm mưu thì rất lợi, sự ắt thành, lại gặp Cát Tinh đồng hội làm Văn nhân thì tiếng tăm hiển hách, thứ dân thì hưng vượng.

Vũ Khúc chủ Quan tước, ở nơi hãm địa, hạn gặp quan chức ắt bị hình phạt, bị giáng về làm thường dân. Làm quan mà gặp hạn đó ắt có sự kinh khủng và bị giáng vậy.

567. – THIÊN – ĐỒNG

Là sao thuộc hành Thủy, Nam Đẩu tinh, Hóa Phúc chủ về Phúc đức.

Nhập miếu là người phì mãn, thanh cao, nhân từ, cảnh vẻ thẳng thắn. Gặp Thiên Lương và Hữu Bật người sinh năm Bính an Mệnh ở cung Tị Hợi Dậu thì được Tài Quan song toàn, Phúc đức lớn dày.

Ở Cung Mùi thì thứ cách. Ở cung Ngọ là hãm địa nhưng người sinh năm Đinh cũng tốt, nếu ở cung Hợi mà là người sinh năm Canh là hạ cách, lại gặp Dương Đà Linh kỵ xung hợp thì cô đơn phá tán và mắt có tật.

Đàn bà có sao Thiên Đồng tọa thủ Mệnh ở cung Miếu Vượng là Mệnh Phu, Vượng Phu Ích Tử, rất hiền năng, Mệnh cư Tị Hợi tuy đẹp mà dâm.

Cung Tý là vượng Ngọ là hãm người sinh Đinh Kỷ Quí Tân là Tài quan cách.

Cung Mão Dậu là hòa bình, người sinh Ất Bính Tân là Tài quan cách.

Dần là lợi, Thân là vượng cùng với Thiên Lương người sinh năm Ất Giáp Đinh thì phúc hậu.

Tị Hợi là nhập miếu, người sinh năm Nhâm Bính Mậu là Tài quan cách.

Thìn Tuất là hòa bình, người sinh năm Bính Đinh là lợi, người sinh năm Canh Quí là Phúc đức nhưng không bền.

Sửu Mùi là không đắc địa gặp Cự Môn, người sinh năm Ất Nhâm Giáp Tân Canh là Tài quan cách.

NAM MỆNH

Mệnh có Thiên Đồng tọa thủ là người tính ôn lương, Phúc lộc nhiều và sống lâu. Nếu ở nơi miếu vượng là hưởng thực Lộc nhiều và Vinh hiển.

Thiên Đồng gặp Cát tinh thì tính cách thông minh, trăm sự không qua mặt, trai thì hưởng lộc Trời, gái thì về đường chồng con được mỹ mãn.

Thiên Đồng thủ Mệnh lạc vào nhân và hãm địa, lại bị Hỏa Đà Sát hợp lại là hung hại.

NỮ MỆNH

Đàn bà là người thông minh lanh lợi, lại tương hội với Xương Khúc ắt được hưởng thiên lộc bất tuyệt.

Thiên – Đồng ngộ Thái – Âm, đàn bà mà gặp là người dâm đãng và xảo quyệt, y lộc sung túc nhưng về sau bất mãn, bỏ chồng và làm thiếp, cùng người thông dâm.

NHẬP HẠN

Hai bạn gặp Thiên – Đồng là Hỉ khí dày nhà, vạn sự đều được hanh thông, vinh hiển, tài lộc gia phong nhà cửa thịnh vượng, phong phú.

Bị vào hãm địa phòng Ác Sát tinh sung hợp, làm việc thì trươc tốt sau hư hại, nên phòng quan tụng bị khuynh gia.

568. LIÊM – TRINH

– Liêm – Trinh là Bắc đẩu tinh thuộc Hỏa, hóa Đào hoa, Sát Tú Tinh, chủ về Quan Lộc.

Mệnh có Liêm Trinh tọa thủ thì người cao giài tráng kiện mặt lộ, thần quang, mày lông vừa mà to. Xương cốt lộ tính cương ngạnh, phù hoa, phóng đãng, thích tranh đấu. Nhập miếu thì làm Vũ Chức là Quí cách, gặp Phủ Tướng Tả Hữu là người có Quyền Bính trong tay, cùng với Lộc – Tồn thì Phú Quí.

Gặp Sương – Khúc, Thất – Sát là người lập được Võ – công oanh liệt, nếu có Phá Quân Hỏa Linh cũng hợp là người Cẩu hạnh lang Tâm (lòng lang dạ sói).

Cung Tị Hợi là Hãm địa tổ nghiệp cô đơn, làm công nghệ, tăng đạo, vào lính mộ.

Mệnh tọa Dần Thân là Miếu có Liêm tọa thủ, người sinh năm Giáp là Thượng cách, năm Đinh Kỷ là thứ cách.

Mệnh tọa Tý Ngọ Mão Dậu có Liêm tọa thủ người sinh năm Bính là hoạnh phát, hoạnh phá, không bền.

Mệnh tọa Thìn Tuất Sửu Mùi là lợi người sinh năm lục Giáp là Tài quan cách; nếu sinh năm Bính Mậu là chiêu khẩu thiệt thị phi trong đời có lúc thành lúc bại.

Nếu có Xương Khúc Kỵ cùng với Liêm Trinh tại Tị Hợi người sinh năm Bính là bị họa hai, người sinh năm Giáp cũng không nên gì.

Người sinh năm Mùi Thân, Mệnh tại Cung Mùi Thân có Liêm Trinh tọa thủ có Hóa Lộc gặp Cát tinh thì chắc chắn Phú Quí. Nếu ở các cung khác lại gặp Dương Đà Hỏa Kỵ xung phá là chủ tàn tật cô bần.

Số đàn bà tam hợp có Cát tinh củng chiếu là chủ Phong tặng, duy chỉ có Ác Sát Tinh xung chiếu cũng chưa phải là Hạ cục.

Nếu nhập Miếu lại gặp Lộc thì thích cương cường, lẫm liệt, cơ sảo, thanh tú, Vượng Phu Ích Tử.

Số nhà Sư có Liêm – Trinh thủ Mệnh ngộ Cát tinh củng chiếu thì làm đến Hòa Thượng

Sao Liêm – Trinh thích hợp với Sao Thiên – Tướng ắt hóa được cái xấu của nó.

Cung Tý Ngọ là hòa bình gặp Thiên – Tướng người sinh năm Đinh Kỷ Giáp là Tài quan cách.

Cung Mão Dậu là Hòa bình, người sinh năm Ất Tân Quí gặp sao Phá Quân thì cũng tốt.

Cung Dần là Hòa bình người sinh năm Giáp Canh Kỷ là Quí cách.

Cung Sửu Mùi là lợi ích, có Thất Sát và Cát tinh củng chiếu là Tài quan cách.

Cung Thìn Tuất là lợi ích cùng với Thiên Phủ, người sinh năm Giáp Canh là Tài quan cách.

Cung Tị Hợi là hãm địa người sinh năm Giáp Kỷ Bính Mậu là có Phúc nhưng không lâu.

NAM MỆNH

Liêm – Trinh thủ Mệnh là người phi thường, tính khí ương ngạnh cương cường, làm quan Văn Võ đều đại Quí, được thanh hiển, danh giá, tiếng tăm lừng lẫy.

Thủ Mệnh ở nhàn cung lại có Tham Phá Dương Hỏa cho có được Tài Quan đi nữa sau cũng là bất mãn; không được toại lòng.

Liêm – Trinh bị lạc hãm ở nhàn cung có Cát tinh chiếu cũng là hung, lưng chân bị tai ương, tàn tật khó lòng thoát được, nếu lại có Ác Sát thì chết chắc.

NỮ MỆNH

Đàn bà có Liêm Trinh thủ Mệnh là người chính đính và liêm khiết; lại có Cát tinh chiếu không có Sát Phá thì được Phong tặng khi còn trẻ.

Liêm – Trinh lạc hãm lại gặp Tham Phá Vũ, lại có Đà Hỏa thì cực Hạ tiện, hình phu khắc tử, số người đàng điếm, ca nhi, nô tỳ.

NHẬP HẠN

Hai hạn gặp Liêm – Trinh ở cung vượng, gặp được Cát tinh thì Tài vật tự nhiên đến rất nhiều, Phúc hậu toại ý, toại lòng, vị đựơc cao thăng.

Hạn gặp Liêm – Trinh có Kỳ Kỵ Kình Dương, là bị Tai Hình, lưu huyết không tránh khỏi, gặp Phá Sát ắt bị khắc trong nơi tối tăm.

569. – THIÊN – PHỦ

Là Nam – Đẩu Tinh thuộc Thổ, hóa Lệnh – Tinh, chủ Tài – bạch, Mệnh có Thiên – Phủ miếu vượng tọa thủ là người vương tượng, sắc hồng răng trắng, tâm tính ôn hòa, thông minh thanh tú, học rộng tài cao, nhiều cơ mưu giải được nhiều sự nguy biến thắc mắc.

Gặp được Tử – Vi Xương Khúc Tả Hữu, Lộc Tồn, Khôi Việt Quyền Lộc ở cung miếu vượng là người học hành tài ba lỗi lạc, thi cử ắt đỗ cao tột.

Nếu có Dương Đà Linh Hỏa hội lại là người hay nói dối.

Mệnh tọa cung Dần Ngọ Tuất Hợi Mão Mùi, người sinh năm lục Kỷ thì Quí.

Mệnh tọa cung Tị Dậu Sửu người sinh năm Ất Bính Mậu Tân là Văn Võ Quan cách.

Lại an Mệnh ở cung Hợi Mão Mùi Thìn Dậu Tuất người sinh năm Giáp Canh thì không Quí, trước khi lớn lao sau nhỏ bé, hữu thủy vô chung.

Đàn bà gặp thì thanh bạch, khéo léo, vượng phu ích tử. Gặp Tử Vi Tả Hữu đồng viên, Cực Mỹ là Mệnh Phụ.

Cung Tý Ngọ là vượng địa, gặp Vũ Khúc, người sinh năm Đinh Kỷ Quí là Phúc Tài Quan cách.

Cung Mão Dậu là nhập miếu, cung Dậu là đắc địa người sinh năm Ất Bính Tân là Tài Quan cách.

Cung Thìn Tuất là nhập miếu cùng với Liêm – Trinh sinh năm Giáp Canh Nhâm là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi là nhập miếu gia Cát tinh là Tài – Quan.

Tị Hợi là đắc địa, người sinh năm Ất Bính Mậu Tân là Tài Quan cách.

NAM MỆNH

Thiên – Phủ thủ Mệnh lại gặp Quyền Lộc Khôi Việt, Xương Khúc Tả Hữu thì là người :

“Phó Phượng Bảng Long, thượng Cửu – Trùng, (đỗ cao tột, làm đến cực phẩm triều đình) nếu tam hợp hội lại gặp Hỏa Linh Dương Đà là người gian trá phải lao khổ, gặp Không Kiếp đồng viên thì không tốt. (Tài Tinh ngộ Không thì rất nguy) nên nói chỉ nhập Không – Môn (nhà chùa) thì hưởng Phúc.

NỮ MỆNH

Thân Mệnh có sao Thiên Phủ là người tính cách thông minh, kiều diễm như hoa mùa xuân, tam hợp có Tử Vi chiếu ắt được Vua ban phong tặng.

Nếu gặp Hỏa Linh Kình Đà, lại là người bồng bột nông nổi, phạm lắm lỗi lầm, lục thân phản trắc, khó nuôi con chỉ làm Ni cô thì tốt.

HẠN

Hai hạn gặp Thiên Phủ là gặp kho Tài Lộc, là học trò hay thường nhân gặp thì phát Phúc nhiều, thêm tài tiến hỉ lâu bền, không bị tai họa lại được giàu có. Là Nam Đẩu tôn tinh hạn mà gặp thì mưu sự gì cũng được toại lòng; lại gặp được Khoa, Quyền Lộc ắt có ngày rất vui vẻ được Đại tài phát triển.

570. – THÁi – ÂM

Là Nam Bắc Đẩu tinh thuộc Thủy, hóa Phú (giàu có) là Mẫu Tú (Mẹ sao) lại là Thê – tinh (sao tượng vợ) chủ về Điền Trạch.

Mệnh có Thái Âm tọa thủ là ngườ mặt mũi vuông vắn, tròn trịa thanh tú, tâm tính ôn hòa, cảnh vẻ thẳng thắn, thông minh, là người thích ngâm vịnh, bầu rượu túi thơ, vui hoa vịnh cảnh, văn chương bác học, hoạnh lập công danh.

Cung Thân (Thân Mệnh) mà gặp sao Thái – Âm là người hay tùy vợ, theo về cúng kính đồng bóng.

Ở nơi Hãm địa mà có Khoa Quyền Lộc phản thì Hung. Xuất ngoại ly tổ thì tốt, lại gặp Dương Đà Hỏa Linh thì tửu sắc tà dâm, hạ tiện, yểu vong.

Mệnh lập ở cung Hợi Mão Mùi, người sinh năm Lục Nhâm, Mậu là hợp cục.

Ở cung Hợi, người sinh năm Ất Canh Mậu là Thượng cách, người sinh năm Lục Đinh là Thứ cách, người sinh năm Lục Ất là hợp cách, năm Lục Đinh, Mậu có Khoa Quyền Lộc thì tốt.

Đàn bà có Thái Âm thủ Mệnh, nhập miếu có Thái Dương hội chiếu thì được phong tặng Phu Nhân.

Nếu lạc hãm là Thương phu Khắc tử, là Tỳ Thiếp.

Cung Tý Sửu là nhập miếu, người sinh năm Đinh Mậu là Tài Quan cách.

Cung Mão Thìn Tị là hãm địa người sinh năm Ất Nhâm Mậu là bị cô Quả không lâu.

Cung Ngọ là hãm địa, Cung Mùi Thân là lợi ích người sinh năm Giáp Canh Đinh là Tài quan cách.

Cung Dậu Tuất Hợi là nhập miếu người sinh năm Bính Đinh là Tài Quan cách, hội với Cát tinh là Đại Quí.

NAM MỆNH

Mệnh có Thái Âm tọa thủ tức là Thủy tinh tức là Phúc sinh, an ở cung Dậu Tuất Hợi là đắc địa, là người tên tuổi vang lừng, vinh hiển.

Nhập miếu là quyền quí, người thanh tú, thông minh, bản tính ôn hòa, cung kính, khiêm nhượng, làm quan thì thanh liêm vinh hiển.

An ở cung Dần mà lại được phùng Xương Khúc là tùy có Cát tinh cũng chiếu nhưng không được phong long, Trai làm đày tớ, Gái làm ca kỹ lại thêm Sát tinh thì đến già bị bần cùng.

Thái Âm ở hãm địa có Ác tinh chiếu như Đà Hỏa thì bị khốn cùng chỉ nên nhập Không Môn tu niệm.

NỮ MỆNH

Mệnh có Nguyệt hội với Đồng Dương, tam hợp có Cát tinh tất được dinh phong, không gặp Hung Sát xung hội thì được Phú Quí song toàn đến vãn niên.

Thân Mệnh có Thái Âm ở hãm địa, không nên có Ác Sát chiếu vào, không thì khắc hại chồng con, lại yểu bần huyết khí hư tổn, hại tinh thần.

HẠN

Hạn gặp Thái Âm thì Tài Lộc phong dinh, trăm sự hanh thông, gã cưới thân nhân vui vẻ lại thêm con cháu.

Người thường thì nhà cửa thịnh vượng.

Hai hạn nên gặp Thái Âm, tiền tài nhà cửa lại tăng thêm, Phúc đức dày bền.

Nếu gặp Hỏa Linh cũng chiếu ắt bị quan tai không tránh được, lại bị bệnh hoạn.

Hạn có Thái Âm ở cung phản bối không nên có Dương Đà Tứ Sát lại ắt bị tối Hung, nếu không bị quan tai thì bị nhiều sự phá tán hối hận.

571. – THAM – LANG

Là Bắc Đẩu tinh thuộc Thủy, hóa Đào Hoa và Sát Mệnh có Tham – lang nhập miếu là người cao, mập mạp. Hãm địa là hình bé nhỏ, tiếng to mà cân nặng. Tính cách bất thường, tâm nhiều mưu kế, làm việc thích mau chóng không ưa tĩnh, làm việc thì khéo léo lại hóa ra vụng về, thích cờ bạc, tửu sắc. Ở Hãm Địa lại gặp Dương Đà Kỵ là cô bần phá hại lại tàn tật nhiều sẹo vết và nốt ruồi.

Nhập miếu thì phần nhiều chủ về Binh bi, võ nghệ gặp Hỏa Linh người sinh năm lục Quí thì không được lâu dài.

Đàn bà thì bình thường, nếu ở hãm địa thì thương phu khắc tử và bất chính phần nhiều là làm tỳ thiếp, đến làm Sư cũng không được thanh khiết.

Cung Tý Ngọ là vượng địa, người sinh năm Đinh Kỷ thì phúc hậu.

Cung Dần Thân người sinh năm Bính Mậu Canh là Hạ cục.

Cung Mão Dậu là lợi ích, gặp Tử Vi đồng cung có Hỏa Tinh thì Quí, người sinh năm Ất Tân Kỷ là được Tài Quan cách.

Cung Dần Thân là Hòa bình người sinh năm Canh là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi là nhập miếu có Vũ Khúc đồng cung gặp Hỏa – Tinh người sinh năm Mậu Kỷ Canh là Quí cách.

Cung Thìn Tuất là nhập miếu người sinh năm Mậu Kỷ là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là hãm địa gặp Liêm Trinh đồng cung người sinh năm Bính Mậu Nhâm là Phúc không lâu.

NAM MỆNH

Gặp ở Tứ Mộ thì Phúc nồng hậu, gặp thời là Tướng soái lập công ở biên cương, có Hỏa Tinh hội chiếu lại thành Quí cách danh tiếng lừng lẫy khắp mọi nơi lại được phong tặng.

Mệnh có Tham – lang cùng với Kình Dương, Đà – La, Sát tinh giao chiếu ắt bị khốn cùng.

Gặp Vũ Phá Liêm cùng với Sát Kiếp thì chỉ làm công nghệ đệ nhứt suốt đời.

Tham – lang được Miếu vượng ở Tứ Mộ, lại được Tả Hữu cũng chiếu giáp là Phú Ông, nếu có Khoa Quyền Lộc chiếu nữa thì Văn Võ toàn tài, hiển bách đại công.

NỮ MỆNH

Tham – lang tọa thủ Mệnh ở Tứ Mộ thì đa cát lợi, lại gặp Tả Hữu thì Quí, tài lộc phong phú, vượng phu ích tử, trí khí cương cường.

Gặp Tham – lang ở hãm địa, đàn bà mà gặp thì thật là xấu: y lộc tuy được đầy đủ nhưng là hạng bất lương, khắc hại những người lương thiện và con cái lại bị Cô sương (góa Chồng).

HẠN

Hạn gặp sao Tham – lang ở miếu địa ắt được sự đẹp đẽ, hòa thuận, về thi cử quan chức thì đỗ đạt thành tựu, ngay năm đó chắc có hoạnh tài. Hạn ở Tú Mộ có Tham – lang, nếu lại là người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi, nếu có Hỏa Tinh đồng tọa thủ ắt được hoạnh phát thì tự nhiên cơ hội đưa đến được Đại Phú Quí.

Hạn đến cung có Tham – lang ở Hãm địa thì rất hung không lành, nên sống một thời cẩn thận, có tiết độ hầu để bít bùng tai ương, họa hại qua khỏi, nếu bài bạc dâm đãng phong lưu thì tổn hại tiền tài. Gặp được Cát tinh ở ba phương chiếu lại thì tránh được tai họa.

Đàn bà gặp hạn Tham – lang cũng không tốt, chỉ người sinh năm lục Giáp thì tránh được tai ương, nếu không có Cát tinh hội chiếu thì chắc chết.

572. – CỰ – MÔN

Là Bắc Đẩu Tinh thuộc Thủy hóa Âm chủ thị phi, nhập miếu thì thân cao giài phì độn, đôn hậu thanh tú. Lạc hãm là người ngũ đoản, gầy ốm nhỏ người, làm việc thì hay nghi hoặc, học nhiều biết ít, giao du bạn bè, nhiều thị phi bôn ba lao khổ.

Hội với Tả Hữu Lộc Tồn, người sinh năm Quí Tân Mệnh ở cung Tý Hợi là Hợp cục.

Người sinh năm Canh Đinh, an Mệnh ở Thìn Tuất thì không Phú Quí.

An Mệnh ở cung Tý Ngọ người sinh năm Bính Mậu là cô quả yểu – vong.

Người sinh năm Lục Giáp mà có Kình Dương cùng nhập miếu tại cung Mão là Phá cục.

Tại cung Tý Ngọ an Thân Mệnh có Cự Môn tọa thủ là cách Thạch – trung ẩn Ngọc lại có Khoa Quyền Lộc hội là Phúc Hậu. Nếu hội với Phá Kỵ Dương Đà nếu không chết non thì trai là trộm cướp, gái chim chồng người.

Số đàn bà có Cự Môn nhập miếu thủ Thân Mệnh người sinh năm Quí Tân là hưởng Phúc.

Lạc – hãm là thương khắc chồng con, người sinh năm Đinh là cực kỳ dâm dật.

Mệnh Thân số đàn bà mà có sao Cự Môn tọa thủ là Hà – Điếm (là Ngọc có vết).

Cung Tý Ngọ là vượng địa người sinh năm Đinh Kỷ Quí Tân thì Phúc hậu, người sinh năm Bính Mậu là chủ khốn cùng.

