Tưởng Giới Thạch: Lên Làm Bá, Xuống Làm Vương!

Một lý do khiến chúng ta say mê đọc các bộ sách gọi là “truyện tàu” như Đông châu liệt sĩ, Hán Sở tranh hùng, Tam quốc chí v.v… là khi thời thế đảo điên, tự nhiên chẳng hiểu từ đâu mà bao nhiêu nhân tài xuất hiện cùng một lúc, tạo thành những cảnh long tranh hổ đấu, với những diễn biến đầy kịch liệt, khúc mắc và kết cuộc thật đột ngột, bất ngờ.

Đã ví von với long và hổ, thì trong lịch sử Trung Hoa cận đại có lẽ “long” phải là ông Tôn Dật Tiên. Còn hổ thì sao” Nguyên sau khi Viên Thế Khải tự xưng làm vua và bị áp lực chống đối quá mạnh, phải tự phế chức rồi lo buồn mà chết năm 1916, nước Tàu cả loạn. Các ông tướng vùng nổỉ lên cát cứ mỗi người một nơi, thành thời quân phiệt. Sau khi Tôn Dật Tiên mất năm 1925 thì chẳng còn một hình ảnh lãnh tụ tối cao nào nữa, cảnh loạn lạc đạt đến cấp độ tận cùng. Sức mạnh là lẽ phải duy nhất. Anh hùng hào kiệt kẻ có chí nhỏ thì hùng cứ một phương, người nuôi chí lớn thì nghĩ chuyện “đuổi hươu ở trung nguyên” tức là gồm thâu nước Trung Hoa về một mối. Thế nên nói đến “hổ” thì thời ấy có rất nhiều. Nhưng nếu hỏi hai con hổ hung mãnh nhất là ai thì câu trả lời chắc chắn phải là “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch”.

Chuyện Mao đánh bại Tưởng đánh bại Tưởng thì chúng ta ai cũng biết, nhưng vì không thể mang thành bại luận anh hùng, phải nói cả hai đều có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau. Để theo đúng thứ tự lịch sử, lần này xin bàn lá số của Tưởng Giới Thạch.

Âm hãm tại Thìn phản vi kỳ cách!

Năm tháng ngày giờ sinh của Tưởng Giới Thạch được ghi nhận rất rõ ràng là chính Ngọ ngày 15 tháng 9 năm Đinh Hợi 1887. Người viết chỉ mới gặp một quyển tử bình và một quyển tử vi cho rằng phải là giờ Mùi mới đúng, nhưng ngay cả những sách này cũng phải đồng ý rằng giờ Ngọ mới là tiêu chuẩn, giờ Mùi được đề nghị chỉ vì (theo lối xem của họ) thì giờ này có vẻ hợp hơn với đời của họ Tưởng. Đó là sách tiếng Hoa. Về sách tiếng Anh người viết đã gặp hai quyển có ghi giờ sinh họ Tưởng (“The Xoong Dynasty” và “Chiang Kai Shek, the generalissimo and the country he lost”), đều ghi rõ ông Tưởng sinh ra “at noon”, tức là giờ Ngọ.

Lá số của Tưởng Giới Thạch đã là đề tài bàn cãi sôi nổi trong làng tử vi Đài Loan và Hồng Kông chẳng thua gì, nếu không muốn nói là có phần hơn cả lá số của Tôn Dật Tiên. Ấy bởi vì trước đó người ta cho rằng tính miếu hãm của chính tinh là yếu tố quyết định. Riêng về trường hợp Âm Dương phú để lại có câu “nhật nguyệt tối hiềm phản bối” nghĩa là hai sao Âm Dương sợ nhất cảnh “phản bối”. Phản bối có nhiều cách, nhưng một trong hai cách xấu nhất là nam mệnh cư Thìn có Thái Âm. Run rủi làm sao đây chính là trường hợp của Tưởng Giới Thạch. Nhưng họ Tưởng số rõ rằng chẳng hạ tiện mà là thượng thượng cách. Vậy phải chăng khoa tử vi sai”

