Tử Vi và tri kiến phương Đông ( phần 2 )

Tất nhiên tử vi xem ở con vật sẽ loại trừ nhiều tinh đẩu không cần thiết, trong đó chỉ giữ phần cốt yếu các sao mô tả tính cách, bản tính có từ thời bàn cổ. Một con vật đầu đàn là con vật được tôn trọng, có thể do sức khỏe hay do trí khôn. Trong một đàn gia súc hay gia cầm rõ thấy bản tính của từng con vật có phần khác nhau, và rõ ràng nhận ra nhiều tính cách của con người như cạnh tranh, nhẫn nhịn cũng xuất hiện ở đây. Tài liệu và nghiệm lý huyền học tiền nhân đã khảo cứu rất công phu tuy nhiên người viết không bàn sâu về vấn đề này. Tử vi với nhiều khám phá của tiền nhân về các thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, Vòng Trường Sinh,… với các sao là khí vị của cơ thể cũng liên quan một phần tới Thiên Văn, trời đất có tính linh dị mà đưa ra dự đoán cuộc đời như một cái máy định trước. Vì vậy người xem tử vi hay toán mệnh cảm thấy cuộc đời như được định sẵn, không tồn tại nhiều cho ý thức và suy nghĩ mà hành động có phần theo bản năng , có thể dự đoán được một phần lớn của tính cách và đại vận tốt xấu nếu đương số có cuộc sống bình thường. Xã hội tác động lớn tới nhận thức và ở đây chính là khí hình của mỗi mệnh tạo. Dụng hay không là ở mức độ khí hình này. Cung mệnh và cung an Thân cho thấy sự gắn kết nhưng thực chất lại rời rạc của cơ thể và suy nghĩ. Tuy vẫn có sự liên kết, nhưng cái đơn giản là ngay trong bản thân ta, cũng chỉ có quyền làm chủ một số phần. Không thể tự bắt tim ngừng đập, thân thể sống mãi không già, đặc biệt là không suy nghĩ trong một thời gian. Cái thân thể như được tâm thức gắn vào và không hoàn thiện. Do nhìn thấy sự tiến hóa của các loài vật do dụng tâm sở do hoàn cảnh tác động thì tiền nhân luận rất nhiều loại vật như rùa sống rất lâu, tê giác có cơ thể cứng như sắt, mới đây các nhà khoa học thông cáo trên báo đài tìm thấy loài vật bất tử.

Trong khi con người phát triển theo nguyên thủy tới nay chủ do tranh giành thức ăn, tích lũy của cải, làm việc hay phát kiến từ các thời đại đồ đá, đồ đồng tới gần đây để tăng năng suất tạo ra của cải cũng được nhiều thành tựu lớn. Khi một bộ phận người Phương Đông có thức ăn đủ để duy trì sự sống, suy nghĩ về cái chết, hướng tâm tới tìm kiếm về trường thọ, tìm hiểu chính nội tâm và bằng phát triển ngay trong nội tâm, ép hoàn cảnh bằng mục đích khám phá nội tâm, như các loài vật chịu tác động của môi trường để thích nghi tiến hóa. Cũng như vậy, dần phát hiện và tách bạch hai phần Tâm Thức và Thể Xác, cùng với thành tựu, hiểu biết về các vòng khởi phát hành khí như vòng Trường Sinh thì chữ luân hồi được đặt ra câu hỏi. Với tốc hành tâm hướng tới mục đích trong rất nhiều giai đoạn lịch sử được thực hiện bởi nhiều thế hệ nghiên cứu, thì thành tựu cũng được khoa học Phương Tây công nhận và bắt đầu nghiên cứu.

Người Phương Đông do tìm hiểu sâu trong nội tâm, ngay chính tâm thức để làm nội dung. Ở đây sử dụng chính là Thiền Định. Thí như người mù từ thuở nhỏ có một thính giác phát triển siêu việt hơn bình thường vì tâm tập trung ý vào việc phát triển nghe, do môi trường bắt buộc định hướng không gian bằng âm thanh. Các nhà khoa học Phương Tây đánh giá Thiền Định khai mở vị trí tuyến tùng có cấu tạo có phần như mắt nhưng đã bị thoái hóa khi trưởng thành. Và Thiền Định khơi dậy con mắt đó. Không cần các nghiên cứu khoa học thì Phương Đông đã có từ xưa bức tranh mô tả con mắt thứ ba ở trên tượng thần từ rất lâu, ngay cả thuyết Âm Dương cũng biểu thị đúng tới mức độ rất rộng lớn, gần như mọi vật và mọi tính chất. Việc Thiền Định thường mang lại nguy hiểm vì các suy tưởng rất khó nhận biết như tiềm thức bắt đầu hiện lên ở dạng tưởng thức. Như một người ban đầu tập đi xe đạp, gồm các động tác phức tạp. Hay bước đi đầu đời thì sẽ chú tâm tới từng động tác nhỏ. Tới khi thành thục trong tâm khởi lên thì tưởng tự hoạt động như vô thức mà không cần chú tâm khiến bản thân tưởng chừng như không tồn tại các động tác nhỏ mà tự động thành từ ngữ Đi. Sau này lại có thể vừa đi xe đạp, vừa giữ thăng bằng, vừa quan sát và một tay nghe điện thoại nhưng vẫn hiểu được cuộc gọi. Thiền Định có chức năng khai mở tâm thức, người đã thực hiện sẽ tự hiểu câu nói trên, vì vậy được đánh giá và có cấu tạo như con mắt soi sáng. Ở đây cũng thường được gọi là linh tính. Khi thiền định một thời gian thì có thể suy tưởng một hành động và kết quả trong đầu. Một thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng người viết có cơ hội đọc của bác học Anhxtanh thuộc dạng này, khiến sự liên tưởng có thể đưa ra kết quả đúng với nhận thức.