Cung Mão Dậu là nhập miếu, người sinh năm Ất Tân là Tài Quan cách, người sinh năm Đinh Mậu là khi thành khi bại.

Cung Dần Thân là nhập miếu có Thái – Dương đồng cung người sinh năm Canh Quí Tân là Tài Quan cách.

Cung Thìn Tuất là Hòa – bình, người sinh năm Quí Tân thì Quí sinh năm Đinh là khốn cùng.

Cung Sửu Mùi không đắc địa, người sinh năm Quí Tân Bính là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là Vượng – địa, người sinh năm Quí Tân là Tài Quan cách.

NAM MỆNH

Mệnh an ở cung Tý Ngọ có Cự Môn tọa thủ ắt được Vinh – hiển, tam hợp có Khoa Quyền Lộc thì Quan cao Cực Phẩm làm đến Tể – tướng.

Nếu Lạc – hãm là hóa Ám không nên gặp, lại hội với hung tinh và Tứ Sát thì bị khẩu thiệt thị phi, lại có tính hung mãnh, nếu nhập miếu thì được yên.

Nếu gặp Kình Đà Hỏa Linh thì không tốt, có hung họa, tính người thì chậm lẹ nhưng hay điên đảo, trăm sự hoang mang không làm gì được.

NỮ MỆNH

Ở Vượng địa thì tốt, có Tả Hữu cũng chiếu là trường thọ, đàn bà là người thành thật quí hóa như Trân châu trong gia đình vậy.

Lạc hãm là người dâm dật, ca nhi, đổi chồng như thay áo, tướng mạo thanh kỳ lắm kẻ yêu. Nhưng không yểu tắc hung vong.

HẠN

Hạn gặp Cự Môn là Hóa Quyền – Tinh, cầm mưu thì việc lớn cũng thành, tuy có quan tai khẩu thiệt, nhưng Hung đổi ra Cát nên Mệnh được yên vậy.

Hay gặp ở cung Lạc Hãm ắt có chuyện buồn, nếu gặp Tang – môn thì công việc không chu toàn. Sĩ thứ, thường dân mà gặp thì hay có quan tụng, về Quan chức thì phải mất chức, hay ngưng chức.

Gặp hạn ở Hãm – Địa thì trái lòng, không làm gì cũng có quan phi phiền nhiễu, có chuyện buồn ra nước mắt liên tiếp phá tán hết tiền tài rồi chết.

572. – THIÊN – TƯỚNG

Là Nam – Đẩu tinh thuộc Thủy, hóa là cái Ấn chủ về Quan – Lộc, người đôn hậu trì trọng, thanh bạch, ưa tửu sắc, y lộc, phong túc.

Gặp Tử Phủ Tả Hữu Xương Khúc Nhật Nguyệt là Tài Quan song toàn làm đến Tam Công hội với Vũ Khúc, Phá, Dương Đà là làm Công nghệ, lại có Hỏa Linh Cơ Cự thì bị hình thương, bất thiên sao Thiên Tướng lạc Hãm địa ngộ Ác Sát tinh hóa ra cái Hung ác của sao Liêm – Trinh.

Thiên – Tướng nhập miếu tọa thủ Mệnh đàn bà thì người ôn hòa, y tóc được tọai lòng, ở Hãm địa là tăng đạo truân chuyên vất vả thì tốt.

Cung Tý Ngọ là nhập miếu gặp Liêm Trinh người sinh năm Đinh Kỷ Quí Giáp là Tài Quan cách.

Cung Mão Dậu là Hãm địa người sinh năm Ất Tân thì Cát, sinh năm Giáp Canh thì khốn cùng.

Cung Thìn Tuất là đắc địa gặp Tử Vi là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi là nhập miếu, Mùi cung đắc địa gia Cát tinh là Tài Quan cách.

Cung Dần Thân là nhập miếu gặp Vũ Khúc người sinh năm Đinh Giáp Canh là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là đắc địa người sinh năm Bính Mậu Nhâm là Tài Quan cách.

NAM MỆNH

Mệnh Thân có Thiên – Tướng thủ chiếu thì tốt lắm, làm quan đến Tể – tướng tam hợp có Cát tinh là Phúc lớn.

Người có sao Thiên Tướng thủ Mệnh là người không vị kỷ Tai, Quan Lộc Vượng, đương thời Quyền Lộc toại ý, toại lòng. Nếu gặp Phá Vũ Dương Đà Hỏa Linh thì Hung, hoặc làm Kỹ – Nghệ, kinh doanh thương mại, nên ở “Không môn” thì hưởng phúc.

NỮ MỆNH

Đàn bà có Thiên – Tướng thủ Mệnh là người thông minh trăm sự đều được yên ổn; Y lộc phong túc, tài bạch sung túc, vượng phu ích tử, hiển hách ở môn đình. Gặp Phá – Quân, Thất – Sát lại có Dương Đà Hỏa Linh thì tối kỵ ắt bị cô hình khắc hại, không có người thân thích, là hạng nô tỳ, khắc phu hại tử.

HẠN

Hạn gặp Thiên – Tướng, chủ Tài không sợ tai nạn, mưu sự gì đều được toại ý, làm chơi hóa thật mà được hưởng phúc tự nhiên. Nếu gặp Ác tinh như Dương Đà, Không Kiếp tương hội thì bị khẩu thiệt tai quan, họa liên miên.

Hạn đến cung có Thiên – Tướng gặp Kình Dương thành có Tai họa gớm ghê không thể chịu nổi, lại còn có Hỏa Linh, Tứ Sát thì chắc chết.

574. – THIÊN LƯƠNG

Là Nam Đẩu tinh thụôc Thổ, hóa Âm chủ Thọ, người hậu trong thanh tú, thông minh, cảnh vẻ, ngay thẳng không có khuất khúc, ưa làm phúc bố thì sống lâu. Gặp Thiên – Cơ là ở nơi “Hàn uyển dâm Binh” là người mưu sĩ xuất phàm có Tả Hữu Xương Khúc gia hội là số người Xuất Tướng Nhập Tướng. Được nhập miếu là cách Phú – Quí. Nếu ở hãm địa ngộ Hỏa Dương là Phá cục là cách Hạ Tiện, cô quả yểu bần, Phùng Thiên Cơ Hao Sát là người thanh nhàn tăng đạo, nếu không thì bị chế khắc.

Người sinh năm Lục Nhâm an Mệnh ở Hợi Mão Mùi có Thiên – Lương tọa thủ thì Phú – Quí song toàn.

Đàn bà có Thiên – Lương an Mệnh thì có chí khí như đàn ông, nhập miếu thì Phú – quí, ở Hãm – địa gia Sát thì thương Phu khắc Tử và dâm đãng.

Cung Tý Ngọ là nhập miếu, người sinh năm Đinh Kỷ Quí thì Phúc hậu, là Tài cách.

Cung Mão là nhập miếu, cung Dậu đắc địa gặp Thái Dương người sinh năm Ất Nhâm Tân là Tài Quan cách.

Cung Dần nhập miếu, cung Thân là Hãm địa gặp Thiên – Cơ người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh là Tài Quan cách.

Cung Thìn Tuất là nhập miếu gặp Thiên – Cơ người sinh năm Đinh Kỷ Nhâm Canh là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi nhập miếu là người sinh năm Nhâm Ất là Tài Quan cách, người sinh năm Lục Mậu thì Đại quí.

NAM MỆNH

Sao Thiên Lương là sao Trung Cường (cương vừa). Hình thần ẩn – trong, tính ôn lương, hội có Tả Hữu Xương Khúc là người được Phú Quí, làm quan trong triều đình. Thiên Lương là Thọ Tinh gặp Cơ Nhật Tả Hữu Văn Xương nhập miếu ở cung Tý Ngọ Dần là làm quan thanh hiển đến Tam Công.

Gặp Hỏa Tinh lạc ở nhàn cung, có Đà Sát nữa thì hung cô hình, dại tật, phá gia tài chỉ nên làm Kỹ nghệ không thì ở Không Môn.

Cơ Lương cư Thìn Tuất làm quan không phải chức nhỏ, gặp Phá – Quân Mão Dậu phải người lương thiện, Đàn bà gặp là người cô độc, khắc tử hình phu chủ lãnh phòng (phòng lạnh lẽo là góa bụa).

HẠN

Thiên – Lương hòa với Cát tinh, hai hạn mà gặp ắt được phúc nhiều, lại ở cung miếu vượng thì quí đến cực phẩm, làm Đống – Lương trong nước.

Hạn đến Thiên – Lương thật là hiền lương như mùa thu bông cúc trổ mùi hương, làm quan thì được thăng chức và thêm lương lộc, thứ dân thì lương tiền no đủ.

Hạn gặp Thiên – Lương thì Thọ, làm việc cầu mưu ắt cát sương. Nếu gặp Hỏa Linh Dương Đà, nên phòng sự khuynh gia bại sản

575. – THẤT – SÁT

Là Nam – Đẩu tướng tinh, thuộc Hỏa đái kim, gặp Tử Vi là Quyền tính, còn dư là Sát tinh, người mắt to, tính mau mắn bất thường, vui giận bất nhất, làm việc lui tới thì trầm ngâm.

Ở cung Miếu – Vượng là người có mưu lược. Gặp Tử Vi là người có Quyền Bính về Bịnh bị làm Vũ chức thì lợi gặp thêm Tả Phù, Xương Khúc Khôi Việt thì vị đến Cực Phẩm. Lạc vào cung có Không Vong thì lại không có uy lực ngộ hung tinh ở cung sinh nó thì làm Đồ Tể, hội với Hình Tú là bị thương khắc.

An Mệnh ở cung Dần Hợi Tị Ngọ người sinh năm Đinh Kỷ thì hợp cục. An ở cung Thân người sinh năm Lục Canh thì Cát nếu ở cung Tý Ngọ Dần thì không hợp, người sinh năm Nhâm Canh Ngọ Tuất, lục Bính lục Mậu thì Trung bình. Có Dương Đà Hỏa Linh xung hội, tại hãm địa thì tàn tật, và là Hạ cục, tuy Phú phí mà không lâu.

Đàn bà Mệnh có Thất Sát nhập miếu gia Quyền Lộc thì vượng phu ích tử, ở hãm địa ngộ Dương Hỏa thì thương khắc, hạ tiện.

Cung Tý Ngọ là Vượng địa, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp là Tài Quan cách.

Cung Mão Dậu là Vượng địa có Vũ Khúc người sinh năm Ất Tân là Phúc hậu Tài Quan cách.

Cung Dần Thân là nhập miếu người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là Hòa – bình gặp Tử Vi đồng cung người sinh năm Bính Mậu Nhâm là Phúc hậu.

Cung Thìn Tuất nhập miếu gia Cát tinh là Tài quan cách.

Cung Sửu Mùi là miếu gặp Liêm – Trinh gia Cát tinh là Tài quan cách.

NAM MỆNH

Sao Thất Sát ở cung Tý Ngọ Dần Thân là bực anh hùng, Tây man di phải chắp tay bái phục (đây chỉ man di hướng Tây, hướng Tây thuộc Kim: Thất Sát là Hỏa khắc Kinh, nên nói Tây Man – di sợ vậy – Học giả nên lấy đó làm ví dụ để luận bàn những chỗ thắc mắc và nhờ đó Lý Học ắt rõ ràng và có thể đưa các bạn lên đến bậc Cao Siêu).

Gặp Tả Hữu Khôi Việt Sương hội có Khoa Lộc thì danh cao, lương lộc đến muôn chung.

Sát ở Hãm địa thì sự hung họa không thể nói được như ôm hổ ngủ, nếu Sát mà cường mạnh thì không có gì chê nổi, thiếu niên ắt bị chết đuối ở Hoàng Tuyền. Thất – Sát tọa Mệnh lạc nhàn cung gặp Cự Dương Đà chiếu xung hợp nếu không bị thương tổn chân tay thì đến gẫy xương chỉ có tăng đạo ở cửa Thiền thì mới hưng long.

NỮ MỆNH

Nữ Mệnh mà gặp Sao Thất – Sát, thì bình sinh làm việc rất thông minh, khí cao trí lớn, không thua bậc mày râu. Lạc vào Hãm địa thì không tránh khỏi hình phu, khổ sở đắng cay. Thất Sát là Cô tinh gặp Tham Lang ngộ Hỏa Đà không được Quí đàn bà mà gặp là bất lương, chủ thay chồng hay làm nô tỳ.

HẠN

Nhị hạn phùng Thất Sát miếu vượng là gia đạo được hòa khí phát đạt, đối cung có Thiên Phủ chính chiếu lại, sĩ hoạn ắt được hiển đạt.

Hãm địa thì nhiều chuyện buồn bực, làm việc gian nan rất thất bại, nếu trong cung lưu bạn lại có ác tinh nữa là chủ quan tai nhiều bệnh tật.

576. – PHÁ QUÂN

Là Bắc đẩu tinh thuộc Thủy, hóa Hao Tinh chủ Thê Tử, Nô Bộc. Người hình ngũ đoản, lưng đầy, mi thưa, lưng vẹo, tính cương, ít giao du, tranh đấu, cưỡng bỏ tổ tông, phát phúc thích săn bắn.

Hỉ gặp Tử Vi vị chí Tam Công người sinh năm Bính Mậu Dần Thân, Mệnh tọa cung Tý Ngọ có Phá Quân thì cô đơn tàn tật, tuy Phú – Quý nhưng không lâu, yểu – triết. Người sinh năm Bính Mậu, Mệnh tọa Thìn Tuất Sửu Mùi gặp Tử Vi thì được Đại phú quí, ngộ Liêm – Trinh Dương Đà Hỏa Linh ở Hãm địa là người thich tranh đấu, nhiều tật bịnh nên đi tư.

Đàn bà an Mệnh ở cung Tý Ngọ nhập miếu thì có Tật bịnh, Hãm địa gia Sát là Hạ tiện dâm dục.

Cung Tý Ngọ là nhập miếu, người sinh năm Đinh Kỷ Quí là phúc hậu, người sinh năm Bính Mậu là khốn cùng.

Cung Mão là lợi Dậu là đắc địa gặp Liêm Trinh, người sinh năm Ất Tân Quí thì Lợi ích, người sinh năm Giáp Canh Bính thì không bền.

Cung Thìn Tuất là Vượng địa, người sinh năm Giáp Quí là Phúc.

Cung Dần Thân là Hãm địa, người sinh Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi là Vượng địa gặp Tử Vi, người sinh năm Bính Mậu Ất là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là Hòa bình người sinh năm Mậu là Phúc Hậu

NAM MỆNH

Mệnh có Phá Quân, Thất Sát hội với Tham Lang ở cung nhập miếu là người anh hùng của thế hệ không ai đương đầu nổi.

Mệnh của Quan Vân Trường gặp Phá Quân nên làm Thượng Tướng, người thường thì giàu có, ruộng nương nhà cửa nhiều.

Phá Quân ở cung Tý Ngọ hội với Văn Xương Tả Hữu đều nhập miếu là người rất khẳng khái, tài bạch phong dinh, làm tướng phó tá Quân Vương.

Phá Quân là sao ít người đương nổi, hỉ gặp Khoa Quyền Lộc, nếu ở Hãm địa lại Gia Sát là người bỏ tổ tông Xuất ngọai, không nên an nó ở cung Thân (Mệnh) gặp Liêm Hỏa Dương Đà hội lại thì hung hại, không bị tai ương tàn khốc thì yểu – triết.

NỮ MỆNH

Phá Quân ở cung Tý Ngọ là nhập miếu, đàn bà gặp thì được Phúc Thọ, tính cách hơn người nhưng hay thay đổi, vượng phu ích tử, danh tiếng lẫy lừng.

Đàn bà không nên gặp Phá Quân ở Mệnh lạc hãm, lại gặp Kình Dương ắt rất Hung, khắc hại chồng hiền không phải chỉ một lần, nên “chiều chiều sầu cảm khóc thầm thương”.

HẠN

Hạn gặp Phá Quân nên suy cho kỹ, miếu vượng thì được Phúc Lộc sương, lại gặp Xương Khúc Khôi Việt hạn gặp thì cực kỳ là Vinh quang, gặp Sát thì phùng sự phá bại, nên phòng Thê Tử hay mình có khi chết.

Hạn gặp Phá Quân về đàn bà thì chủ về máu huyết, hãm địa thì chủ sự mất mác trái lòng không thể nói được, đàn bà sợ có đại tang, không thì bị nạn về sanh đẻ gặp tai ương.

577. – VĂN XƯƠNG

Là Nam Bắc đẩu tinh thuộc Kim, là Văn Khôi Tinh, Mệnh có Văn Xương tọa thủ là người có cặp mắt thanh tú phân minh, cơ sảo học hành lỗi lạc, hội với Thái Dương, Lương Lộc Tồn ở Tài Quan hợp chiếu thì Phú quí, trước khó sau dễ. Ở Hãm địa gia Dương Hỏa là người làm công nghệ khéo, ngộ Kình Đà Linh là đái tật cũng được sống lâu, mặt dỗ, ở Vượng Địa thì có nốt ruồi kín.

Đàn bà Mệnh nhập miếu vượng thì bình thường, gia cát tinh thì phú quí. Ở Hãm địa ngộ Hỏa Dương Cự Cơ Sát Kỵ là hạ tiện, dâm dục ca kỹ, nô tỳ.

Cung Dần Ngọ Tuất là hãm địa, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh là Tài quan cách.

Cung Thân Tý Thìn là đắc địa, người sinh năm Quí Canh Giáp là Quí cách.

Cung Tị Dậu Sửu là nhập miếu người sinh năm Ất Mậu Tân là Đại quí.

Cung Hợi Mão Mùi là lợi ích người sinh Ất Mậu là Tài quan cách.

NAM MỆNH

Ở cung Vương Địa Mệnh có Văn Xương tọa thủ là có Tài cao Trí lớn đáng muôn kim, văn nghệ tinh hoa tám tráng đại là cách “Bình Bộ thượng Thanh Vân” (đi bộ lên được mây xanh, phát Công khanh dễ dàng).

Văn Xương thủ Mệnh thì thật là phi thường, hạn đến thì không sợ yểu thương mà lại Phúc thọ lâu dài, chỉ sợ hạn xung phùng Hỏa Kỵ nếu không yểu triết ắt bị hình thương.

NỮ MỆNH

Nữ nhân Thân Mệnh có Văn Xương là người đẹp đẽ thanh kỳ, phúc lại bền, tam hợp đối xung có Tử Phủ chiếu ắt được Phú quí và phong tặng.

Văn Xương cư Mệnh lại ngộ Liêm Trinh ở Hãm địa lại có Hình Hỏa Kỵ nếu không hóa chồng thì ắt yểu vong.

HẠN

Sao Văn Xương là sao rất thanh tú, hàng sao thứ nhì của Đẩu Số, nếu gặp Thái Tuế trong hai hạn là học trò chiếm Bảng vàng. Nếu hạn không đắc địa lại có Dương Đà Hỏa Linh Kỵ thì bị quan tụng khẩu thiệt mà phá tán gia tài chưa hết hình thương lại bị nhiều sự che ám đình trệ.

578. – VĂN – KHÚC

Là Bắc Đẩu tinh thuộc Thủy, là Tý Khoa Giáp

An Mệnh cùng với Văn Xương gặp Cát tinh chủ người Khoa Bảng. Tọa một mình ở Thân Mệnh lại có Ác Sát hợp lại là người không có tên tuổi, hèn kém phụ tiếp người sinh năm Lục Giáp, an ở cung Tị Dậu Sửu là Quí cách làm đến Hầu Bá. Lại cùng với Tham Lang Hỏa Tinh đồng cung hay tam hợp ở Miếu Vượng Địa là Mệnh Lưỡng Tướng.

Nếu gặp Vũ Tinh Phá Sát lâm ở Hãm địa là táng Mệnh chi ách (chết non)

Có Đồng Lương Vũ hội ở vượng cung là người thông minh quả quyết. Như gặp Dương Đà Hỏa Linh xung phá chỉ nên đi tu.

Ở Vượng địa thì có nhiều nốt ruồi kín, hãm địa thì mặt bị rỗ hay nhiều sẹo.

Đàn bà Mệnh nhập miếu địa có Văn Khúc tọa thủ là người thanh tú, nếu ở hãm địa có Cự Hỏa Kỵ Cơ chiếu hội, có Tham Phá đồng cung xung phá là người hạ tiện, cô quả, dâm dục.

Cung Dần là bình hòa, Ngọ Tuất là hãm địa người sinh năm Giáp Canh là Tài Quan cách.

Cung Thân Tý Thìn là đắc địa người sinh năm Đinh Quí Tân Canh là phúc hậu

Cung Tị Dậu Sửu là nhập miếu, người sinh năm Tân gặp Tử Vi là Đại phú quí.

Cung Hợi Mão Mùi là vượng địa, người sinh năm Tân Bính Nhâm Mậu là Tài quan cách.

NAM MỆNH

Văn Khúc thủ Mệnh thì người hiền lành, tướng mạo đường đường trí khí hiên ngang. Là Sĩ Thứ gặp thì được Phúc hậu, người Trượng Phu ắt được phong tặng Kim chương. Nếu gặp Hỏa Kỵ và Ác tinh tụ hội là người bẻm mép hay nói, chỉ ở “Không môn” thì được Quí hiển.

NỮ MỆNH

Đàn bà Mệnh có Văn Khúc là người tướng mạo thanh kỳ phúc hậu, thông minh lanh lợi không phải là người tầm thường. Nếu bị Hãm địa gặp Sát Tinh thì bỏ chồng và dâm dục.