Xin thưa rằng mặc dù tử vi không thể nào đúng trăm phần trăm, nhưng riêng trường hợp này thì không những chẳng sai mà còn quá chính xác. “Nhật nguyệt tối hiềm phản bội” dĩ nhiên đúng, nhưng đó chỉ là phân nửa bài toán tử vi. Nửa kia là lẽ “cùng tắc biến” thể hiện qua tứ hóa Khoa Quyền Lộc Kỵ. Tưởng Giới Thạch sinh năm Đinh nên Thái Âm hóa Lộc, tức là ở thế cùng được biến thành kỳ cách. Đó là chưa kể Đồng hóa Quyền ở quan, Cơ hóa Khoa ở tài khiến ba cường cung mệnh tài quan có đủ tam hóa Khoa Quyền Lộc; thêm Xương Khúc và bộ tam minh Đào Hồng Hỉ đều là thuộc hạ đắc lực của của cặp Âm Dương. Nhờ vậy cách Nhật Nguyệt phản bội của Tưởng biến từ xấu ra thành cực tốt. Lại nữa, Thái Âm cư Thìn đắc cách dễ tạo nên võ nghiệp phi thường. Thật là phù hợp vô cùng với cuộc đời Tưởng Giới Thạch.

Tuổi trẻ gian lao

Tử Vi có một bí quyết bất di bất dịch là cặp Âm Dương bất luận ở đâu, hễ lạc hãm là số phải lao tâm khổ tứ, không thể nào an nhàn được. Tưởng Giới Thạch mặc dù có cách đại quý, nhưng vì cặp Âm Dương cực hãm nên cũng không thoát khỏi số phận này.

Ngay từ tuổi ấu thơ họ Tưởng đã phải chịu lắm chua xót, đau thương. Mẹ là vợ kế của một thương gia bán muối. Gia cảnh tương đối khá giả; nhưng năm 6 tuổi đã phải chứng kiến cái chết của cô em gái ruột là Thụy Cúc mới sinh. Năm 9 tuổi thì chịu đại tang là cha chết. Vì là phận thứ lẽ mẹ của Tưởng chỉ được bên vợ cả cho một phần tài sản khiêm nhượng; gia cảnh trở thành bần hàn túng thiếu. Năm 12 tuổi một lần nữa Tưởng phải nhìn một người thân khác ra đi, lần này là em trai ruột Thụy Thanh, qua đời khi mới 4 tuổi thơ ngây.

Nhìn lại hai cung phụ mẫu và huynh đệ, quả nhiên thấy phụ mẫu bị Liêm Tham hãm ở Tỵ, thêm Đà Hình Không Kiếp, rõ rằng là số sớm khắc cha mẹ, không tử biệt cũng sinh ly từ tuổi ấu thơ. Huynh đệ ở Mão đắc Phủ tưởng tốt, nhưng tiếc thay Phủ bị hai đại phá cách là ngộ Song Hao và bị chính Triệt cắt ngang. Sao Hỏa tinh được mệnh danh là “đoản thọ sát tinh” ở đây trở thành giọt nước tràn ly, thì làm sao anh em không yểu chiết”

Cung phụ mẫu có điểm cần chú ý. Tham Không Kiếp Hình là tín hiệu của sự tu hành, vậy tại sao lại trộn lẫn với Tham Đà là cách của sắc giới” Câu hỏi được trả lời khi ta nhìn lại đời họ Tưởng kỹ càng hơn. Thì ra mẹ của Tưởng đã có một đời chồng trước, nhưng chồng chết sớm bà chán cảnh hồng trần xuống tóc đi tu, ai ngờ sau gặp cha của Tưởng, nợ trần chưa dứt đành bỏ nghiệp ni cô về làm vợ kế. Thế mới biết tử vi không ứng thì thôi, khi đã ứng thì chính xác đến mức rùng mình.