Cũng như vậy thì khi hoàn thiện suy tưởng, người thực hành hướng tới năng lực đặc biệt. Giải thích cho việc nhiều người tu hành như thiền sư có năng lực đặc biệt. Khí công bí truyền cũng cần tưởng ấm để hoạt động mạnh, việc tập trung và thiền định quán tưởng là cơ bản của khí công. Một số dạng đặc biệt đã được công khai ngoài đời thực như nhìn xuyên báo khi bị che mắt của người phụ nữ ở nước ta là dạng sử dụng tưởng ấm này. Cụ ông người Ấn Độ không ăn trong thời gian dài nhưng cơ thể tự thích nghi, tự hấp thu lại nhiều lần, tưởng thức việc nữ thần rót thuốc tiên vào miệng mình. Việc khí công sư Chu Đình Tước hay Zhou Ting Jue công khai ra khoa học khả năng đốt cháy vật bằng phát nội khí. Thực chất ở khí công bí truyền còn rất nhiều khả năng đặc dị, đặc biệt có một khả năng vận âm thanh rất lớn của một môn phái mà người viết có cơ may được biết tới. Tuy nhiên Thiền Định đi liền với sức tập trung hướng tâm hoàn toàn trên đối tượng, ứng với Không Vong trong tử vi sức tác động rất lớn, cũng chủ sự không thể, cái hư ảo, không thực, vì vậy nếu loạn tâm thì ắt những thức vi tế hiện lên và hiện lên ảo giác là điều dễ gặp. Điều này hiện rõ và tưởng ấy không phải sự thực, tương tự khi đang mộng. Vì vậy, thường nhiều kẻ phải lên núi, đến nơi vắng vẻ để tu luyện yên tĩnh do vậy. Mạng sống của con người là khá lâu nên việc thành tựu khi xét với việc hướng tâm tiến hóa của các loài vật, có thể nhanh hơn.

Các tôn giáo Phương Đông đa phần lấy Thiền Định để tu luyện. Nếu người luyện khí công hay sự biến đổi khi tâm hướng tới mục đích như khả năng đặc biệt ở trên là có thể. Việc với lịch sử là 2500 năm từ thời cổ hướng tâm tới chữ tự tại, năng lực nội tâm với hàng vạn người nhiều thế hệ trải qua. Hay ở Đạo Giáo cũng trải qua thời gian rất lâu hơn 2000 năm với thuyết Năng lượng, chân khí, âm dương, ngũ hành, kinh dịch được nghiệm lý bằng các môn toán mệnh hay huyền học tới nay. Ở nước ta trong thời loạn có hòa thượng Thích Quảng Đức với trái tim không cháy khi tự thiêu trong lúc thiền định. Vua Trần Nhân Tông không vô cớ tin và hướng theo Phật Giáo. Ở Trung Quốc có hai hòa thượng là Tuyên Hóa và Hư Vân tự truyện về cuộc đời với các nhân chứng về việc lạ ở đời về ma quỷ và không gặp việc lên tiếng đính chính câu chuyện hoang đường, giả mạo ở Trung Quốc. Tất nhiên cũng với khí công sư Chu Đình Tước khi nghe một chuyện lạ như vậy thì nhiều người sẽ bán nghi và cần sự thật minh chứng đáng tin cậy là cần thiết khi có Thái Tuế chủ thật thì luôm có Thiên Hư chủ giả ở đối cung xung chiếu. Hòa thượng Hư Vân được Từ Hi Thái Hậu kính trọng nhưng không cần lợi ích tiền bạc ắt cũng có lý do. Tuy không có được những thành tựu khoa học như Phương Tây, nhưng người Phương Đông có những chuyện rất kỳ lạ, huyền diệu mà phù hợp với khảo nghiệm của Phương Tây như thuyết Âm Dương hoàn toàn đúng, cái ta hay gặp là điện tích dương và điện tích âm, tấn công và phòng thủ,.. tiền nhân chỉ nhìn từ tự nhiên để luận ra.

(Dẫn theo trang www.luantuvi.vn)