HẠN

Hai hạn gặp Văn Khúc, Sĩ Thứ thì phát phúc, lại có Tả Hữu Thiên Đồng hội chiếu thì tài lộc thao thao bất tuyệt là Thượng Cục.

Hạn có Văn Khúc có cả Liêm Dương Đà lạc hãm nếu không phải tai ắt họa ương.

Nếu Mệnh ở nhược cung ắt năm đó chết.

579. – TẢ – PHỤ

Là Nam Bắc đẩu tinh thuộc Thổ là sao Thiện, phó tá Lệnh Quân Vương. Nếu gặp Phủ Tướng Sương Tham Vũ hội lại, hay có Hữu Bật đồng cung thì đại Phú Quí, Tài Quan song mỹ. Nếu gặp Dương Đà Hỏa Kỵ là Trung cục, ở cung Vượng là có nốt ruồi. Gặp Tam Sát ở hãm địa gia Cự Môn Thất Sát, Thiên Cơ là Hạ cục.

Đàn bà Tả Phụ thủ Mệnh có Cát tinh thì vượng phu ích tử, làm Tăng đạo thì thanh khiết.

NAM MỆNH

Tả Phụ là Tôn Tinh hay dáng phúc, là người long lưu đôn hậu, thông kim bác cổ, có Tử Phủ Quyền Lộc Tham Vũ hội lại, làm Văn – quan, Vũ chức đều là thanh quí.

Gặp Dương Đà Hỏa Linh ba phương chiếu lại, nếu có Tài Quan lại không phải triệu cát tường, lại gặp Liêm Phá Cự xung lại, nếu không bị thương tàn ắt bị yểu vong.

Nữ phùng Tả phụ chủ người hiền hậu hay làm lụng siêng năng, có trí khí cao, lại hợp với Tử Vi và Thiên Phủ ắt được phong tặng kim khôi vinh diệu.

Gặp Hỏa Đà thì bất lương, gặp Thất Sát, Phá Quân thọ không lâu, số phải bỏ chồng mới được phú túc người thông minh, về già còn lắm kẻ chuộng người yêu.

HẠN

Hạn gặp Tả Phù thì Phúc đầy, người thường thì giàu có thiên kim. Làm quan mà lại có Khoa Quyền chiếu thì chức vị được thăng lên Phò Tá Thánh Quân.

Không nên gặp Sát tinh chủ bi ai, sầu khổ, gặp Hỏa Linh Không Kiếp thì tài phá nhân vong, công việc xung bại.

580. – HỮU BẬT

Là Nam Đẩu tinh thuộc Thổ, sao Thiện, là sao phò tá các lệnh của Tử Vi.

Nhập miếu thì được hậu trọng thanh tú, cảnh vẻ thẳng thắn tâm tính khoan hồng, ưa điều phước thiện, người đa mưu túc kế, ở vào các cung khác là đáng phúc. Ở vào Tứ Mộ lại càng tốt thêm, nếu hội với Tử Phủ Tướng Xương Khúc thì chung thân phúc thọ, nếu gặp các Sát tinh và Dương Đà Hỏa Kỵ xung hợp là Phúc bạc cũng chưa đến nỗi là hung, nhưng có nốt ruồi kín, sẹo rỗ, thương tàn đái tật.

Đàn bà có Hữu Bật tọa thủ Mệnh hội có Cát tinh là vượng phu ích tử tăng đạo thì thanh khiết.

NAM MỆNH

Hữu Bật với Thiên Cơ là Thượng tể tinh, mệnh phùng thì người trọng hậu tối thông minh, nếu không có Dương Đà Hỏa Kỵ hội, lại thêm Cát tinh là bậc Anh hùng cái thế Tài Quan đại quí.

Hữu Bật là Tôn Tinh nhập Mệnh cung nếu có Sát Tinh là người thường. Gặp Dương Đà Không Kiếp nếu bị đái tật thì miễn tai hung.

HẠN

Hạn gặp Hữu Bật thì tốt vĩnh viễn là người có tài năng thì rất thịnh vượng, làm quan được cất nhắc, nhà sư thì vui cùng đạo đức. Sĩ thứ ắt được hiển danh. Gặp Hung tinh ắt khuynh gia bại sản, đến hết như người quét sạch, trăm sự đều bất thành. Học trò, nhà sư thì bị thương hại, tớ khinh Thầy, chủ phá gia tan nát.

571. – LỘC – TỒN

Là Bắc Đẩu tinh thuộc Thổ, là Tước ti, Quí tinh là người trì trọng tâm từ thiện, tình cảm trực, có tài cơ biến, đa học đa năng. Chủ Phú quí, là văn nhân có thanh danh; ở các cung khác thì đáng phúc, tiêu tai nạn, bỏ tổ tông. Ở Hãm địa thì giảm phúc. An ở cung Mệnh, Quan Lộc, Điền Trạch là Phúc Đức.

Đàn bà là người thanh bạch, đẹp đẽ có trí khí đàn ông.

NAM MỆNH

Người Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ thì có tính cương cường cứng rắn, trăm sự đều thành, làm Quan phải đổi, gặp Xương Khúc hội lại thì y Lộc thao thao, hiển đạt ở Môn đình.

Nếu gặp Đà Hỏa ắt phúc bất toàn, gặp Thiên Cơ Không Kiếp Kỵ chỉ có nhà Sư mới được thanh nhàn.

NỮ MỆNH

Lộc Tồn an Mệnh gặp Tử Phủ thì trăm sự đều được yên ổn, lại gặp Đồng Trinh tất là hạng Phu Nhân.

An ở cung Hãm có Không Kiếp Linh Hỏa thì tất là có tai nạn, nếu không có Cát Tinh đến chiếu thì vợ chồng ắt phải phân ly nhau không hợp.

HẠN

Hai hạn gặp Lộc Tồn chủ rất lành, làm việc cầu mưu ắt Cát Tường. Trong Sĩ Hoạn mà gặp thì bị nhiều sự thuyên chuyển thay đổi, thứ dân gặp thì được lương tiền đầy đủ.

Gặp Lộc Tồn ắt được sống lâu, làm việc mưu kế vạn sự đều được vinh sương, lại gặp Khoa Quyền Tả Hữu thì giàu có đầy kho đụn, chủ Phú túc, về gả cưới ắt lại thêm con nối dõi, lại gia Khoa Lộc đồng cung ắt hưởng vinh hoa phúc hậu.

Hạn gặp Lộc Mã giao trì chỉ sợ Kiếp Không, nếu lại có Thái Tuế và Ác Tinh xung chiếu thì hạn năm đó chắc chết.

582. – KHÔI – VIỆT

Là sao Thiên Ất Quí nhân thuộc Hỏa, an ở cung Thân Mệnh, lại được Cát tinh tam hợp thủ chiếu tất thiếu niên đăng khoa cập đề. Nếu gặp Hung Kỵ lại không phải là hạng Văn nhân quán thế, may ra làm được thầy giáo là cùng.

Hạn mà gặp thì chủ thanh cao, danh thành lợi đậu.

An ở Thân Mệnh nếu không Phú quí thì là người rất thông minh, tú lệ thanh bạch, có uy quyền mà người ta nể sợ, là người có dáng uy nghi.

Đàn ông lại gặp được nhiều Cát tinh là Tể tướng, đàn bà là hạng Mệnh phụ tề gia nội trợ giỏi. Nếu gặp Hung Sát Tinh thì cũng chủ Phú quí.

HẠN

Khôi Việt ở Mệnh Thân mà hạn gặp thì được Cát sương người thường gặp thì lương tiền đầy đủ, làm quan thì đựơc lên cao chức phận, ắt định đương niên được chầu Đế Vương.

583. – KÌNH – DƯƠNG

Là Bắc Đẩu tinh thuộc Hỏa kim, là Phù Tinh (Phù: lớp ở ngoài) hóa Hình. Nhập miếu là Quyền Quí là người to mình thô, tính cương cường quả quyết, thích dũng mãnh, lắm cơ mưu, kiêu căng gian trá, Hoạnh lập công danh, thường đoạt quyền người Quân Tử.

Người sinh hướng Tây Bắc là Hợp là Phúc. Mệnh nên ở Tứ Mộ là miếu địa, lại hội với Nhật Nguyệt là trai khắc vợ, gái khắc chồng. Hội với Xương Khúc Tả Hữu là có nốt ruồi kín, sẹo.

Nếu ở Mão Dậu là Hãm địa thì tác họa thương tàn bị đui mù.

Người sinh lục Giáp, lục Mậu, Mệnh cư Dần Thân có Kình Dương tọa thủ là cô đơn, không giữ được Tổ nghiệp mang hai họ thì sống lâu, làm nghề khéo léo.

Gặp Liêm Cự Kỵ ở Hãm địa thì mang ám tật hoặc ở mặt, chân, tay có thương tàn, về già không tốt một đời hay chiêu hình họa bĩ.

Đàn bà có Kình thủ Mệnh Thân miếu vượng là Quyền quí, ỡ hãm địa là thương phu khắc tử, có thêm Cô Hình Phá nữa là Hạ cách dâm dục.

Cung Tý Ngọ Mão Dậu là hãm địa.

Cung Dần là đắc địa.

NAM MỆNH

Trước Lộc Tồn một vị là Kình Dương, là Thượng Tướng mà gặp Kình Dương lại là thêm Phúc Lộc, quí nhân thủ chiếu là nắm giữ Bính Quyền Vạn lý giữ Hoàng gia.

Người tính cương cường, Mệnh tọa Tứ Mộ có Kình Dương thì Phúc thọ trường cửu, nếu được Tử Phủ hội hợp thì giàu có đầy kho.

Kình Dương mà lạc vào nhàn cung gặp Đà Hỏa xung chiếu là Hung, lại Thân Mệnh cùng có Kiếp Sát ắt bị chết giữa đường.

NỮ MỆNH

Đàn bà gặp sao Bắc Đẩu Phù tinh lại có Hỏa Cơ Cự Kỵ ắt là hạng thường. Ba phương có xung sát chiếu lại không yểu triết thì cũng bà đào giang hồ.

HẠN

Gặp ở hai hạn phải xem cho kỹ, người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi ắt miễn được tai ương, được Tài Quan hiển đạt, phúc được lâu dài.

Gặp Kình Dương ở Thiên La (cung Thìn) và ở Địa Võng (cung Tuất) hai hạn gặp nhau thì hoạn lớn. Nếu Mệnh cung Chủ Tinh suy nhược thì chỉ đau một bịnh là chết.

Kình Dương gia Sát tinh thật là hung.

Hai hạn gặp ở trong cung hãm thì khắc Tử hình Thê bán ruộng nhà, bị Đồ, Lưu Sứ hay lìa vợ mà tùng chinh.

584. – ĐÀ – LA

Là Bắc đẩu tinh thuộc Hỏa đái kim, hóa Kỵ Tinh. Nhập miếu ở cung Thân Mệnh là người “hùng”, tính ương ngạnh thô tục. Gặp Phá Tướng là người trí khí cao cường hoạnh phát, hoạnh phá, không giữ được Tổ nghiệp, là người lông bông, vô nghề nghiệp, hối hận ăn năn, hữu thủy vô chung. Người ở Tây Bắc thì hợp là Phúc. Người sinh Thìn Tuất Sửu Mùi, hay Mệnh tọa ở Tứ Mộ Cung có Cát tinh thì nhiều là Phúc hội với Nhật Nguyệt (2 sao kỵ nhất) thì trai khắc vợ, gái khắc chồng, lại gặp Hóa Kỵ nữa là người đui mù. Hội với Tả Hữu Xương Khúc có nốt ruồi kín. Nếu không có chính tinh mà một mình Đà La thủ Mệnh là người Cô đơn bỏ tổ tông, thay họ, giỏi về công nghệ, hoạt bác. Nếu ở Hãm cung phùng Cự Sát tất thương Thê khắc Tử, bội nghĩa lục Thân và còn thương Thê khắc Tử, bội nghĩa lục Thân, và còn thương tàn đái tật, làm tăng đạo thì tốt.

Đàn bà thì trong bụng như lang sói, ngoài thì giả dối, thương Phu khắc Tử, bất hòa lục Thân không còn có Liêm sĩ nữa.

Cung Thìn Tuất Sửu Mùi là nhập miếu, người sinh Thìn Tuất Sửu Mùi là lợi.

Cung Dần Thân Tị Hợi là hãm địa.

NAM MỆNH

Mệnh có Đà La thì hợp với người sinh năm Tứ Mộ được Tử Phủ Sương hợp thì Tài Lộc được phong dinh, danh giá lừng lẫy

Đà La ở hãm địa thì khỏi nói sự hung hại, nào khẩu thiệt, quan phi một đời không hết, tài tán người ly, Thành cô độc, làm sự gì cũng không vừa lòng.

NỮ MỆNH

Đàn bà mà gặp Đà La, gặp được Cát tinh thì người hình dung, dâm đãng, lại có Hung Sát ba phương cùng chiếu phá, nên phòng sự biệt ly.

HẠN

Hạn gặp Đà La thì sự lôi thôi rất nhiều, tất nhiên phải nhẫn nại và cần phai khiêm hòa nếu không có Cát diệu chiếu hợp thì chỉ “Nhất Mộng Nhập Nam Kha” (chết) Kình Đà mà Giáp Thân Mệnh lại có Hỏa Linh Không Kiếp và Thiên Tướng thì hình Thê khắc Tử không lành vậy.

585. – HỎA TINH

Là Nam đẩu Phù tinh thuộc Hỏa, là người tính cương cường xuất chúng, môi răng và chân tay có thương tích, lông tóc kỳ lạ, hình dáng khác nhau. Lâm vào các cung đều là không tốt, chỉ duy có sao Tham Lang ở Miếu vượng địa ắt có ngay lập Võ công ở biên thùy là Tài Quan cách; người sinh ở Đông Nam phương thì lợi, không lợi cho người ở Tây Bắc phương và người sinh năm Dần, Mão, Tị, Ngọ thì hợp họa nhỏ.

Lại có Kình Dương thì cường bạo tai nguy, có khắc là Hạ cục, mang hai họ thì đỡ tai ương.

Đàn bà thì tâm độc, trong lòng như lang sói, ngoài thì không thực, hình Phu khắc Tử, Mệnh đàn bà không nên gặp Hỏa Tinh, nếu có thì nhiều thị phi dâm dục hạ tiện.

Người sinh năm Dần Ngọ Tuất thì vừa vừa, có họa nhỏ.

Người sinh năm Thân Tý Thìn là Lạc hãm thì tai hại hối lẫn khốn cùng.

Người sinh năm Tị Dậu Sửu là đắc địa thì tốt.

Người sinh năm Hợi Mão Mùi là lợi ích thì tốt phát phúc nhiều.

HẠN

Hạn có Hỏa Tinh đắc địa là có sự vui vẻ đầy nhà, mọi sự đều được hanh thông, làm quan thì phát phúc, thứ dân thì tiền tài phong phú.

Hỏa tinh là một sao có tính cách tráo trở, ở hãm địa thì tự nhiên bị quan tai nguy hiểm, khắc hại lục thân, không tránh khỏi phá tài, gian lao tâm khổ.

586. – LINH TINH

Là Nam Đẩu Phù Tinh thuộc Hỏa, tính độc ác, Hình thần phá tướng, có gan lớn hơn người.

Người sinh năm Dần Ngọ Tuất là có Quyền Quí.

Người sinh hướng Đông Nam thì cũng lợi và hạn đến thì Phúc đức. Người sinh hướng Tây Bắc thì hạn thành rồi bại tuy phú quí mà không bền. Nhập miếu ngộ Tham Lang Vũ Khúc thì làm Tướng trấn biên di, lại hội với Tử Phủ Tả Hữu không Quí thì Phúc. Như hãm Yểu Triết phá tướng, thọ nhưng phải ly tổ làm con nuôi họ khác.

Đàn bà thì tính tình cương ngạnh, nghịch với Lục Thân thương hại, chồng con, gặp được sao tốt nhiều thì được Phong túc.

HẠN

Hạn gặp Linh Tinh hội với Tham Lang thì Phúc rất nhiều, nhập miếu lại gặp nhiều sao tốt thì Phú quí rất lớn, tiếng tăm xa gần nơi nơi đều ca tụng.

Ở nơi hãm địa là một sao không thể đương nổi, hạn gặp chắc phải điên cuồng, không có sao tốt chiếu hội, chưa tránh được tai này thì họa kia đã tới.

587. – HỎA LINH an NAM MỆNH

Ở Miếu địa thì nên gặp Tử Phủ Tham Lang là người tính mau mắn có uy quyền trấn giữ ở Biên thùy sau ắt quí.

Hai sao tại Mệnh lạc vào nhàn cung, người sinh ở Tây Bắc phương là người thường thường ắt bị phá tán gia tài rất mau, mang tật thì tránh được họa hung.

NỮ MỆNH

Có Hỏa Linh an Mệnh ngộ Tham Lang thì được vui vẻ, hòa khí. Ba phương hợp lại không có Sát Tinh thì việc gì cũng đẹp đẽ, con nhà khuê cát ắt được toại lòng ước mong.

Hỏa Linh Lạc hãm ắt đương không nổi, nữ Mệnh mà gặp thì chủ thương tàn, ba phương chiếu lại có nhiều Sát tinh, phải phòng kẻ dưới phản trắc giết chết.

HẠN

Hạn gặp Hỏa Linh cùng Tham Lang tương hội thì Phúc rất nhiều, lại được Cát tinh thì nhiều Quyền Bính, phú quí thanh danh xứ xứ ca.

Ở hãm địa thì bịnh nhọt, ứ huyết sâm. Mất mác không thể kiểm, khẩu thiệt quan tai không tránh được.

588. – ĐỊA – KIẾP

Là Thần Kiếp Sát thuộc Hỏa, tính cẩn thận, hậu trọng làm việc như điên cuồng, động tĩnh thì tăng ác không theo chính đạo, làm việc gian tà, có Cát tinh hội chiếu thì hợp nhỏ, gia cát ít thì yểu vong.

Đàn bà gặp thì bỏ chồng, làm nô tỳ ca kỹ mà thôi.

NHẬP MỆNH

An ở Mệnh là chủ phát tật, bị nhiều điều buồn bực tức tối. Nếu lại gặp Dương Hỏa thì bị cay đắng, trong nhà phải phòng nội thất (vợ).

HẠN

Hạn phùng Địa Kiếp ắt trong năm có họa nguy. Gặp thêm Thái Tuế và Sát tinh ắt nhiều Tật nguy, gặp sao Quan phù là có việc mang đến cửa Quan.

589. – THIÊN – KHÔNG (Thiên Địa Tuần Triệt Không)

Là Thần Không Vong, an ở Thân Mệnh là người tính tôn trọng cẩn hậu, làm việc thì đến hư hỏng, không theo chính đạo, thành bại đa đoan bất tụ tài, xa tổ ấm thì Vinh sương. Gặp nhiều Không thì không tốt gọi là Đoạn Kiều (gẫy cầu tức là bỏ chồng hay vợ) thì mới tốt, ắt họa nhẹ. Có Sát tinh ít là người thường, nhiều là hạ tiện.

Xem Thái – Tuế trong hai hạn có Chính Diệu gia Cát tinh thì bình an. Trong Kinh nói rằng: “Nam Liệt Anh Hùng vận đáo Thiên Không nhi táng Quốc”. (Anh hùng hạn đến Thiên Không thì mất nước).

Đàn bà thì đơn thủ chỉ là hạng bỏ chồng, nô tỳ, ca kỷ.

NHẬP MỆNH

Mệnh có Thiên Không tọa thủ là người Xuất gia. Gặp Văn Xương Thiên Tướng ắt có thể chế hóa được.

Nếu gặp Tứ Sát đồng ở Thân Mệnh là người phải có âm đức nhiều thì mới có phúc được.

HẠN

Hạn gặp Thiên Không là phá điền trang không thì vợ con bị thương tổn. Tài bạch không được hanh thông còn bại thất. Người Mệnh Thân ở tuyệt địa mà gặp hạn này chắc chết.

HẠN KIẾP KHÔNG

Tử Vi cư Mão Dậu lại có Kiếp Không lâm vào thì làm tăng Đạo được phúc hưng long, vui cùng non nước ắt cao tăng, hưởng được phúc thọ song toàn.

Hai hạn gặp Kiếp Không ắt bị trái lòng như Đức Phu Tử bị nhịn đói ở nước Trần, Hạng Vũ anh hùng mà mất nước, Lục Châu gặp hạn này mà ngã lầu chết.

591 – THIÊN – THƯƠNG

Là tuần hư hao thuộc Thủy, lâm nhị hạn Thái Tuế không cần đắc địa hay không, chỉ cần xem các sao ở ba phương chiếu lại mà tốt thì có thể tốt được.

Nếu gặp Mệnh vo chính diệu lại có Dương Hỏa Cự Cơ tất chủ quan tai, tang chế phá tài, nhiều chuyện lôi thôi.

592. – THIÊN SỨ

Là Chuyển – Sứ tinh (mang sứ mạng) thuộc Thủy, thẩm xét cái lý do Họa phúc của nhân gian. Nếu nhị hạn Thái Tuế lâm vào có Cát tinh nhiều thì họa ít, nếu không có Chính Tinh lại có Kỵ Cự Dương Hỏa ắt bị quan tai, vong tán, có việc bất ngờ mà khuynh gia bại sản.

593. – THƯƠNG SỨ NHẬP HẠN

Có bốn câu thơ:

Thiên Hao thủ Mệnh hiện Thiên – Thương

Phu Tử tại Trần dã tuyệt lương

Thiên Sứ hạn làm nhân cộng Kỵ,

Thạch Sùng hào phú phá gia vong

Nghĩa là: Hạn gặp Thiên Thương gọi là Thiên Hao là như Đức Phu Tử gặp ắt bị tuyệt lương ở nước Trần.