Quyết theo võ nghiệp

Giai thoại kể rằng từ khi còn bé Tưởng đã lộ tính bạo gan, chẳng biết sợ là gì; thường cùng các trẻ hàng xóm chơi trò tập trận đánh nhau, và trong các cuộc tập trận này, Tưởng luôn luôn đóng vai thủ lĩnh. Lớn lên, giã từ cuộc chơi thơ ấu Tưởng làm việc tự nhiên là đi thi Hương. Thi hương hỏng rồi mới quyết tâm theo võ nghiệp. Hãy thử tưởng tượng nếu Tưởng thi Hương đậu và được chính quyền nhà Thanh cử làm một ông tri huyện nào đó; có lẽ lịch sử Trung Hoa đã đổi khác hẳn rồi.

Sau khi đả bại Nga ở eo biển Đối Mã, Nhật nghiễm nhiên chiếm địa vị đệ nhất cường quốc ở Á đông, nên du học quân sự ở Nhật hiển nhiên là giấc mộng của mọi thanh niên muốn theo võ nghiệp. Nhưng du học là chuyện xa xỉ, làm sao một cậu thanh niên nghèo như Tưởng lại làm được” Chuyện này lịch sử chẳng mấy rõ ràng, nhưng có thấy nói đến việc cô Mao Phú Mai (tức vợ cả của Tưởng) phải bán tư trang giúp chồng du học. Điểm chính là, sau một lần cầu học thất bại năm 1906 phải trở về, năm 1908 Tưởng hoàn thành ước nguyện, được nhận vào học một trường võ bị của Nhật và tốt nghiệp năm 1910.

Trong thời gian du học, Tưởng kết nghĩa anh em với Trần Kỳ Mỹ và được họ Trần tiến dẫn gia nhập Đồng Minh Hội và được diện kiến Tôn Dật Tiên. Thế nhưng cái duyên thầy trò giữa Tôn dật Tiên và Tưởng Giới Thạch phải mười mấy năm sau mới thành hình, và đó là chuyện về sau.

Mệnh đới đào hoa lại sinh quý tử

Mệnh có Xương Khúc Tả Đào Hồng Hỉ hội họp, thê vô chính diệu có Hữu độc thủ nên số họ Tưởng đào lý đầy vườn. Sử ghi rằng khi mới 14 tuổi (tức 13 tuổi tây) Tưởng đã có một mối tình với một cô em họ xa. Thời ấy còn tục tảo hôn nên mặc dù cả hai còn ở tuổi ngây thơ Tưởng bèn về nhà thưa chuyện xin mẹ hỏi cưới. Tiếc thay lời cầu hôn bị nhà gái chối từ khiến Tưởng vô cùng đau đớn. Để an ủi con năm Tưởng lên 15 tuổi, mẹ Tưởng nhờ người mai mối cho lấy cô Mao Phúc Mai hơn Tưởng 4 tuổi. Năm 1912 thêm cô vợ kế là Diêu Dã Thành (Dã đây nghĩa là xinh đẹp, không phải hoang dã, dã man), rồi năm 1921 lại lấy cô Trần Khiết Như mới 16 tuổi làm thiếp. Đó chỉ là những người được lịch sử ghi lại; chứ có tướng tá và đẹp trai như Tưởng có lẽ còn nhiều mối tình hờ khác nữa.

Đời đa thê của Tưởng chấm dứt năm 1927 khi Tưởng bỏ hết cả ba cô Mao, Diêu, Trần để lấy cô Tống Mỹ Linh (tức là một trong ba chị em nhà họ Tống lừng danh lịch sử Trung Hoa). Dù cố biện hộ cách nào đi nữa, cũng không thể tránh được kết luận rằng Tưởng có mới nới cũ, bạc nghĩa vô tình. Người ta bảo “bạc đường vợ nợ đường con” nhưng câu này không đúng chút nào với Tưởng, vì hiển nhiên trời đã trọng đãi Tưởng về đường con cái. Sau một lần xảy thai, năm 1910 bà vợ cả sinh hạ Tưởng Kinh Quốc. Sau này kế nghiệp cha ở Đài Loan, ông Kinh Quốc bỏ chế độ “bạch khủng bố” của Tưởng, mở lại liên hệ với Hoa Lục, cất nhắc dân bản xứ Đài Loan vào giai tầng lãnh đạo; nhờ đó hoàn thành cuộc “cách mạng nhung” đưa Đài Loan lên vị trí một tiểu cường quốc, dương danh trên mặt trận kinh tế toàn cầu. Con thứ Tưởng Vệ Quốc thì theo tài liệu thực ra là con của một người bạn thân và một cô gái Nhật, vì hoàn cảnh trái ngang vừa sinh ra đã ủy thác cho Tưởng. Tưởng nhận trách nhiệm, giao cho vợ kế nuôi nấng, thương yêu như con ruột, sau giúp Tưởng đắc lực trong việc tối tân hóa quân lực Đài Loan.