Sao Thiên Sứ lâm hạn lại gặp Hóa Kỵ

Giàu có như Thạch Sùng cũng bị phá gia bại sản.

594. – THIÊN – MÃ

Thuộc Mã, tối hỉ hội với Lộc Tồn, rất Kỵ gặp Triệt Lộ Không Vong. Như Mệnh an ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi ngộ Thiên Mã ở cung Dần Thân Tị Hợi tại cung Phu hay Thê gia Cát tinh hội lại thì Phú Quí, gia Sát tinh thì bắt mỹ, gia Quyền Lộc chiếu lâm thì chủ trại làm quan, gái được phong tặng.

HẠN

Hạn gặp Thiên Mã thì Cát tường, gặp Tử Phủ Lộc Tồn thì tốt vô cùng, làm Quan thì hiển đạt, học trò thi đỗ đạt. Thiên Mã thủ hạn không đắc địa lại sợ Kiếp Không ngộ chiếu lại có Thái Tuế đồng cung hạn đến thì chết.

595. – HÓA LỘC

Là Thần Phúc đức thuộc Thổ, thủ Thân Mệnh là người làm Quan, được Khoa Quyền tương ngộ thì làm đến Đại Thần. Tiểu hạn mà gặp thì chủ sự vui mừng, kẻ sĩ gặp ắt được tiến cữ và biệt đãi, đại hạn thì được 10 năm Cát – Khánh, nếu gặp Cát tinh lai lâm lại có cả Dương Hỏa Kỵ xung chiếu thì cũng không hại.

Đàn bà có Hóa Lộc thủ Thân Mệnh lại Gia cát tinh chiếu là bậc Mệnh Phụ, trong ngoài uy nghiêm, gặp Sát tinh thì bình thường.

NHẬP MỆNH

An Mệnh có Hóa Lộc thì tuổi nào cũng được Vinh hiển trai thì hưởng phúc, làm Võ quan được nổi tiếng trên bãi chiến trường, là Văn nhân có danh dự cả Triều đình.

Lộc thủ Mệnh có Thiên Đồng ngộ Thái Dương thường nhân thì Đại phúc, ruộng nhà dư, huê lợi tiền tài, lục súc đều sinh vượng, việc gì cũng được Cát tường.

HẠN

Hạn gặp thì chức vị được lên cao, ở bên phò tá Thánh Minh, thường dân thì đại quí tự nhiên được hưởng nhiều kim ngân châu báu.

596. – HÓA – QUYỀN

Là Thần cầm quyền sinh sát thuộc Mộc thủ Thân Mệnh có Khoa Lộc tương nghinh là cách Xuất Tướng nhập Tướng, hội với Cự Vũ tất chuyên đại sự trưởng ba quân, là người hình cổ quái nhưng đi đến đâu người ta cũng khâm phục kính nể. Tiểu hạn mà gặp ắt chuyện gì cũng tốt. Đại hạn thì được 10 năm tọai lòng, gặp hung tinh cũng không bị tai họa. Như gặp Dương Đà Hao Sứ Không Kiếp thì nghe thấy những sự chê trách về con cái, hay bị quan tai trách phạt.

Đàn bà mà gặp Hóa Quyền thủ thân Mệnh thì trong ngoài đều xứng ý tọai lòng. Làm tăng đạo thì cai quản chùa chiền ở nơi Sơn lâm làm đến cao Tăng Sư hiệu.

NAM MỆNH

Sao Hóa Quyền thủ Mệnh mà có nhiều Cát tinh phù tả thì sự nghiệp được to lớn đẹp đẽ, người thì gan dạ hiên ngang. Lại gặp Cự Liêm Vũ ở ba phương chiếu lại là trấn thủ biên cương chỉ huy binh lãnh.

NỮ MỆNH

Mệnh đàn bà nên gặp được nhiều sao tốt lâm chiếu thì Y lộc đầy đủ, phú quí song toàn, nhưng tính ương ngạnh, cướp cả quyền chồng, có phúc hưng thịnh.

HẠN

Hạn gặp Sao này thì tốt vô cùng, Quan lộc được cao thăng phò tá Đế quân Tài bạch càng nhiều, nên làm nghề đao kiếm, theo Tiểu hạn thì đương niên gia đạo được an khang.

Sao Hóa Quyền lại gặp Vũ Tham, làm việc hay mưu sự thành việc hoàn toàn, người sinh năm Nhâm Tý thì Phúc Lộc càng cao thêm, người thường thì hưởng vàng bạc nhiều.

597. – HÓA – KHOA

Là Thần Văn Chương, chủ về Thi Cư thuộc Thủy. Thủ Thân Mệnh có Quyền Lộc tương phùng là người thông minh gặp Khôi Việt thì tốt lắm, chắc thi cữ đỗ cao làm đến Đại Thần, như ngộ Á Tinh cũng là nhà Văn chương Tú Sĩ, quần anh mô phạm, chỉ hiềm gặp Triệt Lộ Không Vong, Tuần Không, Thiên Không thì không tốt.

Mệnh đàn bà có Hóa Khoa thủ tọa ắt vào bậc Công Khanh Phụ Nữ, duy chỉ có Tứ Sát xung phá thì chủ bình thường.

NAM MỆNH

Là người học hành văn hay chữ tốt, bao tàng cẩm tú, một bước làm đến Công Khanh trong triều đình, dạy học thì được thanh danh Vinh hiển.

Có Hóa Khoa thủ Mệnh mới thấy cho là tầm thường nhưng là bậc tài khoa cẩm tú, gặp được Xương Khúc Khôi Việt ắt một bước lên đến Đại Thần, danh giá vang lừng.

NỮ MỆNH

An ở Thân Mệnh đàn bà, là người hiền lương. Tứ Đức kiêm toàn, tính cách thanh tao, lại gặp Cát tinh có Quyền Lộc cũng chiếu thì chồng Vinh hiển, và có Quí tử là bậc phu nhân.

HẠN

Có Hóa Khoa lâm hai hạn gặp Văn Xương, Sĩ Tử mà gặp thì tên tuổi lẫy lừng đỗ đạt cao. Thứ dân thì phú quí nhiều. Trăm sự được hài lòng, công việc được anh hương hiển đạt.

589. – HÓA – KỴ

Là Thần Quan Thủ thuộc Thủy. Thủ Thân Mệnh là người nhất sinh chẳng đẹp lòng, tự chiêu lấy thị phi. Tiểu hạn mà gặp là một năm không đủ gì cả. Đại hạn thì 10 năm hôi lẫn, Nhị hạn mà lại gặp Thái Tuế giao làm với Hóa Kỵ là người ngẩn ngơ, văn nhân vơ vẩn, vũ nhân thì vướng phải Quan tai khẩu thiệt, đi buôn, làm công nghệ ở nơi mình sinh thì không nên gì, khó mà lập nghiệp được.

Như gặp được Tử Phủ Xương Khúc Đồng Hữu thì lợi. Sao Quyền Lộc với Kỵ đồng cung lại có Dương Hỏa Linh Không là người làm việc hoạnh phát hoạnh phá, thủy chung không được lâu dài, có phát tài cũng không đậu, nhất sinh là bôn ba cực khổ, hoặc đái tật bần yểu.

Tăng đạo mà gặp thì hoàn tục, nhưng có sao Thiên Đồng ở cung Tuất gặp Kỵ người sinh năm Đinh thì lại tốt. Sao Cự Môn ở cung Thìn có Kỵ người sinh năm Tân thì trái lòng không đẹp.

Thái Dương ở cung Dần Mão Thìn Tị Ngọ gặp Hóa Kỵ, Thái Âm ở cung Dậu Tuất Hợi Tý gặp Hóa Kỵ là họa, nếu Nhật Nguyệt ở hãm địa có Hóa Kỵ thì đại hung.

Sao Liêm Trinh ở cung Hợi thì cũng như sao Hóa Kỵ, ảnh hưởng giống nhau, sao thuộc hỏa nhập Tuyền Hương là cung Hợi (Thủy) người Thủy Mệnh mà gặp thì không hại.

NAM MỆNH

Trong các sao thì Mệnh không nên gặp Hóa Kỵ, lại gặp hung tinh như Tứ Hung, nếu có Cát tinh trợ cứu thì cũng được Phú Quí nhưng không nhiều. Như Tham Phá cư hãm địa gặp Cát tinh có Hóa Kỵ, sau cũng không lợi, trai thì trộm cướp, gái đa dâm, gia thêm Sát chiếu Mệnh là quân đạo thích ăn đêm.

NỮ MỆNH

Đàn bà Mệnh có Hóa Kỵ tọa thủ cũng chẳng lạ gì, nếu gặp hung tinh ắt là cơ họa hại, phải cực khổ lao đao mới kiếm được ăn, rất là bần tiện. Nếu có Cát tinh cũng chiếu thì giảm được tai nguy.

HẠN

Hạn gặp Kỵ nhập miếu thì phản phúc, nếu bị quan tai thì không bị thương bại, lên xuống công danh không được toại ý, gặp được Cát Tinh thì được an khang, hai hạn có Không và Kỵ, từ tai đến họa liên miên ắt nhà bị khuynh đảm làm quan thì bị giáng chức vì ăn hối lộ, làm thơ lại nên phòng hình phạt tù trượng.

Hóa Kỵ lạc hãm ở nhàn cung, có Ác Sát tinh lâm vào là họa hung, tài tán người nghiệt nhiều tật khổ, quan chức thì bị giáng chức, tang khó trùng trùng.

599. – MẤY CÁCH VỀ TỨ HÓA NÊN BIẾT

Như: Lộc hội Lộc Tồn thì Phú quí hay cách Song Lộc. Quyền hội Cự Vũ là anh dương, có danh tiếng lớn lao.

Khoa hội Khôi Việt là quí hiển.

Kỵ hội Thân Mệnh là chiêu thị phi.

600. – THÁi – TUẾ

Hay là Tuế Quân thuộc Hỏa, gọi là Lưu niên Thái Tuế tinh quân, hội với hung tinh nên gặp Kỵ, nếu gặp ắt bị thương tổn về người trong nhà.

Hai hạn tương xung lại gặp Tử Phủ Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt, cát tinh cứu trợ thì tai nạn ít chỉ nên đề phòng lục súc nuôi trong nhà, mất hay chết. Nếu gặp Dương Đà Hỏa Linh Kiếp Không Thương Sứ ắt bị Tài phá Thân vong.

Đàn bà gặp thì phòng đẻ khó mà có khi nguy đến tính mạng, có cứu được cũng bị nhiều sự nguy hại.

Gặp sao Thái Tuế trong hạn ít khi đương nổi ảnh hưởng của nó, làm Quan cần phải xem kỹ, nếu không có Cát tinh cứu trợ ắt không tránh được quan tai làm náo động tất cả.

601. – II. HUYNH – ĐỆ

Có sao Tử Vi thì có Anh trên mình, lại cả Sao Thiên Phủ nữa là có 3 người, cùng có Thiên Tướng là 3, 4 người, gặp Phá Quân cũng có 3 hoặc anh em dị bào gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì chắc hại nhưng sau cũng có thể hòa thuận.

Thiên Cơ miếu vượng có hai người, Thái Âm có hai, ba người. Gặp Dương Đà Hỏa Linh tuy có mà khắc hại nhau.

Thái Dương miếu vượng là có ba người, cùng với Cự Môn không có Sát tinh có ba người cùng với Thái Âm có năm người, ở hãm địa là bất hòa rất lâu, thêm có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp bị khắc giảm đi phân nữa.

Vũ Khúc miếu vượng là có hai người không hợp nhau ở hãm địa Gia Sát thì có một cùng với Thiên Tướng có hai người, có Phá Quân Thất Sát là có một người mà có Xương Khúc Tả Hữu là có ba người có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cô đơn.

Thiên Đồng nhập miếu là bốn, năm người cùng với Thiên Lương là hai, ba người với Cự Môn không có Sát tinh là ba người. Với Thái Âm là bốn, năm người ỡ hãm địa chỉ có hai người, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ thì được phân nữa bất hòa.

Liêm Trinh nhập miếu là có hai người, gặp Tham Lang có chiêu oán nhau, gặp Thiên Tướng là có hai người gặp Thất Sát có một người, gặp Thiên Phủ Tả Hữu Xương Khúc có ba người, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp khắc và bất hòa nhau.

Thiên Phủ là có 5 người, gặp Tử Vi thêm Tả Hữu Xương Khúc có 6, 7 người, gặp Liêm Trinh có 3 người, gặp Dương Đà Hỏa Linh chỉ có 2.

Thái Âm nhập miếu có 6 người, gặp Thái Dương có 5, 6 người. Gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là giảm một nữa, khắc nghịch nhau, nên ở riêng.

Tham Lang miếu vượng có hai người, hãm địa có nhưng là anh em dị bào, gặp Liêm Trinh thì bất hòa, có Tử Vi là 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là cô đơn.

Cự Môn miếu vượng là 2 người, hãm địa là dị bào nên ở riêng, có Thái Dương gia thêm Tả Hữu, Xương Khúc có 3 người. Có Thiên Cơ là hai người trái ý nhau, không đồng tâm hợp ý. Gặp Thiên Đồng là có 2, 3 người gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là cô chắc.

Thiên Tướng hòa bình có 2, 3 người, có Vũ Khúc là 2 người, có Liêm Trinh là 2 người, gặp Kinh Đà Linh Hỏa Kiếp Không thì cô đơn.

Thiên Lương miếu vượng là có 2 người hòa thuận nhau hoặc nhiều thì không phải cùng Cha khác Mẹ lại bất hòa. Ở Hãm cung là không có, Thiên Đồng là có 3 người, cùng Thiên Cơ có 2 người, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì ít vậy.

Thất Sát chủ cô khắc, Tý Ngọ Dần Thân thì có 3 người nhưng bất hòa nhau, mỗi người một nơi, gia thêm Xương Khúc Tả Hữu thì lại tốt với nhau.

Phá Quân nhập miếu là có 3 người, hãm địa gia Sát là cô đơn, cùng Vũ Khúc có 2 người, cùng Tử Vi có 2 người, cùng Liêm Trinh có 1 người, gia Xương Khúc Tả Hữu có 3 người hòa hợp nhau, Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cô đơn.

Văn Xương Văn Khúc, ở các cung là có 3 người gặp Đà Hỏa Linh miếu vượng là không khắc, hãm địa là cô đơn, thêm Không Kiếp là hoàn toàn không có.

Tả Phủ, có 3 người, có Thiên Đồng Xương Khúc có 4, 5 người, gia Dương Đà Hỏa Linh có 2 người, gặp Không Kiếp thì bất hòa lâu.

Hữu Bật có 3 người, cùng với Thiên Đồng, Xương Khúc là có 4, 5 người, gia Dương Đà Hỏa Linh thì có 2 người, có Không Kiếp thì bất hòa.

Lộc Tồn được ở cung Miếu vượng thì có anh em gặp Sát tinh thì khắc hại và chiêu oán.

Dương Đà là khắc hại nhau, nhập miếu có 1 người có nhiều Cát tinh chiếu thì 2, 3 người ở hãm địa thì toàn không.

Hỏa tinh nhập miếu có Cát tinh thì có 1, 2 người, gia Liêm Sát Phá Linh thì Cô khắc.

Linh Tinh nhập miếu tượng sinh thì có anh em gia Dương Đà Hỏa Không Kiếp thì không có.

Hạn ở cung Huynh Đệ đến độ đó mà gặp Cát tinh thì anh em hòa thuận được một năm, gặp Hung sát đó hình khắc nếu không thì anh em tranh giành nhau.

602. – III. THÊ THIẾP HAY PHU

Tử Vi là bách niên giai lão, tính tình cứng cỏi, cùng Thiên Phủ thì giai lão, Cùng Thiên Tướng thì hồi nhỏ tuổi êm đẹp, Cùng Phá thì hình khắc, gia Dương Đà Hỏa Linh Hình Tham có Cát tinh chiếu thì tránh được Hình.

Thiên Cơ là lúc nhỏ tuổi vợ hay chồng tính cương cường, phải chồng là con trưởng, gia Dương Đà Hỏa Linh chủ sinh ly, nhiều tuổi hãy lấy nhau thì tốt, cùng Thiên Lương là nên lấy người trong tuổi, cùng Thái Âm là vợ đẹp, cùng Thái Dương miếu vượng thong thả hãy cưới thì tốt, sớm thì khắc nhau, nhưng khi cưới vợ rồi thì được quí hiển, với Thiên Lương gia Tả Hữu, vợ là hạng kén Chồng cùng Thái Âm là người nội trợ giỏi, cùng Cự Môn không có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì không khắc, có Tử Sát phản lại là khắc, gặp Hao là phi lễ thành hôn (vợ chồng theo nhau không cưới xin).

Vũ Khúc là trái lòng lại khắc hại, nên chậm hãy cưới người cùng tuổi tương đương nhau, gia Cát tinh là nhân lấy vợ thì có tiền tài giàu có, nếu gặp Hung tinh là nhân khi cưới vợ thì khuynh gia bại sản.

Gặp Tham Lang là nên chậm lấy nhau ắt khỏi hình khắc.

Gặp Thất Sát thì khắc 2, 3 đời, gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì khắc lắm.

Thiên Đồng, chậm cưới thì được bách niên giai lão, chồng nên là con Trưởng, vợ nên là Thứ, thêm Tứ Sát thì lâu mới hòa thuận, bị sinh ly. Gặp Cự Môn với Tứ Sát cũng khắc. Gặp Thái Âm là vợ đẹp, gặp Thiên Lương thì vợ chồng cực mỹ.

Liêm Trinh là chồng hay vợ phải 3 lần, với Tham Lang lại càng khắc, với Thất Sát là hình và lâu hòa hợp, gia Dương Đà Hỏa Linh chủ sinh ly, gặp Thiên Phủ thì giai lão tính cương cường mà không khắc.

Thái Dương được tương sinh thương yêu nhau lắm chồng chủ Quí, gặp Duơng Đà Hỏa Linh Không Kiếp chậm hãy cưới thì tránh được hình, trọng tuổi cưới ắt được giai lão.

Thái Âm nhập miếu trai gái đều quí, vợ chồng đẹp đẽ, gia Xương Khúc thì cực đẹp, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, Hóa Kỵ không khắc thì chủ sinh ly. Cùng có Thái Dương thì giai lão, cùng Thiên Đồng là nội trợ giỏi gặp Thiên Cơ thì hồi niên thiếu được mỹ hảo.

Tham Lang là trai gái không được mỹ mãn, ba lần làm dễ, nếu nhập miếu thì nên chậm cưới, gặp Liêm Trinh là chủ khắc, gia Dương Đà Hỏa Linh chủ sinh ly, có Tử Vi thì trong tuổi có thể đối được sự hung hại.

Cự Môn nên là người trọng tuổi, là khắc lâu mới hợp có Thái Dương mà không gặp Tứ Sát thì được giai lão. Cùng Thiên Cơ là vợ đẹp, gặp Thiên Đồng là vợ thông minh, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là khắc 2 vợ hoặc chủ sinh ly.

Thiên Tướng là người mặt đẹp đẽ, đầy đặn, hiền lương, chồng nên nhiều tuổi hơn, lấy người trong thân thuộc gặp Tử Vi thì giai lão, cùng Vũ Khúc là hồi trẻ thì hòa thuận, cùng Liêm Trinh nhập miếu thì hình khắc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là hình khắc.

Thiên Lương thì vợ đẹp, với Thiên Đồng là có hòa khí, cùng Thiên Cơ thì hiền lành đẹp đẽ, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì thai đựng không hòa thuận.

Thất Sát mới thì khắc, với Vũ Khúc cũng khắc, chậm cưới thì miễn hình, cùng Liêm Trinh chủ sinh ly gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là khắc 3 đời vợ hay chồng.

Phá Quân, Trai gái đều khắc, không cưới xin chủ sinh ly, có Vũ Khúc thì khắc 3 đời, có Liêm Trinh cũng khắc lâu hòa, có Tử Vi thì nên lấy vợ người lớn tuổi hơn.

Văn Xương là vợ trẻ, nội trợ thông minh, có Thiên Cơ Thái Âm chủ người tươi đẹp, không nên lạc Hãm gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là tối Kỵ.

Văn Khúc tương sinh hội với Thái Âm có Cát tinh chiếu là giai lão, cùng Văn Xương là người đa tình đa cảm thê thiếp nhiều, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ thì khắc, lạc hãm là người mặt rỗ.

Lộc Tồn tương sinh không khắc. Vợ nên ít tuổi và chậm cưới, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Triệt Lộ Không Vong là cô đơn.

Tả Phụ – Hữu Bật là giai lão, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Tham Liêm, vợ là người nhiều tuổi tính cương ngạnh gặp Dương Đà nhập miếu gia Cát tinh chậm cưới thì miễn hình hoặc lâu mới hòa, hãm địa thì sớm khắc, gia Nhật Nguyệt Cự Cơ Hỏa Linh Vũ Sát chủ sinh ly.

Hỏa Linh nhập miếu gia Cát tinh thì không bị hình khắc, hãm địa thì hình khắc không tránh được.

Khôi Việt chủ vợ chồng đẹp đẽ, cư cung Thê tất chủ được vợ giàu có, gia Cát Tinh là chủ vợ chồng vừa quí vừa đẹp đẽ.

Đẩu Quân an ở cung Thê Phùng Cát Tinh thì thê thiếp đẹp đẽ không bị tai khắc, gặp ác tinh thì thê thiếp bị tai nguy, lại phải xem cung bản Mệnh và cung Thê, nếu lưu niên ở cung Thê có Đẩu Quân và Ác tinh chủ năm đó hình thương Thê thiếp. Nếu không khắc thì năm đó ắt có tai nạn.

608. – IV. TỬ TỨC

Tử – Tức ca:

Trường Sinh bát (8) tử Tuần trung báu,

Mộc dục thất (7) chi sinh ngũ (5) tồn,

Quan – đái Lâm – quan tam (3) tứ (4) vị,

Đế – vượng ngũ (5) tử, Bệnh trung nhất (1).

Tử cung hình khắc sự nan ngôn.

Mộ trung Thai Dưỡng chung sanh tử.

Tuyệt trung nhất (1) chi tử mục hôn,

Thai trung đầu nữ nhị (2) chi nhất (1)

Dưỡng cung tam (3) tử nhị (2) miếu tồn.

Trên đây là bài ca xem theo giây Sao Tràng Sinh mà đoán. Số đoán bao nhiêu người con theo trên này mà không nhất định còn phải xem ảnh hưởng coi Sao Chính tọa thủ chiếu hợp cung Tử Tức, gia đảm theo miếu, hãm, vượng suy.

Giải nghĩa:

Cung Tử – Tức có sao Tràng sinh đóng là có 8 người con, nếu có Tuần đóng thì bị giảm một nữa.

Có Mộc dục là 7 người còn 5

Có Quan – đái Lâm – quan được 3 người

Có Đế Vượng là có 5 người

Có Suy là 3, có Bệnh là 1.

Có Tử là bị hình khắc không nói được.

Có Mộ Thai Dưỡng sau chắc có con.

Có Tuyệt có 1 người bị mù.

Có Thai thì có 2 gái còn 1.

Có Dưỡng thì có 3 con còn 2

Xem các sao Cát Hung Tinh, miếu vượng lạc hãm thế nào mà đoán cho hợp Kiền Khôn. Các sao lưu chuyển phải xem cung độ.

Sao Nam Đẩu thì chỉ con Trai.

Sao Bắc Đẩu là chỉ con Gái.

Đó là Thần Thông biến hóa cái cơ vi của Đẩu Số

Nhưng Dương tinh ở cung dương thì sớm có con trai.

Âm tinh ở cung Âm thì sinh gái trước.

Người sinh ban ngày thì kỵ nhất cung Tử Tức có Thái Dương bị hãm hay có Thái Âm chiếu

Người sinh ban đêm sợ nhất Thái Âm hãm ở cung Tử Tức hay có Thái Dương chiếu. Như trên sau chết không con.

Phàm các cung Vô chính diệu thì xem đối cung.

Nếu các cung có Chính diệu được miếu vượng mà bị Tuần hay Triệt thì tính cách lại phản ngược lại.

Phàm xem Tử – Tức thì phải xem bản cung và các sao chủ có mấy người. Nếu gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ là chủ sinh con thì có sự hình khắc. Sau xem đối cung có bị xung, hình bĩ. Như bản cung không có chính diệu thì chuyện xem đối cung có sao gì chủ có mấy con. Nếu được Cát tinh, quí tinh thủ Tử – Tức ắt chủ con cái về sau Vinh sương quí hiển. Nếu có nhiều ác tinh lại có Hình Sát thủ cung thì bị hình khắc sinh con cương ngạnh phá đãng.

Lại phải xem 3 phương tứ chính được nhiều Nam đẩu tinh thì chủ sinh Nam nhiều (nếu không bị Tuần, Triệt), nhiều Bắc đẩu tinh thì chủ sinh Gái. Nếu có Thái Dương lạc ở cung dương là chủ sinh. Trai trước, Thái Âm lạc ở cung âm chủ Sinh gái trước. Cần xem Hình Sát ở bản cung không có sự chế hóa tương sinh thì tất nhiên tuyệt tự.

Có Tử Vi miếu vượng sinh 3 trai, gái 2, gia Tả Hữu Xương Khúc có 5 người sau ắt được quí hiển, có Lộc Tồn sinh 5 con giảm một, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ có 1 đôi, nhưng đổi chỗ ở thì sinh nhiều, gặp Phá Quân là 3 người, gặp Thiên Phủ gia Cát tinh, có 4, 5 người, gia Xương Khúc, Tả Hữu là quí Tử. Nếu chỉ có Tử Vi ngộ Không Kiếp là Cô độc.

Có Thiên Cơ miếu vượng là có 2 con hoặc con vợ thứ thì nhiều, có Cự Môn có 1 con, gặp Thiên Lương ở cung Dần là có 2, 3, tại cung Thân có gái nhiều trai ít chỉ có 1 con, có Thái Âm cùng 2, 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không con.

Có Thái Dương nhập miếu là 3 trai 2 gái sau đều quí hiển. Gặp Cự Môn là 3 người, có Thái Âm đồng là 5 người, ở hãm địa có 3 người không thành thân, gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ còn một con khi chết, gặp Lương Sinh 5 còn 4.

Có Vũ Khúc chủ 1 con, hoặc sinh nhiều cũng vậy, hữu sinh vô dưỡng, gặp Phá Quân chủ hình có 1 con, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là tuyệt tự, với Tham Lang thì già có 2 con. Gặp Thiên Tướng đồng cung là nuôi con nuôi, sau sinh được 1 con, với Thất Sát chủ cô độc hoặc con phá tán thương tàn. Ngộ Tả Phụ là sinh 4 giảm 2.

Thiên Lương hợp Vũ Khúc sinh 7 thành 6.

Thiên Đồng miếu vượng có 5 con, có quí tử, với Cự Môn là 3 người, với Thái Âm có 5 người, tại cung Ngọ là hãm địa thì giảm phân nửa, có Thiên Lương thì sinh gái trước, trai sau có 2 con, ở cung Thân chỉ còn 1 đứa. Ở cung Dần gia Cát tinh có 3 con, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì hình khắc, ngộ Văn Xương sinh 5 thành 4.

Liêm Trinh có 1 người với Thiên Phủ chủ quí tử có 3 nguời. Nếu có Tham Phá Thất Sát cùng chiếu chủ cô độc lại gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không có con ngộ Thiên Tướng là 2 con.

Thiên Phủ có 5 con, với Vũ Khúc là 2 người, với Tử Vi là 4, 5 người, với Liêm Trinh có 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ có 3 người.

Thái Âm có 3 gái 2 trai, gái trước trai sau: miếu vượng thì Quí tử, hãm địa là giảm một nửa, mà ốm yếu không thành người, có Thái Dương đồng là 5 người, có Thiên Cơ là 2 người, với Thiên Đồng là 5 người, ở miếu địa thì không khắc. Hãm cung là bị hình khắc, gặp Sát tinh 9 con giảm 7. Có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không con.

Tham Lang miếu vượng là có 2 con, sớm bị hình khắc. Có Tử – Vi là 2 người, gặp Liêm Trinh là không con, như có Cát tinh chiếu là có 2 nguời, với Vũ Khúc là có 3 người, trước khó nuôi sau dễ, gặp Dương Đà sinh 2 còn 1.

Cự Môn nhập miếu là 2 người trước khó sau dễ nuôi. Gặp Thái Dương là có 1, 2 người dễ nuôi gia Dương Đà Hỏa Linh là ít con. Có Thiên Cơ là 1 con có Cát Tinh nữa là 2 con, gia Không Kiếp là không, ngộ Thiên Không là sinh 3 giảm 2.

Thiên Tướng ngộ Kình Dương sinh 3 con, không có Dương Đà Hỏa Linh có 2 con thành người, có Sát tinh thì lúc đầu phải cầu khi trọng tuổi có 1, 2 đứa. Có Tử Vi cũng như Xương Khúc Tả Hữu có 3, 4 đứa, với Vũ Khúc có 3 người gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì khắc từ nhỏ, với Thiên Đồng gia Xương Khúc Tả Hữu Cát tinh là có 3 người, với Thiên Cơ có 2 người gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không có.

Hồng Loan ngộ Địa Kiếp sinh 3 thành không có.

Thiên diêu và Thiên khốc sinh 2 thành không.

Thất Sát là chủ cô đơn có phúc lắm mới có 1 con, gặp Tử Vi và Cát tinh thì có 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không con, nếu có cũng bất thành nhân, là con nhà vô loại phá gia chi tử, ngộ Không vong là sinh 6 thành không.

Phá Quân nhập miếu có 3 người con cứng đầu cứng cổ. Có Tử Vi có 3 người, với Vũ Khúc gia Xương Khúc Tả Hữu có 3 người, gặp Liêm Trinh có 1 người, gia Dương Đà tương sinh hữu chế vô hình thêm Không Kiếp Hỏa Đà là ít con.

Tả Phụ tọa thủ một mình cung Tử Tức là 3 trai, 1 gái, có Tử Vi Thiên Phủ và Cát tinh chủ Quí tử, có Phá Sát Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ có 2 người bất thành nhân.

Hữu Bật có 3 người, gia Cát tinh là có Quí tử, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp giảm một nữa

Văn Xương có 3 người, gia Cát tinh có nhiều con, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp khó lòng được 1.

Đào Hoa ngộ Hóa Kỵ sinh 3 giảm 2.

Văn Khúc miếu vượng có 4 đức, hãm địa có 2, 3 gia Dương Đà Hỏa Linh con rất ít.

Lộc Tồn chủ cô đơn, có lấy vợ lẽ cũng chỉ có một đứa ngơ ngẩn, gia Cát Tinh thì có 1 đứa, gia Hỏa Tinh và các Sát tinh là cô hình.

Dương Đà ở hãm địa thì cô đơn, có Cát tinh miếu vượng có 1 người, như đối cung có nhiều Cát tinh vô sát thì có 3, 4 đứa, có Hao Sát Kỵ tại bản cung thì tuyệt tự.

Hỏa Tinh gặp Cát tinh thì không phải cô đơn, Hãm tinh và gia Sát tinh thì bình thường.

Linh Tinh là cô đơn, gia Cát tinh nhập miếu là vợ thứ có thể có con, ở đối cung nhiều Cát tinh chiếu thì có 2, 3 người.

Khôi Việt chủ có quí tử.

Đẩu Quân ở tại cung Tử Tức phùng Cát tinh là có con cái sương thịnh gặp Hung tinh thì hình khắc, hoặc có là phá gia chi tử.

Hoa Cái ngộ Cô thần sinh 2 thành 1.

604. – V. TÀi – BẠCH

Tử Vi cung Tài bạch là giàu có đầy kho đụn, gia Dương Đà Hỏa Linh thì không vượng, có Phá Quân là trước khó sau dễ, gặp Thiên Tướng là Tiền tài súc tích, ngộ Thiên Phủ thì giàu có suốt đời giữ được mà hưởng, gia Tả Hữu là người giữ tiền cho cả một nước, quan về Tài Chánh gặp Thất Sát gia Cát tinh là Tài Bạch hoạnh phát.

Có Thiên Cơ thì phải lao tâm phí lực mới sinh tài, gặp Cự Môn là phải làm cái gì náo động rầm rĩ mới lấy được tiền, có Thiên Lương ắt có sảo kế kiếm ngoại tài, gặp Thái Âm ở Hãm cung là thành bại bất thường, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì có thành có bại.

Thái Dương nhập miếu là Phong phú, hãm địa là lao khổ không toại lòng, gặp Thái Âm gia Tả Hữu Cát tinh Phát tài không nhỏ, gặp Lộc Tồn gan dạ thì giàu đến Cự Phú có Cự Môn là lúc nhỏ tuổi đã thành bại, trung và hậu vận thì phát nhiều.

Vũ Khúc là phong phú, gặp Hóa Cát tinh là giàu Cự vạn, không có Cát tinh là khi hết kiệt lại có tài đến, gặp Phá Quân thì vào tay mặt ra tay trái, trước không sau có, ngộ Thiên Tướng thì giàu có gặp quí nhân thì sinh tài thành gia nghiệp, gặp Thất Sát là tay trắng làm nên thành gia nghiệp, gặp Tham Lang thì ngoài 30 tuổi mới phát tài, gia Dương Đà Hỏa Linh thì không tụ, sợ gặp Không vong ắt bần hàn.

Thiên Đồng là tay trắng làm nên giàu có về sau mới phát, gặp Cự Môn là Tài bạch lên xuống ra vào không thường, cùng với Thiên Lương tài vào đại vượng, gia Tứ Sát Không Kiếp, hoặc là hạng lưu lạc giang hồ sinh tài thành gia thất.

Liêm Trinh tại Dần Thân là người trong sự náo nhiệt mới sinh tài, ở hãm địa thì trước khó sau dễ, có Tham Lang thì sinh hoạnh phát, hoạnh phá, gia Dương Hỏa thì tài tiến cực kỳ tự nhiên, có Thất Sát là trong sự náo động mới có tài, gặp Thiên Tướng thì giàu có đầy kho đụn. Như gặp Hao, Kiếp, Thiên Không, là người thường bị phá tài về việc quan.

Thiên Phủ thì Phú túc có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có sự thành bại, gặp Tử Vi đồng cung là Cự Phú vàng bạc súc tích, có Liêm Vũ đồng gia Quyền Lộc là giàu có lớn và sang trọng.

Thái Âm nhập miếu thì giàu có đầy kho ở Hãm cung thì sự thành bại thường thường không tụ, có Thái Dương đồng cung là trước ít sau nhiều, với Thiên Cơ là tay trắng làm nên gia nghiệp, có Thiên Đồng là tài vượng, có Lộc Tồn, Liêm Tả Hữu là chủ đại phú.

Tham Lang miếu vượng là hoạnh phát, hãm địa là bần cùng, gặp Tử Vi là thành cơ nghiệp được hưởng hương hỏa để lại, sau được Phong phú, gặp Hỏa Tinh thì trước 30 tuổi thành bại bất thường, sau 30 tuổi là hoạnh phát.

Cự Môn là tay trắng làm nên có tiền thành cơ nghiệp, là người trí khí cao cả hoạnh phá tài trong sự náo nhiệt. Gặp Thái Dương nhập miếu là thành gia nghiệp. Với Thiên Cơ là tài khí sinh thân mình, mà chỗ làm không nhất định, với Thiên Đồng là tay trắng thành gia, người lưu lạc trên đất khách xa quê hương thì tốt, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là phá bại đa đoan.

Thiên Lương thì phú túc, nhập miếu là Đại phú, ở hãm địa là phải làm việc khổ cực để độ nhựt, với Thiên Đồng là bạch thủ sinh tài hơn tổ nghiệp, gặp Thiên Cơ phải cố tâm dùng sức mới phát tài không mỹ mãn, phải thay đổi chỗ ở thì thành gia nghiệp gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là trước khó sau dễ cũng khổ cực để độ nhật.

Thiên Tướng là Phú túc, gặp Tử Vi là có Tài, tự nhiên đến, có Vũ Khúc đồng cung với Tứ Sát là làm công nghệ sinh tài, gặp Liêm Trinh là buôn bán sinh tài, gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, Kỵ thì thành bại không giữ được tiền.

Phá Quân ở cung Tý Ngọ là có nhiều vàng bạc, súc tích nhiều quí vật, cư Thìn Tuất là vượng cung thì tài thịnh ở Hãm cung là phá tổ tài tán, thêm Vũ Khúc thì giữ được, ở cung Tị Hợi thì đông lai tây khứ, tài vào lại ra, gặp Tử Vi là trước tán sau sinh tài, lúc đầu thì khó khăn sau được toại lòng, thêm Không Kiếp thì cực nghèo khổ.

Văn Xương là Phú túc đầy kho đụn, thêm Cát tinh tài vượng, gặp Cự Môn thì giàu có, hãm địa có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là hạng bần sĩ nghèo nàn.

Văn Khúc nhập miếu thì phú túc, gia Cát tinh thì được Quí nhân dẫn tài, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì trong nhà hiềm kỵ nhau, đông lai tây khứ, thành bại, không toại lòng.

Tả – Phù Hữu – Bật là Phú túc, hội với Cát tinh là được Quí nhân dẫn tài, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ chủ thành bại và không tụ.

Lộc Tồn là Phú túc đầy kho đụn, ngọc cất vàng chôn, gia Cát tinh thì kiếm tiền dễ dàng, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ thì trước không sau có.

Kình Dương ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi là người kiếm tiền trong chỗ náo động, hãm địa thì phá tổ không tụ, sau không phát đạt, chỉ nước đục thả câu, nhơ nhuốc thì có tài.

Đà La trong sự náo động mới có tài, ở Hãm cung là làm ăn khó nhọc mới đủ tiền độ nhật, gia Không Kiếp thì vào tay phải ra tay trái.

Hỏa Tinh là một tay hoạnh phát hoạnh phá, ở Hãm cung thì cực khổ, gia Cát tinh thì tài nhiều được tài trí.

Linh Tinh nhập miếu là một mình làm nên hoạnh phát, hãm địa thì cô hàn tân khổ độ nhật lao lung.

Khôi Việt chủ thanh cao mà sinh tài, nhất tinh toại ý. Xem Nguyệt hạn gặp Đẩu Quân ngộ Cát tinh thì tháng đó phát tài, ngộ Hung tinh Không Kiếp Hao Kỵ thì tháng đó bị tổn tài, chiều sự khẩu thiệt quan phi thì tai mới khỏi.

605. – Vi. TẬT – NGUY

Trước hết phải xem cung Mệnh có những sao gì, vượng hãm, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ thủ chiếu như thế nào, rồi xem cung Tật Nguy có những sao lành, dữ, miếu hãm thế nào rồi mới đoán.

Có Tử Vi thì ít bị tai nạn, với Thiên Phủ cũng ít, với Thiên Tướng là bị bịnh lao từ nhỏ, như gia Phá Quân là bị huyết khí bất hòa, với Dương Linh là chủ có ám tật, gia Không Kiếp chủ tai vạ và tâm khí tật.

Thiên Cơ là ngoài da nhiều tai nạn ở Hãm địa là dầu mặt bị phá tướng, gặp Cự Môn có bệnh về huyết khí, gặp Thiên Lương là có bịnh ở Hạ bộ, với Thái Âm có bịnh nhọt, gia Dương Hỏa ở Hãm cung là có tật ở mắt, chân tay không có khí lực.

Thái Dương là đau đầu, gặp Thái Âm gia Kỵ Dương Đà chủ mắt bị thương, Hãm cung thì chủ mục tật lâu không nhìn thấy.

Vũ Khúc có bịnh hay tai nạn ngoài da, chân tay đầu mặt bị thương, gặp Dương Đà là đời thường có tai nạn có Thiên Tướng là chiêu lấy ám tật, có Thất Sát là huyết tật, có Tham Lang cùng ở cung miếu vượng là không có tật, ở Hãm Địa gia Tứ Sát thì mắt tay chân bị tật vì gió máy, hay mụn nhọt, hay bị chích hay chém.

Thiên Đồng nhập miếu ít tật bịnh và tai nguy, có Cự Môn là tâm khí tật, thêm Thái Âm gia Dương Hỏa là Huyết khí tật, có Thiên Lương gia Tứ Sát là tâm khí tật.

Liêm Trinh là có tật bề ngoài, tật về lưng và chân nhập miếu gia Cát tinh là bình thường ngộ Tham Lang ở Hãm địa là mắt có nhiều tật, gặp Thất Sát Phá Quân, Thiên – Phủ là ít tật bịnh.

Có Thiên – Phủ là ít tật bịnh, tai nạn, có bị cũng cứu được có Tử Vi thì ít tai, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có Phong tật, gặp Liêm Trinh gia Kiếp Sát Không vong là nửa đời người bị thương tàn.

Thái Âm miếu vượng không bị tai ương, ở Hãm địa là người bị tai nạn nhiều, chủ chúng lao. Đàn bà chủ thương tàn, có Thái Dương gia Cát tinh là nhất sinh ít bịnh, có Dương Đà Hỏa Linh là tật ở mắt, gia Không Kiếp là Phong tật, có Thiên Đồng gia Dương Đà ở Hãm cung là chủ gốc bịnh liên miên, cùng Hỏa Linh nhiều tật.

Cự Môn là hồi nhỏ bị nguy về mụn nhọt nhiều, gặp Thái Âm là đầu bị nhức nặng, gặp Thiên Đồng là hạ bộ bị chứng phong, gia Dương Đà Hỏa là có tật về tửu sắc, gia Kỵ thì tai mắt bị đau.

Thiên Tướng là ít tai bịnh, lạc hãm là người da mặt vàng thủng có bịnh về huyết khí, đồng với Tử Vi là ít tai bịnh, gặp Vũ Khúc lại gia Tứ Sát là Phá Tướng, có Liêm Trinh cùng gia Không Kiếp là chân tay bị thương bịnh.

Thất Sát hồi nhỏ nhiều bịnh, lớn bị Trĩ, gặp Vũ Khúc gia Tứ Sát thì chân tay bị thương tàn, gặp Liêm Trinh chủ bịnh về mắt, gia Kình Dương là chân tay bị thương tàng.

Phá Quân là hồi nhỏ bị chốc lỡ, mụn nhọt vì máu nóng, gặp Vũ Khúc thì mắt bị bịnh, gặp Tử Vi là ít bịnh, có Liêm Trinh gia Dương Hỏa là chân tay bị thương tàn.

Văn Xương một mình ở cung Tật nguy là ít bịnh, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là nhiều tai bịnh, nếu cùng với Cát tinh thì một đời không bị bịnh.

Văn Khúc là ít bịnh, gia Cát tinh là một đời không bịnh tật, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp ở cung Hãm là có tai bịnh.

Tả Phụ một mình thì bình thường, gia Cát tinh ít bịnh gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là thường có bịnh.

Hữu Bật một mình gặp bịnh có người cứu gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp ắt nhiều tai nguy.