Nhìn lại, cung Tử Tức ở Sửu quả nhiên chẳng tầm thường. Tử Phá được Tả Hữu Thai Tọa giáp, Không Kiếp chiếu đều là thượng cách. Phá lại tự hóa Lộc, thêm Mã Khốc Khách rõ là quý cách. Với Không Kiếp và Hình hội họp, nếu mệnh yếu ắt con cái giỏi giang nhưng bất hiếu. Đây vì Tưởng cách cục cực mạnh, thành thử diệu dụng được các hung cách nói trên; trở thành số được “tử thừa phụ nghiệp” tức là được con cái kế thừa, làm sáng thêm sự nghiệp của mình.

Hạn vào tử tức, bạo phát mười năm

Hạn 26-35 (ứng với thời gian 1912-21) vào cung thê nguyên thủy, vô chính diệu ngộ phụ Triệt, Thiên Quan; quan lộc gặp Cự Kỵ nên khó được hội thanh vân. Hạn này xảy ra sau cuộc cách mạng Tân Hợi 1911, nhưng trong tổ chức của Tôn Dật Tiên ông Tưởng vẫn chỉ là hàng vô danh tiểu tốt.

Thời gian 1916-18 bôn ba ở Thượng Hải chẳng nên cơm cháo gì. Mùa xuân 1918 về nhậm chức chủ nhiệm khoa tác chiến của quân đoàn Việt địa (thuộc Quảng Đông) dưới quyền ông tướng vùng Trần Quýnh Minh, cơm không lành canh không ngọt mùa hạ đã từ chức. Năm 1920 Trần Quýnh Minh bổ nhiệm Tưởng vào chức cao hơn là đệ nhị tổng chỉ huy quân đoàn nhưng có lẽ vì đã “kỵ rơ” với họ Trần mà Tưởng chối từ, lui về làng cũ ở ẩn. Năm sau 1921 lại mang tang mẹ; hoàn toàn ứng với sự kiện là đại hạn phụ mẫu vào cung Mão có Phủ ngộ Triệt Song Hao Hỏa tinh như đã nói trên.

Năm 1922 là năm đầu của đại hạn tử tức, với những hung cách vô cùng tốt đẹp như đã nói trên. Phải chăng vì vậy mà cơ hội đã đến với Tưởng năm trong một hoàn cảnh lạ kỳ. Nguyên năm này Trần Quýnh Minh mưu phản, Tôn Dật Tiên cùng vợ là Tống Khánh Linh phải lánh nạn trên một chiến hạm. Tưởng đến nơi, xẻ chia cảnh thập tử nhất sinh này với vợ chồng họ Tôn hơn 40 ngày. Sau khi thoát khỏi nạn này, Tưởng trở thành người tâm phúc của họ Tôn. Vì vậy năm 1923 được Tôn cử làm tham mưu trưởng của nguyên soái đại bản doanh. Rồi năm 1924 Tôn mở trường võ bị Hoàng Phố, Tưởng được chọn làm hiệu trưởng. Thế là cuối cùng, Tưởng đã tìm được chỗ dụng võ.

Tháng 2 năm 1925 khi Tôn Văn đang mang mệnh trầm trọng ở Bắc Kinh, Tưởng lãnh đạo đội quân chỉ ba ngàn người do chính tay mình huấn luyện thành tài ở Hoàng Phố, cả phá đại binh 4 vạn quân của Trần Quýnh Minh. Sau khi họ Tôn qua đời tháng 3 năm 1925 (kỳ trước ghi lầm là tháng 12, xin thành thật cáo lỗi độc giả), vài tướng lãnh ở vùng Quảng Đông định thừa cơ chiếm quyền đều bị Tưởng mau chóng dẹp tan. Thế là trong nháy mắt tiếng anh hùng vô địch của Tưởng vang lừng thiên hạ, trở thành nhân vật thực tế nắm quyền ở Quảng Châu.

Năm 1926 Tưởng bắt đầu cuộc hành quân bắc phạt. Chi tiết nhiêu khê rắc rối nhưng nhưng đại khái thế của Tưởng mạnh như chẻ tre, đến cuối năm 1928 thì mọi lực lượng quân phiệt đều bị Tưởng khuất phục. Vậy là Tưởng đã nhất thời gồm thâu thiên hạ, thật là một thành tích vô cùng kinh khủng. Bởi vậy có kẻ nịnh thần tuyên dương rằng vũ công của Tưởng còn vĩ đại hơn Tần thủy Hoàng.

Nhưng trong phút huy hoàng đã manh nha mầm tai họa. Thu được giang sơn rồi Tưởng có ý giải giới quân đội, cho lính về quê cày ruộng làm ăn. Ý định này khiến các tướng có công lớn trong cuộc bắc phạt như Diêm Tích Sơn, Lý Tông Nhân bất mãn; và là nguyên nhân dẫn đến cuộc nội loạn sau được sử gọi là “trung nguyên đại chiến” năm 1930. Trong cuộc đại chiến này, phe Diêm Tích Sơn, Lý Tông Nhân có khoảng 800 ngàn quân, đối địch lại khoảng một triệu quân của Tưởng, quả là cảnh máu xương sông núi, thắng bại khó phân. Nhưng phải chăng là nhờ còn trong vận Tử Phá Tả Hữu mà tư lệnh Mãn châu Trương Học Lương quyết định theo phe Tưởng làm lệch cán cân; và một lần nữa Tưởng lại cả thắng.

Bá nghiệp tan tành

Khi cuộc “trung nguyên đại chiến” xảy ra, đảng cộng sản là ngư ông đắc lợi, nhờ đó thiết lập được căn cứ ở Giang Tây. Sau 3 lần tấn công nửa vời, năm 1933 Tưởng quyết định tổng tấn công. Lực lượng của Tưởng có khoảng 700 ngàn quân, phe cộng chỉ có 150 ngàn thì làm sao chịu nổi. Năm 1934 phe cộng quyết định mở đường máu rút lui. Cuộc rút lui vỉ đại này sau được gọi bằng mỹ danh là cuộc “vạn lý trường chinh” kéo dài hơn một năm, với kết cuộc là phe cộng về được đến một cứ điểm mới, nhưng lực lượng tiêu hao trầm trọng chỉ còn dưới 30 ngàn người.

Cuối năm 1936, trong khi tàn quân của phe cộng đang nín thở chờ một cuộc tổng tấn công được mệnh danh là “5 phút sau cùng” thì hình như số trời đã định mà xảy ra biến cố sau này gọi là “Tây An sự biến”. Trương Học Lương, người đã về phe với Tưởng trong cuộc trung nguyên đại chiến đột ngột trở mặt, bắt giam Tưởng mưới mấy ngày, ra điều kiện rằng Tưởng phải nhận lời cộng tác với phe cộng để kháng chiến Nhật mới thả. Tưởng may mắn thoát nạn rồi không ra lệnh tận diệt cộng sản. Nhờ đó lực lượng cộng sản mới sống còn.