Kình Dương là có chứng đầu phong, hoặc chân tay mệt mỏi, nếu bị phá tướng thì sống lâu, gia Cát tinh là ít bịnh.

Lộc Tồn là thiếu niên nhiều tai ương gia Cát tinh là ít bịnh, có Dương Đà Hỏa Linh là chân tay bị thương tàn, gia Không Kiếp bị ám tật thì sống lâu.

Đà La nhỏ bị sún răng, lở miệng, đầu mặt bị thương phá thì sống lâu.

Hỏa Linh là ít bịnh, miếu vượng thì thân thể tráng kiện, linh lợi.

Đẩu quân gặp Cát tinh thì thân tâm được yên ổn, năm đó không tai bịnh, gặp Hung Sát ở cung bản Mệnh thì sợ năm đó nhiều tai bịnh.

606. – VIi. THIÊN – DI

Có Tử Vi với Tả Hữu là xuất ngoại có quí nhân phù trợ, phát Phúc, với Thiên Phủ là được hanh thông chi triệu, các việc được bén giọt thông đạt. Với Thiên Tướng là tại ngoại phát tài, với Phá Quân là đi đâu cũng có quí nhân ưa chuộng, tiểu nhân không đủ làm hại, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là đi ra ngoài không được yên.

Thiên Cơ là xuất ngoại thì gặp Quí nhân, ở nhà thì có thị phi, với Cự Môn là trong động mà Tốt, với Thiên Lương là xuất ngoại được toại ý, với Thái Âm ở trong hoang mang mà tốt, gia Dương Đà Hỏa Linh ở ngoài ắt nhiều chuyện thị phi, thân không được yên.

Thái Dương nên xuất ngoại thì phát phúc, nhưng không được yên mà hưởng. Với Thái Âm ra ngoài, trong hoang mang sợ sệt thì tốt, gặp Cự Môn thì lao tâm, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, ở ngoài thì tâm và thân không thanh nhàn.

Vũ Khúc trong lo sợ thì tiến ít, không nên ở yên mà giữ, với Tham Lang là Cự thương, với Thất Sát Phá Quân là tâm thâm không được yên mà giữ, gia Dương Đà Hỏa Linh là ở ngoài ắt chiêu lấy thị phi.

Thiên Đồng ra ngoài gặp quí nhân phù trợ, gặp Cự Môn là lao tâm, với Thái Âm là tân khổ với Thiên Lương là có quí nhân yêu chuộng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tại ngoại ít khi được hài lòng.

Liêm Trinh ra ngoài được thông đạt, gần nhiều quí nhân, ở nhà ắt ít quí nhân, gặp Tham Lang trong có động mới đi được. Gặp Thất Sát là ra ngoài kiếm tiền bằng nhiều thứ, có Thiên Tướng trong động thì tốt, gia Dương Đà và 3 phương có Hung sát thì chết ở ngoài đường.

Thiên Phủ ra ngoài gặp nhiều quí nhân phù trợ, có Tử Vi đồng làm thì phát phúc, gặp Liêm Trinh Vũ Khúc là trong động ắt được tài, làm Cự thương.

Thái Âm nhập miếu xuất ngoại ngộ quí nhân phát tài, ở Hãm địa là ra ngoài ắt chiêu lấy thị phi, có Thái Dương cùng là cực đẹp đẽ, lâu lâu ắt yên tĩnh, gặp Thiên Đồng ở miếu vượng địa là ra ngoài tay trắng sinh tài thành cơ nghiệp.

Tham Lang một mình, ra ngoài thì lao khổ, tự động ắt có hoạnh tài, gặp Liêm Trinh gia Tứ Sát tại ngoại là gian nan, gặp Vũ Khúc, là Cự Thương, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Sát ở lưu niên nữa ắt bị gặp binh đao đạo tặc nguy khốn.

Cự Môn xuất ngoại thì lao tâm không yên, hư hao về người, gặp nhiều thị phi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp lại càng thêm nguy.

Thiên Tướng ra ngoài thì được quí nhân nâng đỡ, gặp Tử Vi là Cát Lợi, gặp Vũ Khúc ở ngoài thì phát tài, có Liêm Trinh gia Dương Đà là chiêu thị phi, tiểu nhân thì không đủ ăn.

Thiên Lương ra ngoài gần quí nhân và thành được quí nhân, cùng với Thiên Đồng thì phúc hậu, với Thiên Cơ là làm nghề khéo bán ở ngoài đường.

Thất Sát là ra ngoài nhiều, ở nhà ít, với Vũ Khúc là trong động thì tốt, với Liêm Trinh là ra ngoài sinh tài, với Tử Vi là ở ngoài phần nhiều được toại lòng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là người tiết tháo ngồi một chỗ không yên, hoặc lưu đãng lang thang.

Phá Quân xuất ngoại thì lao tâm không yên, nhập miếu là ra ngoài ngơ ngẩn, gia Dương Đà Hỏa Linh là bôn tẩu làm nghề khéo trên đường, gia Vũ Khúc, Xương Khúc là người hát chèo, hát bộ.

Văn Xương xuất ngoại thì gặp quí nhân và phát đạt, là tiểu nhân thì không đủ ăn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là lâu mới được an ninh.

Văn Khúc tại ngoại là cận quí gia Cát tinh thì được phát tài, gia Dương Đà Hỏa Linh thì ít khi được toại lòng.

Tả Phủ trong động thì quí nhân phù trợ phát phúc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp người hạ tiện thì nhiều ăn, nhiều thị phi.

Hữu Bật xuất ngoại gặp quí nhân phù trì phát đạt không nên ở yên một chỗ mà giữ lấy, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp ra ngoài có người cạnh tranh.

Lộc Tồn là xuất ngọai thì y lộc được toại lòng, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là cùng người không đủ ý.

Kình Dương nhập miếu tại ngoại thì y lộc được toại lòng, gia Cát tinh trong động thì phát tài, lạc hãm ra ngoài có thể thành được nhưng kẻ Hạ tiện lại bị thiếu thốn nhiều.

Đà La hội với Cát tinh ra ngoài gặp Quí nhân thì đắc tài, hãm địa gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, là chiêu nhiều thị phi, hạ nhân thì không đủ ăn.

Hỏa Tinh một mình, xuất ngoại thì không yên, gia Cát Tinh là trong động thì tiến tài, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là chiêu thị phi ngoài ít khi được toại lòng.

Linh Tinh gia Cát tinh thì xuất ngoại tốt, gặp Hung sát trong động là bị khẩu thiệt lung tung.

607. – VIIi. NÔ – BỘC

Có Tử Vi là được đắc lực, ở vượng địa là họ sinh tài cho mình, gia Dương Đà Hỏa Linh là sự giúp đỡ chậm chạp, bất lực với Phá Quân là trước khó khăn sau mới mướn được Thiên Tướng là đắc lực, gia Không Kiếp là họ làm mình sợ hãi mà trốn đi.

Thiên Cơ nhập miếu là đắc lực, bị hãm không là oán chủ, với Thiên Lương sau mướn được, với Thái Âm sau mới đắc lực, với Cự Môn gia Cát tinh là có Nô tỳ, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp toàn là khó mướn.

Thái Dương nhập miếu, vượng địa thì chủ phát đạt, nếu ở Hãm cung cũng có mà oán chủ rồi trốn đi, gặp Thái Âm là mướn được nhiều, có Cự Môn là chiêu oán nhiều, gia Dương Đà Hỏa Linh là đày tớ phản chủ.

Vũ Khúc ở vượng cung là tôi tớ nhiều, nhất hô bá ứng, với Thiên Phủ là nhiều tớ trai tớ gái, có Phá Quân là chiêu oán rồi đi, cuối năm lại mướn được, có Thiên Tướng là đắc lực, gặp Thất Sát là bội chủ, gặp Tham Lang không đắc lực có nhưng chậm.

Thiên Đồng ở cung vương tướng là đắc lực, có Cự Môn là trước khó sau dễ; gặp Thái Âm là đắc lực, có Thiên Lương là giúp chủ, gia Dương Đà Hỏa Linh là tớ phản thầy, nếu có Không Kiếp là oán chủ rồi đi.

Liêm Trinh lạc hãm là tớ phản thầy, cuối năm chiêu lại được, nhập miếu là nhất hô bá ứng, với Tham Lang là lực chậm, có Thất Sát là phản chủ gặp Thiên Đồng là nhiều tôi tớ, gia Dương Đà Hỏa Linh không vượng là chúng nó rủ nhau đi.

Thái Âm ở miếu địa là đắc lực thành được việc, gặp Thái Dương là nhiều đầy tớ trai, gái, có Thiên Cơ thì chậm lực, gặp Thiên Đồng là vượng chủ, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tuy có mà trốn đi, ở Hãm địa là toàn vô.

Thiên Phủ là đắc lực nhất hô bá ứng; gặp Tử Vi là giúp đỡ chủ rất tín cẩn, gặp Vũ Khúc là đầy tớ có nhiều, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là nhiều đứa phản chủ trốn đi.

Tham Lang lúc đầu khó mướn, tớ hại chủ, ở Hãm địa là không có, gặp Liêm Trinh cũng ít, gặp Tử Vi là có tớ trai gái, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tuy có mà không nuôi được.

Cự Môn nhập miếu lúc mới thì không đắc lực, chiêu thị phi, không ở được lâu, gặp Thái Dương là trợ chủ giữ nhà, gặp Thiên Đồng là không một lòng giúp chủ, về sau già thì mướn được.

Thiên Tướng về sau mướn được, có Tử Vi là nhiều tớ trai hầu gái, có Vũ Khúc oán chủ, với Liêm Trinh về sau có thể mướn được, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp lực chậm và trốn đi.

Thiên Lương đầy tớ nhiều lại vượng chủ, gặp Thiên Đồng là đầy tớ tín cẩn có thể giao cả nhà được, với Thiên Cơ thì đầy tớ không nhất tâm.

Thất Sát là đầy tớ khinh chủ, ngạo ngược hay ăn cắp tiền tài, gặp Vũ Khúc là phản chủ, có Liêm Trinh là chậm lực, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là rất khó chiêu mướn.

Phá Quân nhập miếu thì đắc lực, Hãm địa và chiêu oán, phản chủ, gặp Vũ Khúc là phản bội, có Tử Vi thì đắc lực, có Liêm Trinh là chậm lực, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là khó mướn.

Văn Xương nhập miếu là có một đứa đắc lực giúp chủ gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tuy có nhưng phản bội.

Văn Khúc nhập miếu là đắc lực, lạc hãm là không nuôi được, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là oán chủ mà đi.

Tả Phụ là có một miếu vượng là nhất hô bá ứng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là phản chủ khó mướn.

Hữu Bật có một người thành được việc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là phản chủ, ăn cắp rồi trốn đi.

Lộc Tồn đày tớ nhiều, gia Cát tinh là giúp chủ thành cơ nghiệp, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì chậm lực.

Kình Dương có mà hội chủ chiêu oán không đắc lực, không ở được lâu, nhập miếu thì về sau có thể mướn.

Đà La là tôi tớ chậm lực, oán chủ, nhập miếu gia Cát tinh thì lại có.

Hỏa Tinh có một người mà oán chủ không đắc lực, gia Cát tinh nhập miếu thì mướn được 1, 2 người.

Linh Tinh có một người mà không đắc lực, hận chủ, gia Cát tinh nhập miếu lại là giúp chủ trông nom công việc trong nhà, tín cẩn, gia Kiếp Không Hao Kỵ toàn là chậm lực.

Đẩu Quân qua đến cung Nô Bộc phùng Cát Tinh thì tôi tới qui thuận, phùng hung tinh Hao Kỵ Sát hoặc hận chủ mà đi, hoặc hành hung đày tớ mà mang tiếng thị phi.

608. – IX. QUAN – LỘC

Có Tử Vi miếu vượng ngộ Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt được phong đến Hầu Bá, gia Dương Đà Hỏa Linh là bình thường, gặp Thiên Phủ là Quyền quí, danh lợi song toàn, gặp Thiên Tướng là trong ngoài có Quyền quí Thanh chính gặp Phá Quân là trong động thì yên thân.

Thiên Cơ nhập miếu là Quyền quí hội với Văn Khúc là bầy tôi hiền, gia Dương Đà Hỏa Linh công danh ắt có, với Thiên Lương là có tài Văn Võ, với Thái Âm là có tài làm Tướng trấn biên thùy; ở Hãm địa thì làm quan bị giáng chức hay mất chức trở lại chức nhỏ để giữ chân mà sống.

Thái Dương nhập miếu là Văn võ song toàn tài, không có Dương Đà Hỏa Linh thì tốt, có Thái Âm là quí hiển, có Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, lại có Khoa Quyền Lộc là “Nhất Phẩm chi quí”.

Vũ Khúc nhập miếu cùng Xương Khúc Tả Hữu là Quan Võ cao cấp, thường nhân thì phát phúc, hội với Khoa Quyền Lộc là Quan về Tài chánh, có Tham Lang ở Hãm địa là quan tham ô, có Phá Quân là nhà Binh xuất thân thì tốt, có Thất Sát thì hoạnh lập công danh, ở Hãm địa lại gặp Đà Linh Kiếp Địa là không có phận, người không công danh.

Thiên Đồng nhập miếu không có Dương Đà Hỏa Linh thì tốt, làm nên văn lẫn võ, có Cự Môn thì nhỏ sau lớn, có Thái Dương Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc thì tốt đẹp, có Thiên Lương là Quyền quí, có Thái Âm ở hãm cung là làm Thư lại.

Liêm Trinh nhập miếu là quyền qui về Võ công không được bền, với Tham Lang là trong động thì có quyền quí, có Tử Vi hội ở ba phương lại là Văn chức, với Thất Sát là người xuất thân ở quân lữ, với Thiên Tướng, Thiên Phủ cùng là được làm quan phú quí.

Thiên Phủ nhập miếu làm Văn Võ quan đều tốt, không có Dương Đà Hỏa Linh Không Hao thì đẹp đẽ hoàn toàn, gặp Tử Vi là làm văn quan đều được thanh danh, với Liêm Vũ đồng chiếu là quyền quí, có Không Kiếp là bình thường.

Thái Âm nhập miếu là Đại quí, lạc hãm là người khí cả mà hoạnh phá khó hiển đạt, với Thái Dương Xương Khúc Tả Hữu là quan đến Tam phẩm, có Thiên Đồng là Văn Võ quan đều nên cả, với Thiên Cơ là tự mình xin làm thơ lại để lấy chân mà lên.

Tham Lang nhập miếu ngộ Hỏa Linh là Quan Võ cầm quyền binh lớn trong tay, vào hàng Thượng Tướng. Gặp Tử Vi là làm Văn Võ quan có quyền uy lớn lao. Ở Hãm địa là tham quan ô lại, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường.

Cự Môn nhập miếu là Vũ Chức quyền quí, là Văn nhăn thì không bền, gặp Thái Dương là có sự thăng đáng. Nhập miếu là làm lớn bền lâu, gặp Thiên Cơ tại cung Mão là Cát mỹ, tại Cung Dậu tuy đẹp đẽ mà hữu thủy vô chung, lạc hãm là bị thương tàn, hối lẫn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp đều không được đẹp lòng, nên từ chức thoái quan.

Thiên Tướng nhập miếu là Văn Võ đều nên, thực lộc thiên chung, ở Hãm địa thì khi thành khi bại, có Tử Vi là Quyền quí, có Xương Khúc Tả Hữu là quyền quí hiển vinh có Vũ Khúc là làm võ chức ở biên thùy, gặp Liêm Trinh là quyền quí cao, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp có sự giáng chức.

Thiên Lương miếu ở cung Ngọ hội với Tả Hữu Khôi Việt là có tài văn võ, với Thiên Đồng là quyền quí lớn lao, có Thiên Cơ là quí hiển cao vọi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường.

Thất Sát miếu vượng là Vũ chức quyền quí cao vợi lớn lao, không nên làm ăn quan, gặp Vũ Khúc là quyền quí, đồng với Liêm Trinh là công danh hiển đạt.

Phá Quân miếu vượng làm quan võ thì được thăng cao gia Dương Đà Hỏa Linh thì bình thường, gặp Tử Vi đồng cung là danh vang lừng lẫy, gặp Liêm Trinh mà là Văn nhân thì không được lâu chỉ làm lại thì tốt.

Văn Xương nhập miếu có Thái Dương gia Cát tinh và Khoa Quyền Lộc là có tài Văn Võ, có Thiên Phủ Văn Khúc là Phú quí song toàn.

Văn Khúc miếu vượng là về Văn Võ đều nên, lạc hãm gặp Thiên Cơ, Thái Âm đồng cung là làm lại có quyền quí. Hội có Tử Phủ Tả Hữu là cận thần, có quyền chấp chánh, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là bình thường.

Tả Phụ nhập miếu là tài Văn võ, làm về Võ quan thì rất vượng, về văn thì bất lợi, hội với Cát tinh về văn hay võ là người thanh liêm, và hiền lành, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là lên xuống không chừng.

Hữu Bật nên làm Quan Võ, không hòa hợp với chức quan văn, có Tử Phủ, Xương Khúc thì tài quan song mỹ, lạc hãm thì thành bại, bị dáng chật hay thải hồi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp cũng bị truất dáng.

Lộc Tồn hội với Cát tinh, giỏi cả văn lẫn võ, Tài quan song mỹ, con cháu cũng được phong tặng được mỹ mãn.

Kình Dương nhập miếu làm Vũ chức rất lợi, với Cát tinh là quyền quí lạc hãm là thường, là hư danh.

Đà La đứng một mình là bình thường, gia Cát Tinh là hư danh.

Hỏa Tinh miếu vượng thì về già công danh được toại nguyện, còn nhỏ tuổi thì có thành có bại, hội với Tử Tham thì tốt, ở hãm địa ắt không mỹ mãn.

Linh tính đứng một mình ở vượng cung thì tốt, lạc hãm không mỹ mãn, gia Cát tinh là quyền quí.

Đẩu quân gặp Cát tinh, năm tháng đó là Tài Quan vượng, phùng Hung Tinh, Hóa Kỵ không hiển đạt, có sự lao khổ bôn ba.

Định Công Khanh: Tử Vi gặp Phụ, Bật: Quan làm đến tam phẩm.

Nếu bị Không vong, ác tinh ba phương chiếu lại chỉ là hư danh thụ ám phong (các quan Hàn, Cụ Bá, Cụ Cửu).

Định Chức Phủ: cung Quan Lộc có Xương Khúc miếu vượng rất khó gặp, là cách “Văn Quế Văn Hoa” ắt được phong hầu, làm chức phủ hay Huyện Lệnh.

Nếu bị hung sát tinh lâm vào phá thì cách Tốt hóa ra xấu.

Định Văn Quan. Cơ Xương Khúc ở cung Quan Lộc gặp Tử Tướng là bậc Văn Quan kiêm Quyền Lộc làm ra Phong biến tiêu biểu Lễ nghi Triều đình.

Định Võ Quan. Cung Quan Lộc có tướng quân là Võ Tinh, gặp Tử Vi, Phụ Bật cũng chiếu là bậc Cái Thế Anh hùng, Kim chương Ngọc đái tá Hoàng Vương.

Định Quan Lại. Thái Dương ở cung Quan Lộc, ở cung Dương tuy được sáng lạng mới đầu không hung, nếu gặp Tử Vi kiêm Tả Hữu là văn chức lại thích anh hùng.

609. – X. ĐIỀN TRẠCH

Có Tử Vi là cơ nghiệp được mậu thịnh, tự dựng lên thì vượng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có để lại, có bỏ đi, với Phá Quân là bỏ tổ nghiệp, có Thiên Tướng cùng với Tả Hữu Xương Khúc là thành cơ nghiệp lớn.

Thiên Cơ là bỏ tổ nghiệp làm lại cơ nghiệp mới, có Cự Môn tại cung Mão ắt có ruộng vườn, tại cung Dậu không giữ được tổ nghiệp, trước to sau nhỏ, với Thiên Lương thì dựng được cơ nghiệp, về già thì giàu, gặp Thái Âm là tự dựng lên thì thịnh vượng.

Thái Dương nhập miếu là được tổ nghiệp để lại, mới thì lớn sau bình thường, gặp Thái Âm gia Cát tinh thì nhiều ruộng, cùng với Cự Môn ở cung Dần thì thịnh vượng ở cung Thân thì thoái tổ cũng không đến nỗi không có điền sản, ở Hãm địa phùng Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là toàn không.

Vũ Khúc một mình ở vượng địa là được Tổ phụ để lại cơ nghiệp lớn lao, ở Hãm địa thì cơ nghiệp bị suy sau tất thành. Gặp Phá Quân, Đại Hao là phá đãng gia sản, có Thiên Tướng thì trước phá sau thành, với Thất Sát là tâm không muốn, với Thiên Phủ thì giữ được Tổ nghiệp, làm thành cơ nghiệp to, gặp Tham Lang thì đến già dựng được cơ nghiệp, gặp Hỏa Linh miếu vượng thì cực mỹ, ruộng vườn sanh tốt, thịnh vượng có Không Kiếp thì có mua, có bán.

Thiên Đồng trước ít sau nhiều, tự mình dựng cơ nghiệp thì thật vượng, có Cự Môn là ruộng ít, có Thái Âm nhập miếu thì giàu lớn. Gặp Thiên Lương thì trước ít sau nhiều hơn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là toàn không.

Liêm Trinh là phá tổ Nghiệp, gặp Tham Lang là có Tổ nghiệp để lại nhưng không bền, gặp Thất Sát là tự dựng gặp Thiên Phủ là giữ được tổ nghiệp, làm thành cơ nghiệp, với Thiên Tướng là trước không sau có.

Thiên Phủ là ruộng vườn sanh Tốt thì thịnh vượng, giữ được Tổ nghiệp và tự dựng lên, gặp Tử Vi là đại phú với Liêm Vũ là giữ được Tổ nghiệp được vinh sương, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì có ít lúc thành lúc bại.

Thái Âm nhập miếu là nhiều ruộng, ở Hãm địa gia Kỵ Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì không có một tấc, với Thiên Cơ là tự dựng lên với Thiên Đồng là tay trắng tự dựng lên cơ nghiệp, gia Tả Hữu, Quyền Lộc, Lộc Tồn chủ nhiều điền sản.

Tham Lang hãm địa là thoái tổ, một đòi ít ruộng nương, miếu vượng là có tổ nghiệp để lại, trung vận thì bán hết, đến hậu vận lại tự dựng lên, với Liêm Trinh là không có phận, gặp Tử Vi thì có tổ nghiệp với Vũ Khúc là về già dựng nghiệp, gặp Hỏa Linh là giữ được Tổ nghiệp tự dựng lên, nhưng sợ nhà cửa bị cháy.

Cự Môn miếu vượng là hoạnh phát dựng lên, mua được, ở hãm địa là không có phần, nhân vì điền sản mà chiêu lấy thị phi. Với Thái Dương thì trước không sau có gia Da Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì ruộng nương nhà cửa đều không.

Thiên Tướng miếu vượng là có phận, với Tử Vi là tự dựng lên với Vũ Khúc thì không có phận, gia Liêm Trinh mà không có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì sau có Điền trạch.

Phá Quân tại cung Tý Ngọ là giữ được Tổ nghiệp được vinh sương chỉ có sự hơn kém thôi, gia Dương Đà Hỏa Linh thì kém tổ nghiệp, ruộng nhà ít, với Tử Vi thì thành gia nghiệp, có Liêm Trinh là trước phá sau thành, bị Hao Kỵ thì toàn vô.

Văn Xương hội với Cát tinh thì ruộng vườn xa rộng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bại tổ.

Văn Khúc ở vượng địa thì có phận, giữ được Tổ nghiệp gia Cát tinh là tự dựng, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có lên xuống.

Tả Hữu là có Tổ nghiệp, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp kém tổ nghiệp, ruộng đất ít, hội cát tinh thì nhiều.

Lộc Tồn là điền viên nhiều, thịnh vượng, tự tay dựng lên hội với cát tinh là thừa hưởng tổ nghiệp, vinh sương gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là ruộng nhà ít.

Kình Dương, nhập miếu trước phá sau thành, ở Hãm địa gia Không Kiếp là bán tổ nghiệp.

Đà La, là bán Tổ nghiệp làm ăn khổ sở để độ nhựt gia Cát tinh, trước không sau có, gia Không Kiếp là toàn vô.

Hỏa Tinh một mình là bán tổ nghiệp hội với Cát tinh là trước không sau có, gặp Không Kiếp là không có.

Linh Tinh là bán Tổ nghiệp, nhập miếu gia Cát tinh tự dựng lên, gặp Không Kiếp là toàn vô.

Đẩu quân quá độ gặp Cát tinh thì năm đó điền sản bồi thêm, gặp Hung Sát Kỵ Hao thì thoái bại.

610. – Xi. PHÚC – ĐỨC

Phúc Đức là cung cần phải xem cho kỹ, vì người ta có ảnh hưởng liên lạc đến cái âm đức của các Tiền nhân để lại như người Mệnh thật tốt mà cung Phúc kém ắt cái hạnh phúc ở đời không được toại mãn. Lắm người Mệnh thật xấu Thân xấu, Hạn đi thường thường mà cung Phúc được tốt ắt là đời được hạnh phúc mỹ mãn. Muốn cho dễ hiểu tôi ví cái Thân Mệnh con người như cái áo dệt để bao thân thể, có thứ bằng gai, bằng tơ, bằng vải, bằng lụa, cái nào cũng có chỉ ngang chỉ dọc. Nhưng có cái lại có bông có hoa đẹp đẽ, màu mè xinh tươi bọc lên tấm thân các vị Vua chúa. Được nâng niu quí báu, có cái lại bọc cái thân xác ốm o của người bần hàn ti tiện. Thế là nghĩa làm sao?

Cái Phúc Đức ta có thể tượng trưng trong ví dụ này là cái vị của cái áo ở được nơi quyền quí hay ở chỗ thấp hèn. Cũng như con người sao lắm người tài ba lỗi lạc mà thi không đỗ, ra xã hội lại bị nhiều cảnh éo le, lắm kẻ ngu muội hèn nhát lại được hưởng muôn sự hạnh phúc ở đời. Nếu không có những sự ảnh hưởng vô hình mà ta gọi là Âm Đức, ắt ta cho những sự chênh lệch khắt khe ấy là vô lý, không còn có số Mệnh và Đạo Trời bất công vậy. Cho nên người có Âm Đức được hưởng vạn phúc lành bất kỳ trong trường hợp nào cũng vậy. Nếu Mệnh là số thứ dân ắt cũng được hạnh phúc vui vẻ, tai họa qua khỏi, nếu là kẻ sĩ ắt phong vân gặp hội mà đường hoạn lộ ắt được cao thăng.

Cái Phúc Đức của Tổ Tiên để lại theo phương Đông là do Tiền nhân, mà cái xương cốt còn lại có ảnh hưởng trực tiếp với con cháu về sau. Khoa học hiện tại cho ta biết rằng có Nguyên tử mà Nguyên tử bất diệt, nên những cái Nguyên tử của Tiền nhân còn lại ở Xương Cốt một khi được nhuần thấm các Thiên khí, phong thủy đều hòa ung đúc thành như một cái máy “Phát khí lực” xấu hay tốt cho con cháu đời sau. Con Cháu đời sau đã sẵn có những loại Nguyên tử gia truyền, có người hợp kẻ xung, để chịu ảnh hưởng mau hay chậm những âm đức của Tiền nhân phóng ra. Đây một nguyên lý cao siêu vô hình mà các bạn có thể tưởng tượng cái Mồ mã của Tiền nhân như một đài “Phát Thanh” và các con cháu sau này như những cái máy “Thâu Thanh”.

Máy “Phát ra’ này người Phương Đông lấy ở Mồ mã, tiền nhân làm căn bản, nó có thể hữu lý và chúng ta đã biết rằng Nguyên tử là bất diệt vậy.

Nếu muốn tồn tại được cái Phúc vì vậy người Á Đông ta có môn địa lý để phong thủy mồ mã, đó chỉ là một Khoa học cao siêu biết được cái lý của Đất thu được Thiên Khí để hấp thụ cái di bài con Người còn lại như xương cốt, hay nói cho dễ hiểu, ông Thầy Địa cũng như các kỹ sư về điện khi biết cách chế biến những máy Phát thanh cho bền cho mạnh, mỗi một giòng họ có một Nguyên tử đặc biệt riêng chỉ con cháu họ, giống của họ mới có mà sau này thành những máy Thâu Thanh riêng biệt vậy.

Nếu ta chịu nhận những làn sóng Hertzienne vô hình kia là có, ta cũng không thể không nhận những làn sóng vô hình Phúc đức ảnh hưởng từ một Ngôi Mộ cho con cháu được. Ta cho là không có là tại ta chưa thấy, chưa học đến, nhưng ông Cha ta cũng chẳng dại gì cứ tin tưởng đến nỗi thành ngạn ngữ như những câu “Sống vì Mồ Mã, Ai sống về cả bát ăn” Nên mới đến Phúc Đức của một người là người ta liên tưởng đến ngay Mồ Mã, vì lẽ ấy trong Số Tử Vi của người ta có cung Phúc Đức là để xem Mồ mả ảnh hưởng trực tiếp cho số từng người một. Mà cung Phúc Đức là cái nguyên nhân của từng số. Như một cây đa to lớn sống ở trên một khoảnh đất ít màu ít khí, cây đa là loại cây lớn nhưng cái nguyên nhân căn bản để sống mà không có ắt cũng tàn tạ mà chết, không bằng cây lau cây sậy nhỏ bé mà được ở chỗ vượng địa ắt lúc nào cũng được xanh tươi. Cho nên xem một số người ngoài sự xem Mệnh Thân cung rồi phải xem cung Phúc Đức cân nhắc, đối chiếu ắt sẽ biết cái lực suy vượng, tồn vong mà cái Số đo có thể tới được.

Vì lẽ ấy tôi đã hết sức khảo cứu và nghiệm xét rất lâu về cung Phúc đức để viết ra đây thật rõ ràng cho các bạn dễ hiểu. Ta có thể tả được rõ ràng ngôi mộ tọa hướng nào, hướng mặt về hướng nào…

Bắt đầu từ đây tôi giải xem cung Phúc Đức :

Cung đằng trước là Tả là ngoài, ba phương là Ngoại Long, Hổ và Khánh Sơn, cung đằng sau là Hữu là sau.

Dương trạch âm phần đều xem như vậy.

Ví dụ như cung Phúc đức ở cung Tý, cung Sửu ở đàng trước la Tả, cung Hợi là đằng sau là Hữu. Ba phương thì; Ngọ là Khánh Sơn, Thân là Long, Thìn là Hổ.

Thân Tý Thìn tam hợp là ba phương

Xem Dương Trạch thì lấy cung Mệnh làm Bản cung, xem hành hạn cũng vậy.

Hình Tính các sao trong cung Phúc Đức.

HÌNH TÍNH CÁC SAO TRONG CUNG PHÚC – ĐỨC

Thiên Cơ là mộc tinh vật là thảo mộc.

Thái Dương là Bình Dương (ruộng bằng) hình như tấm kính, người là dương hồn (mộ đàn ông).

Liêm Trinh là gò cao nổi lên (như xương sống) hình như người ốm, ngồi một mình.

Thiên Phủ là tổ sơn, Thổ tinh đại địa, linh khí ở hữu đến.

Thái Âm là gò cao chót vót, người là Âm hồn (mộ đàn bà) hình như bán nguyệt.

Tham Lang là bắc thổ chi địa (đất màu bùn đen) vật là thảo mộc um tùm, hình như con chó ngồi.

Vũ Khúc là Cô Sơn.

Hỏa Linh như cái cần giài.

Thiên Lương là đất bụi, hình như cái suối giài (cái suối trong khung cửi).

Cự Môn là cuốc đất vuông, ở dưới thì đất vàng, hình như cái chiếu giải.

Thiên Tướng là đất vuông vắn dày dặn hình như cái ấn vuông.

Thất Sát là đất khô đỏ, hình như cây cỏ giài thẳng và nhọn là Cô Sơn.

Phá Quân là cuộc đất tan lở, hình như tên quân thường cổi giáp.

Văn Xương như một cục sắc tròn.

Văn Khúc như giải nước khúc khuỷa.

Phụ Bật là đất no đầy, hình như cái cạp chiếu nổi đầy đều lên.

Thiên Khôi như cái cột tươi sáng dựng lên.

Thiên Việt như hình cái kiếm lớn.

Thiên Mã là hình con ngựa.

Lộc Tồn là đất hình vuông, hình cái thương, là cô sơn.

Dương Nhận là như cái nanh, hay con dao nhọn của lính.

Hóa Lộc là đất bao lần kim khí, hình như cái thương.

Hóa Quyền là đất như cụm cây vuông, hình như cái yên ngựa.

Hóa Khoa là cuộc đất hình cái khuôn cây như cái Bảng.

Hóa Kỵ là đất có nược ngưng tụ, bùn lầy, đất đen.

Không Kiếp là đất hung.

Phi Liêm là hỏa tinh tán loạn là cô sơn (núi đứng một mình).

Hỉ Thần là đất bằng có cát.

Bịnh Phù là đất như cái đai.

Lưỡng Hao là đất khô.

Phục Binh là đất hình nhọn, là phạn lại.

Thiên Hình là đất có mảnh sành mảnh bát vỡ là nhà tù tối tăm.

Thiên Diêu là đất gần nước, ẩm ướt, về thảo mộc thì tươi tốt um tùm.

Tam Thai đất hình tam tinh.

Bát Tọa là đất hình Bát Diệu (8 sao, hình như đồ Bát cống).

Hư Khốc là đất đường nhỏ hư lỡ.

Long Trì là đất giữ nước, hình cái ao, cái giếng cạn.

Phượng Cát là hình lâu đài, về vật là loài chim sắc đỏ, con Phượng.

Tràng Sinh là đất tụ rất nhiều nước là dãy nước dài.

Mộc Dục là đất tích tụ các thứ nước, nước ở thác xuống.

Thai là Trẩm long chi Thủy (nước có rồng lội).

Dưỡng là nuớc ở ngoài triều đến.

Quan Đái là Huyền Vũ Thủy (khí phách về Võ) là cái Đài là hình bán nguyệt.

Tử là chỗ nước chảy mau, tử thủy.

Mộ là thoái thần chi thủy.

Hồng Loan là hình cái cung, uốn lên như cái mi mắt, hình bán nguyệt là Nga mi.

Thiên Hỉ là Cát bùn.

Thái Tuế là hình cái xương sống gầy khô, hình như cái bút, về người thì chỉ thị phi quan sự.

Tấu Thư là hình Thần long đứng một mình.

Triệt Lộ là như con đường hẻm, đường làng nhỏ, cầu đất đương đầu với Huyền Vũ ắt giòng Trưởng bại.

Tuần Không là đất khoáng đạt không có gì, trong cuộc tán loạn.

Thiên Quan là Miếu Dương Thần Linh là Đình.

Thiên Phúc là Âm thần linh Tự (chùa) là Quán.

Hoa Cái là hình tựa như cái hoa, cái bát, cái cây.

Thanh Long là Trường Thủy (sông lớn) hình người mang kiếm

Phong Cao là hình cái chiếu vuông vắn.

Thai Phụ là hình cái nón

Suy là như cái xương sống gầy, sắc nhọn

Bạch Hổ là đất đá trắng là hình Số.

Phàm luận về phần Mộ thì chuyên lấy cung Phúc Đức làm bạn cung mà định cuộc đất, coi phương hướng lấy Tiểu hạn Can Chi hành độ coi xung hợp ra sao. Lấy xem các sao xung hợp đắc địa, miếu vượng hay lạc hãm mà đoán cát hung xem có Văn tinh ắt phát về Văn, có Vũ Tinh ắt phát về Võ, có Quí tinh thì phát quí, có Tài tinh thì phát phú. Lại cần phải tham bác cho kỹ những Ác sát tinh mà biện luận ắt không sai, lại lấy cả Can chi 12 cung để coi cả cuộc đất gần xa, hình Tinh các phương rất linh diệu vậy.

Xem dương Trạch cũng vậy.

Thiên Cơ, Phong Cáo, Thai – Phụ, Hóa – Khoa đứng đằng trước là Ấn Tín, đứng đằng sau là Bảng.

Cự Môn là con tuợng (voi) Thiên Việt là búa là Kiếm.

Thiên Mã là ngựa (gặp Đà La ở Tị Hợi là ngựa gãy cẳng).

Tam Thai ở cung đằng trước tà Tiền cung, Tam thai.

Thất Sát ở cung đằng sau là Hậu cung.

Thất Sát, Hỉ Thần, Thiên Hỉ là nước.

Khôi Việt là đầu, Tang Môn là châu, Tuần Triệt là Thất Lộ (lạc mất đường).

Địa Kiếp là đường bị nghẽn tắc, gặp Long Trì Thanh Long là sông bị nghẽn, giếng bị tắc.

Thất Sát, Địa Kiếp là Kiếm (vào hạng Tà không Chính)

Sương, Khúc, Khôi, Việt, Long, Phượng, Khoa, Quyền, Tả, Hữu, Hóa Lộc và Văn Tinh.

Vũ Tham, Dương, Lực Sĩ, Linh Tinh ở vượng địa, Tử Vi Thất Sát là Vũ Tinh.

Kình Dương Đà La Hỏa Linh đứng trước cung Phúc Đức là Tiền quan, đứng sau là Hậu quỉ.

LUẬN CÁC SAO Ở CUNG PHÚC ĐỨC

Sao Tử Vi tọa thủ cung Phúc Đức, là Thổ Tinh Tổ Sơn đại địa, gặp cát tinh thì phát phúc lâu dài, nếu gặp Hao, Triệt, Không Kiếp là giòng Trưởng bị bại, thứ thì thành, tha hương bôn tẩu, Tổ nghiệp không vượng, địa khí đã kiệt tàn.

Tử Vi là ngôi mộ Ngũ đại nội ở vào miếu vượng địa được hưởng phúc lâu dài, gặp Thiên Phủ, Thiên Tướng thì chung thân được cát tường, gặp Phá Quân thì lao tâm phí lực bất an, hội hợp Thiên Cơ là được hưởng phúc chung thân, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp phúc bạc.

Thiên Cơ là Mộc tinh, gặp Không là bóng cây, gặp Triệt là cành cây, cung cây có hoa đẹp và sinh nở được, nếu gặp được Đào, Hồng, Thai, Dưỡng là Phúc, gặp Đà La, Thiên Riêu là đất nghỉ không phát.

Sao Thiên Cơ ở cung Phúc Đức là chỉ về mộ Ông Nội, trước thì lao khổ sau mới được nhàn hạ, với Cự Môn thì có lao lực mới được yên lâu, với Thiên Lương thì được hưởng phúc, với Thái Âm là chủ khoái lạc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là bôn tẩu không được yên tĩnh.

Thái Dương là Hỏa Tinh gặp Địa Kiếp thì đất thật phẳng, gặp Xương Khúc là Cung Huyệt như nước ánh từng khúc trong vườn thượng uyển, thường an triệt lộ ở bên thì có tài văn võ, là bậc Đống Lương trong nước.

Nếu gặp Đà Kỵ Riêu Linh tức như nước không có mạch mà cứ tiết mãi ra hết ngoài, là như “Vân ám sơn lãnh” (Đỉnh núi bị mây phủ ám) thì nhân đinh bị chết nhiều, có tật ở mắt hay đui mù.

Là ảnh hưởng mộ Cha (Cha còn sống là mộ ông Nội) trong nhà hoang mang rồi mới phát phúc, với Thái Âm là con cháu được yên vui, sung sướng. Với Cự Môn là phí lực mới lâu yên, với Thiên Lương được sung sướng yên vui, nếu là số đàn bà mà có cung Phúc Đức như vậy hội với Cát tinh là chiêu được chồng hiền minh hưởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp Kỵ Hao thì suốt đời không được mỹ mãn yên vui.

Vũ Khúc là Kim Tinh, hỉ kiến Tham Lang là Địa Khí cao hậu, sơn thủy hữu tinh, Văn võ toàn tài, xa quê hương thì phát Phúc, nếu gặp Tử Vi ở Hãm địa gia Dương Đà Khốc Hư Linh Kỵ là đất có hình dáng mà không có Huyệt, chôn ở đó là đất bại tuyệt, nếu lại gặp Tuần, Triệt, Phá Quân thì cũng làm được về Nghệ Thuật khéo léo, làm Nghệ sĩ chẳng hạn.

Vũ Khúc là mộ Tứ đại nội nếu ở Hãm địa là lao tâm phí lực ở miếu vượng địa là an nhiên hưởng phúc, có Phá Quân hội với là chạy Đông chạy Tây đời không yên tĩnh, với Thiên Tướng thì lão cảnh an khang, gặp Thất Sát là lâu mới được an khang, gặp Tham Lang càng về già càng hưởng được nhiều phúc, gặp Hỏa Linh miếu vượng là được an nhàn gia Dương Đà là hao tâm phí lực.

Thiên Đồng là Thủy đái Thổ gặp Xương Khúc Khôi Việt Khoa Quyền là đất phát nhiều Quan. Sao Khôi lập ở ngoài chiếu vào là Thiên Hạ cái thế văn chương.

Nếu gặp Đà Kỵ Tuần Triệt Kiếp Không là Huyệt không được chính chỗ tuy phát mà chỉ bình thường.

Thiên Đồng là mộ Tứ đại ngoại, là được hưởng Phúc Thọ sung sướng, với Cự Môn ắt buồn phiền vui ít, với Thái Âm đồng cung là được hưởng phúc, cùng với Thiên Lương là thanh nhàn khoái lạc.

Liêm Trinh là Hỏa Tinh đái Mộc gặp Thiên Tướng, Lộc Tồn đồng độ là địa khí nhiều mạnh và đẹp. Long, Hổ ở ngoài chầu lại thì quí được Vua phong, phú gia địch quốc. Nếu gặp Cô Thần, Quả Tú thì thành không có Tú khí, trai gái bị cô quả phải bôn tẩu tha hương.

Liêm Trinh là chỉ mộ Chú, đứng một mình là trong hoang mang thì có phúc, với Thiên Tướng là có Phúc Thọ, gặp Thiên Phủ là vui vẻ, an cư lạc nghiệp không bị ưu buồn, cùng Phá Quân là mộ không phát phải lao tâm phí lực, gia Dương Đà Hỏa Linh là lao khổ.

Thiên Phủ là Thổ tinh, tổ sơn đại địa, được phát phúc, trường cửu, nếu bị Tuần, Triệt, Kiếp Không là Trưởng bại thứ thành tha hương bôn tẩu tuy phát nhưng không lâu, địa khí đã kiệt.

Thiên Phủ chỉ mộ ngũ đại ngoại được yên tĩnh hưởng Phúc với Tử Vi là một đời khoác lạc, với Liêm Trinh thân thì yên mà tâm thì hoang mang, cùng Vũ Khúc, nhỏ thì cực khổ đắng cay, trung và vãn niên thì được an lạc hưởng Phúc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là lao khổ đệ nhất.

Thái Âm thủy tinh là địa thế cao vợi, gặp Khoa Quyền chiếu lại ắt được Mộc Tinh khí thủy an cực là đứng đầu Thiên hạ. Nếu gặp Khốc Hư Tuần Triệt, Đà Kỵ là giả huyệt không phải thật, con cháu không được thịnh vượng. Thái Âm là Mộ Mẹ (Mẹ còn chỉ mộ Bà Nội), nhập miếu là hưởng phúc khoái lạc, cùng với Thái Dương là cực mỹ, làm tăng đạo cũng được thanh khiết hưởng phúc lâu dài, cùng Thiên Cơ thì tâm hoang mang, với Thiên Đồng thì an tĩnh vô ưu, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có sự ưu buồn thì tốt, đời không được yên tĩnh.

Tham Lang là thủy Tinh gặp Vũ Khúc Khoa Quyền Lộc là địa khí nhiều, âm ỉ lâu bền, đứng đầu thiên hạ, phát mộ Ngũ đại, Nếu gặp Tuần Triệt là như một mở một đóng, một may rủi nhưng cũng không đến nỗi là họa hại.

Tham Lang chỉ mộ Ông Nội, lạc hãm là lao tâm không nên gặp Liêm Trinh thì phúc bạc, cùng với Tử Vi thì về già ắt được an lạc vui vẻ.

Cự Môn là Thủy đái Kim gặp Nhật, Hỏa Khôi Việt Cơ, Quyền Ấn là Vệ Huyệt (Khí Huyệt), các sao tốt cũng phụ là Văn Võ toàn tài, Riêu Đà Kỵ là hung táng là bị nơi Ác Sơn Ác Thủy, thì bị tai hung, trai gái bịnh tật yểu bần, hình ngục, huynh đệ bất hòa. Cự Môn chỉ mộ Bác ruột, lạc hãm là lao tâm không yên, cùng với Nhật có buồn có vui, cùng Thiên Đồng là huởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là gặp nhiều sự ưu buồn.

Thiên Lương là Thổ đái Mộc hỉ kiến Văn Khúc, Khoa Quyền là đất phát Văn mà Vũ chiều vậy. Nếu gặp ở nơi Hãm địa và Tuần Triệt Mã Kỵ là địa thế bị hư liệt, trai thì du đãng, gái đa dâm, phá tán Tổ nghiệp.

Thất Sát là Hỏa đái Kim gặp Tử Vi Khoa Quyền là khi đất ấm áp trong trẻo đất cao trên đỉnh núi trùng trùng điệp điệp, long mệnh chạy tuy đoản (ngắn) nhưng ở ngoài chiều lại, là anh hùng oanh liệt, vũ liệt công hầu. Ở Hãm địa có Dương Đà Không Kiếp Kỵ Riêu Tuế tức là Cô long ngoài không chiều phục thì nhân đinh không vượng, yểu nhược tàn tật bình thường, lao tâm phi lực.

Là Mộ gì gặp Vũ Khúc thì lâu mới yên, với Liêm Trinh là cực nhọc, cùng Tử Vi thì trước lao khổ sau mới an nhàn về sau được toại ý.

Số Đàn bà mà cung Phúc đức có một sao Thất Sát tất chỉ làm Nô tỳ, Ca kỹ.

Thiên Tướng là Thủy đái mộc gặp Khoa Quyền Khôi Việt là đất long mạch đang lên chiều cao vọi, đời đời Công Hầu bá tước. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp thì long mạch bị kim châm chích thương tàn trong hoạn lộ thì bị hoán cải, cách chức, là sĩ thứ thì bị thị phi.

Thiên Tướng chỉ mộ Cậu, đắc địa thì được an nhàn hưởng phúc sống lâu, gặp Tử Vi là khoái lạc, với Thiên Cơ thì hoang mang mà trong được tốt, cùng Thái Dương thì Phúc Thọ song toàn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì tâm không được yên.

Phá Quân là Thủy đái Thổ gặp Vũ, Khoa, Quyền, Khôi, Việt là Tú khí ắt Văn Võ kiêm toàn đỗ đạt cao. Nếu ở nơi Hãm địa gặp Liêm Phục Hình là đất ác khí như tinh sơn Kim hình khắc Mộc như bị mũi nhọn đâm vào chết.

Là mộ cụ Ngoại, là lạc hãm là lao tâm phí lực, cùng Vũ Khúc là lâu mới yên, với Liêm Trinh là khổ cực.

Cùng Tử Vi là an lạc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp cả đời không được yên tĩnh.

Văn Xương là Kim đái Thổ, nếu có Văn Khúc, Khôi Việt Tả Hữu là đất phát con cháu khôi ngô thông minh, phát về sự nghiệp Văn Chương. Nếu gặp Dương Đà Riêu Linh thì bị yểu triết bần cùng, gia Cát tinh nhập miếu là hưởng phúc an lạc.

Văn Khúc là Thủy đái Hỏa gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là Long mạch hội lại rất nhiều, sơn tú thủy hoạt, con cháu trí tuệ thông minh. Nếu ở Hãm địa lại gặp Dương Đà, Hỏa Kỵ Riêu Tuế là đất võ khí, khí ác thủy xạ, tàn tật yểu triết.

Tả Phụ là Thổ đái Kim, gặp Tử Vi là được Tú khí các tinh tú ở ngoài củng chiếu, tay long tay hổ an bày tuyệt mỹ thì tốt vi Cực Quí, nếu gặp Tuần Triệt Đà Hỏa Riêu Kỵ thì nhân đình bị bại yểu, làm ăn cực nhọc. Đứng một mình thì về già được an ninh.

Hữu Bật là Thổ đái Thủy gặp Tử Phủ, Khôi Việt là đất tốt, đất được trúng huyệt ắt phú quí trường đại nhân đinh thịnh vượng, người trung hậu. Nếu gặp Tuần Triệt Riêu Kỵ tức là bị Vong Thủy hãm phá nhân đinh bần yểu.

Ở miếu vượng địa thì bình sinh được phúc lộc toàn, mỹ gia Cát tinh một đời ít ưu buồn.

Thiên Khôi là Hỏa đái Kim gặp Tử Phủ Khoa Quyền là được long cung hậu khí ứng 2 người mà con trưởng được văn võ thọ trường. Nếu gặp Kiếp Thông Tuần Triệt Đà Kỵ thì lại bị phản lại, con trưởng bị bại tuyệt, con thứ thì phá tổ nghiệp bôn ba.

Thiên Việt là Hỏa đái Mộc gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là đất cong cong ôm lấy mộ, được Tú khí con cháu văn hào đỗ Khôi Nguyên. Nếu gặp Thái Tuế Kình Đà Kỵ Kiếp Không Phá ắt là đất bị phạm hung sát, trai thì bị hình chu, gái thì dâm bật bại gia.

Khôi Việt có cả hai sao là quí lắm, quí nhân hưởng phúc an lạc.

Hóa Quyền là Mộc đái Thổ gặp Khôi Việt Tham Vũ là đất hình cung, Tú khí, văn võ toàn tài, nếu gặp Khốc Hư Đà Kỵ tức là bị “Hoàng Truyền Thủy Thế” là cây bị nắng khô, trai thì tuyệt tự, gái truỵ thai.

Hóa Khoa là Thủy đái Mộc Khôi Việt Tham Vũ Xương Khúc là đất đắc địa sinh nhân, Tứ khí, văn võ lại tài sinh người tuấn tú khôi ngô. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp là phản lại, tha hương cầu thực, hoán tổ ly tông.

Hóa Lộc là Thổ đái Mộc gặp Xương Khúc Hồng Loan là cuộc đất sơn thủy hướng chiều, Long Hổ chầu lại, người Văn Hoa đẹp đẽ làm đến Công Hầu. Nếu gặp Dương Đà Riêu Kỵ tất bị các khách tinh ở ngoài phản phúc thì trai gái đều bị khốn cùng.

Hóa Kỵ là Thủy đái Mộc là đất bị ác khí, có gặp Khoa Quyền Xương Khúc Khôi Việt tuy có Địa Long hậu khí, được quí hiển nhưng không bền ắt bị yểu triết bại tuyệt.

Long Trì là Thủy đái Kim gặp Khoa Quyền Xương Khúc cùng với Thiên Lương, Phượng Cát là đất đắc địa, đỗ đạt cao tột, khoa giáp trùng phùng. Nếu gặp Đà Kỵ Dương Riêu Tuần Triệt tức là giả Huyệt, trong ngoài Long Hổ đều sai, trai thì gian trá lọc lừa, gái thì dâm ô.

Phượng Cát là thổ đái Mộc gặp Khoa Quyền, Hồng Loan, Long Trì, Tử Phủ là đất được trong ngoài tú mỹ thì trai ăn học văn chương cao vọi, gái ắt Hoàng Phi. Nếu gặp Đà Kỵ Kiếp Không là Long Hổ bị thương tàn ắt không toàn mỹ.

Lộc Tồn thuộc Thổ gặp Cự Cơ Quyền Lộc thì được phú quí, làm quan đến Công hầu quí hiển, nếu gặp Không Kiếp Tuần Triệt, nhị Hao tức là Thủy triết bị tán bại, khốn cùng ly tổ. Ở miếu vượng địa là chung thân phúc hậu, gia Cát tinh được Hỉ Phúc.

Thiên Mã là Mộc đái Hỏa gặp Khoa Quyền Khôi Việt là Văn Hoa tuấn tú quí hiển lại có kỳ tài. Nếu gặp Dương Đà Riêu Kỵ là tất bị Long Hổ lệch vẹo ắt trai gái dâm loạn, tàn tật yểu triết.

Thiên Quan quí nhân là dương Hỏa là đất đại quí gặp Xương Khúc Khoa Quyền Lộc, Khôi Việt là Văn Khôi cao sĩ, gặp Tham Phá Vũ là Vũ cách đến bậc Công Hầu. Nếu Tuần Triệt Hoa Cái, Tấu Thư là nhà Sướng ca có tiếng tăm, gặp Đà Kỵ Riêu Kiếp là bị tàn tật hôn mê ngu xuẩn.

Thiên Phúc quí nhân là ám Thổ, là cuộc đất rất đẹp, gặp Tử Phủ Hồng Đào thì trai làm Phò mã, gái Cung Phi. Nếu gặp Phá Đà Riêu Kỵ Tuần Triệt là hung địa, trai làm Đạo sĩ ly tổ phiêu lưu.

Phong Cáo là Thổ đái Thủy gặp Tham Vũ Khoa Quyền là địa khí Cát tú; huyệt họa nơi nguy nga đẹp đẽ, được công dan hiển hách, vinh hoa phong tặng. Nếu gặp Tuần Triệt Đà Kỵ Hư Hỏa Kiếp ắt cả đời bôn tẩu không thì ở chốn thiền môn.

Thai Phụ là Thổ đái Kim gặp Khôi Việt, Nhật Nguyệt Tả Hữu đều chầu về huyệt ắt được văn võ công hầu. Nếu gặp Không Triệt Riêu Linh Phá Cự là Sơn thủy thô sơ ắt bị tuyệt vong.

Tấu Thư là Kim đái Thổ gặp Khôi Việt Nhật Nguyệt là văn học thành tài, nếu gặp Riêu Kỵ Thái Tuế là bại địa thì hay sinh ra người điên.

Hỉ Thần là Hỏa gặp Hồng Hỉ Phủ Cơ là Quí địa ắt phát Công Hầu nếu gặp Đà Kỵ Tuần Triệt Riêu Mã Mộc dục ắt là Thủy phá nguyên dầu (suối nước bị phá từ dầu), thì trai gái dâm đãng.

Bệnh Phù là Thổ đái Mộc gặp Riêu Kỵ Dương Đà là Ác Thủy phạm nguyên oa (là hung ác thủy phạm huyệt) trai bị phong cùi, gái bất đắc kỳ tử.

Đại hao Tiểu hao là cuộc đất bị nung nóng, gặp Tử Phủ Khoa Quyền Khôi Việt cũng không được tốt.

Phục Binh là Hỏa đái Kim gặp Khôi Việt Tuần Triệt Thất Sát là đại địa phát về Binh nhung uy chấn Thiên Hạ, nếu gặp Hình Kỵ Không Kiếp ở Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) thì không tránh được nạn đao binh ác sát.

Kình Dương nhập miếu là trong nhà bị động như ốm đau tang tóc thì mới bắt đầu phát phúc, lạc hãm là lao tâm lâu mới có lực, hội với Cát tinh thì giảm được ưu buồn, một mình thì thân tâm bất an.

Đà La đứng một mình thì làm việc cực khổ, nhập miếu là có phúc lộc, hãm địa là bôn ba, gia Cát tinh thì về già có phúc.

Hỏa Tinh thì lâu yên lao lực tâm khổ, gia Cát tinh thì về già được toại trí.

Linh Tinh là lao khổ gia Cát tinh thì bình hòa, đứng một mình thì cay đắng đa đoan.

Đẩu quân gặp Cát tinh thì năm đó được yên tĩnh, gặp hung tinh thì bị hung sát lâu mới yên.

661. – XIi. PHỤ MẪU

Phàm xem cung Phụ Mẫu thì lấy sao Thái Dương tượng Cha, Thái Âm tượng Mẹ.

Thái Dương ở Hãm cung chủ khắc cha trước, Thái Âm ở Hãm địa chủ khắc Mẹ trước. Như hai sao cùng ở Hãm địa thì phải lấy giờ sinh mà xem, sinh ban ngày thì Cha còn, sinh ban đêm thì Mẹ còn. Nếu sinh ban đêm Thái Âm chủ Mẹ còn, bị phản bội không được sáng thì chủ Mẹ bị khắc trước. Sinh ban ngày là Nhật chủ cha còn, phản bội bị tối là chủ cha bị khắc trước. Vậy học giả phải nghiệm xét cho kỹ ắt không thể sai được vậy. Vả lại phải xem bản cung Phụ Mẫu xem có những sao Hung, Cát, Hình, Khắc ra sao hãy Cát tinh miếu vượng cứu chế thế nào mà suy thêm đoán xét ắt được tự ngộ vậy.

Có Tử Vi vô khắc, cùng Thiên Phủ cũng vô hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, thì khắc, cùng Thiên Tướng vô hình, với Tham Lang vô sát cũng Vô Hình, có Phá Quân thì sớm đã mồ côi.

Thiên Cơ miếu vượng vô hình khắc, hãm địa, phùng Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp làm con hai họ, làm con nuôi hoặc bỏ chồng, bỏ vợ hoặc phải đi ở rể, gặp Thái Âm thì miễn hình, cùng Thiên Lương vô hình, cần không có Sát tinh, nếu có thì không tránh được hình thương, với Cự Môn thì sớm đã hình khắc Cha Mẹ.

Thái Dương nhập miếu vô khắc, hãm địa thì khắc Cha, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì sớm đã khắc Cha Mẹ cùng có Thái Âm xem không Dương Đà thì Cha Mẹ còn, gặp Cự Môn gia Tứ Sát Không Kiếp thì nhỏ đã mồ côi, cùng với Thiên Lương là vô hình.

Vũ Khúc là khắc Cha mẹ sớm đã xa Tổ nghiệp thì không bị hình, gặp Tham Lang thì hình khắc, có Thất Sát là bị hình, cùng Thiên Tướng gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp bị hình thương.

Thiên Đồng đứng một mình miếu vượng thì vô hình gia Tứ Sát nên làm con nuôi, có Cự Môn thì lâu mới hòa với Cha Mẹ, cùng Thái Âm thì phụ mẫu song toàn, gặp Thiên Lương thì vô hình, hoặc bỏ Tổ nghiệp, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì Cha Mẹ bất toàn.

Liêm Trinh là bỏ Tổ nghiệp đi làm con nuôi, gặp Tham Lang thì sớm đã hình Cha Mẹ, cùng Thất Sát là cô khắc, với Thiên Phủ là miễn hình, với Phá Quân thì nhỏ đã bị hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cha mẹ không được chu toàn.

Thiên Phủ là phụ mẫu song toàn, gặp Tử Vi không bị hình cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc tại miếu vượng là vô hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là chủ thương.

Thái Âm nhập miếu là vô khắc, gia Dương Đà Hỏa Linh là khắc mẹ không thì bị góa, bỏ tổ nghiệp, cùng Thái Dương vô Tứ Sát thì cha mẹ song toàn, cùng Thiên Cơ thì vô hình, có Thiên Đồng thì cực mỹ (không có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp).

Tham Lang ở Hãm địa hồi nhỏ đi làm con nuôi họ khác, không thì bị góa hay phải đi gửi rể, cùng Liêm Trinh thì sớm bị hình, cô đơn gặp Tử Vi không có Sát thì Cha Mẹ song toàn.

Thiên Lương hãm địa gia Dương Đà Hỏa Linh là cô khắc, bỏ tổ nghiệp đi, ở rể hay nuôi con thì tránh được hình cùng Thiên Đồng gia Tứ Sát là có hình, vô sát vô hình cùng Thiên Cơ thì vô hình, gặp Thái Dương thì khắc chậm, gia Tứ Sát Không Kiếp cũng sớm khắc Cha Mẹ.

Thất Sát là sớm khắc Cha Mẹ, ly tổ, ly lục thân cốt nhục. Sống cô độc, gặp Vũ Khúc cũng bị hình, với Liêm Trinh sớm hình Cha Mẹ, cùng Tử Vi gia Cát tinh vô hình gia Tứ Sát Không Kiếp thì cha mẹ không được chu toàn.

Phá Quân là sớm khắc, ly tổ, nuôi con nuôi thì tránh được hình, cùng Vũ Khúc thì sớm khắc, với Liêm Trinh cũng sớm khắc, gặp Tử Vi thì vô hình.

Văn Xương gia Cát tinh nhập miếu là vô hình, gia Tứ Sát bị hình, hoặc bỏ tổ nghiệp, mang hai họ thì sống lâu.

Văn Khúc một mình nhập miếu là vô hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cha mẹ không được chu toàn.

Tả Phụ một mình là vô hình, cùng Liêm Trinh là sớm hình, gia Văn Xương tương sinh là vô hình, gia Tứ Sát là hình thương ly tổ, mang hai họ thì sống lâu.

Hữu Bật một mình là vô hình, gia Cát Tinh thì Cha mẹ cản ngăn che ám mình, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là ly tổ, mang hai họ thì yên ổn.

Lộc Tồn là vô khắc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là nhỏ đã phá tài sản của Cha Mẹ và bị hình thương không tự mình thành gia thất được.

Kình Dương là sớm đã hình khắc Cha Mẹ, hội với Nhật Nguyệt là ly tổ, gia Cát tinh thì tránh được hình.

Đà La nhỏ tuổi đã hình thương Cha Mẹ, hội với Nhật Nguyệt là ly tổ, mang hai họ thì yên ổn, gia Cát tinh thì ở rể, hay bỏ vợ, bỏ chồng, hoặc mang hai họ thì sống lâu.

Hỏa Tinh một mình là cô khắc, mang hai họ thì sống lâu, gia Cát tinh thì bình hòa.

Linh Tinh thì bị hình khắc cô đơn, mang hai họ thì được an cư, gửi rể hay bị góa.

Khôi Việt chủ Cha Mẹ được vinh quí, gia Cát Tinh là song toàn.

Đẩu Quân quá độ đi đến cung phụ mẫu mà gặp Cát Tinh thì cha mẹ được Cát lợi, không bị tai nạn khắc thương được an nhàn, bên nội ngoại vui vẻ, gặp hung tinh thì cha mẹ không lợi.

8 câu thơ dưới đề nhớ ngũ hành những vị sao chính

612. – BẮC – ĐẨU TINH CHỦ

Tử Vi, Tả Phụ, Lộc Tồn thổ

Vũ Khúc, Đà La, Dương nhận kim

Phá, Bật, Cự, Tham, Văn Khúc thủy

Hỏa thuộc Liêm Trinh Bắc đẩu tinh

613. – NAM – ĐẨU TINH CHỦ

Thiên Phủ, Thiên Lương thổ hữu tình

Thiên Đồng, Thiên Tướng thủy tuy thanh.

Sương Sát thuộc Kim, Thiên Cơ Mộc

Hỏa, Linh, Khôi, Việt hỏa nam tinh

614. – CHƯ TINH NGŨ – HÀNH QUYẾT

CHÍNH VÀ TRUNG TINH

1. Tử Vi thuộc dương Thổ

N và B

NAM – ĐẨU

Chính Diệu

2. Thái Dương thuộc Dương Hỏa

3. Thất Sát thuộc Kim đái Hỏa

4. Thiên Cơ thuộc âm Mộc

5. Thiên Đồng thuộc dương Thủy đái Thổ

6. Thiên Lương thụôc âm Thổ đái Mộc

7. Thiên Phủ thuộc âm Thổ

8. Thiên Tướng thuộc Thủy đái Mộc’

BẮC – ĐẨU

9. Cự Môn thuộc âm Thủy đái Kim

10. Liêm Trinh thuộc âm Hỏa đái Mộc

11. Phá Quân thuộc âm Thủy đái Thổ

12. Thái Âm thuộc âm Thủy

13. Tham Lang thuộc âm Thủy đái Mộc

14. Vũ Khúc thuộc âm Kim.

TRUNG – TINH

15. Hỏa Tinh thuộc dương Hỏa

16. Linh Tinh thuộc âm đái dương Hỏa

17. Thiên Khôi thuộc dương Hỏa đái Kim

18. Thiên Việt thuộc âm Hỏa đái Mộc

19. Văn Xương thuộc dương Kim đái âm Thổ.

HẾT