Giai thoại kể rằng ngay trong cuộc vạn lý trường chinh đã có lúc Tưởng có cơ hội dùng hỏa công thiêu rụi Mao và mấy vạn đồng đảng, nhưng Tưởng quyết định không làm. Lại thêm một bí mật là sau vụ Tây An sự biến tại sao Tưởng không ra lệnh tổng tấn công cộng sản” Một số tài liệu không thân thiện với Tưởng nói lý do là Tưởng đã đồng ý không tấn công cộng sản nên mới được Trương Học Lương thả. Thực tế là cho đến bây giờ người ta vẫn chưa tìm được bất cứ dấu tích nào chứng tỏ Tưởng đã hứa làm việc này, dù là hứa miệng.

Nói thế nào thì nói, rốt cuộc thì nhờ không bị tận diệt năm 1936 mà lực lượng cộng sản có cơ hội hồi sinh và phát triển. Sau đệ nhị thế chiến chấm dứt, cuộc chiến tranh quốc cộng lại vỡ bùng. Năm 1947 phe cộng bắt đầu thắng lợi, và năm 1949 quân đội của Tưởng hoàn toàn tan vỡ. Tưởng phải bỏ đại lục chạy sang Đài Loan.

Những diễn biến trên đây ứng với hai đại hạn 46-55 và 56-65 kéo dài từ 1932 đến 1951. Đại hạn thứ nhất vào cung Tý, vẫn đắc tam hóa, nhưng cung thiên di có Cự Kỵ, nô bộc có Tham Liêm hãm Hình Không Kiếp thật chẳng hay; năm 1936 Thái tuế trùng phùng đại hạn, theo nào bị cấp dưới phản bội. Đại hạn thứ hai thì vào Hợi, quan ở Mão là Phủ chính Triệt Song Hao Hỏa tinh, là đại phá cách đã được nhắc đến mấy lần trong bài này, thêm cung tài có Tướng ngộ chính Tuần khác nào ông Tướng bị dao kề cổ. Năm 1949 Thái Tuế ở Sửu xung Tướng, tiểu hạn lại vào Mão chính là đến ứng kỳ, nên sự nghiệp tan tành thật là phải quá!

Vẫn một cõi xưng vương!

Nhưng may sao đại hạn 56-65 dù xấu vẫn còn có điểm gỡ gạc là vào đúng vị trí Thái Tuế nên không đến nỗi như Hạng Vũ vào thế cùng ở bến Ô Giang. Các chuyên gia chính trị bậc nhất thế giới thời ấy tiên đoán rằng chính phủ của Tưởng không thể nào tồn tại ở Đài Loan quá một năm. Thực tế đã cho thấy rằng họ hoàn toàn sai. Bằng biện pháp vừa khủng bố vừa khuyến khích tiến bộ, Tưởng ổn định tình hình Đài Loan, rồi an hưởng tuổi già ở đó. Năm 1975 đại hạn vào cung Thân có Đồng Lương Đào Hồng Hỉ. Thái Tuế ngộ Phủ Song Hao Triệt, tiểu hạn ở Tỵ gặp Liêm Tham Hình Không Kiếp quả là đã đến số. Nên yên ổn trút hơi thở sau cùng ở Đài Loan, thọ 89 tuổi.

Mặc dù chẳng bao giờ thực hiện được giấc mộng trở về giải phóng lục địa, mấy mươi năm sau cùng của Tưởng ở Đài Loan phải kể là một thành công vào hàng phép lạ. Ta có thể trách Tưởng đã quá tàn ác với người Đài Loan (có tài liệu cho rằng Tưởng đã tàn sát mấy trăm ngàn người để bắt dân đảo này theo mình), nhưng phải công nhận rằng sự kiện Đài Loan biến hình từ một hòn đảo lạc hậu thành một tiểu cường quốc không ít thì nhiều cũng do công lao của Tưởng.

Đúng như câu “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, một người làm nên sự nghiệp bằng chiến tranh như Tưởng tất nhiên có người khen kẻ chê, người mê kẻ ghét. Nhưng điểm chính là xưa nay kẻ dựng lên bá nghiệp rồi tan rã mà vẫn còn được hùng cứ một phương và mạnh miệng mắng chửi kẻ thù mà chẳng bị hậu quả gì cả; lúc chết được hưởng quốc táng, lại có quý tử nối nghiệp thì có lẽ chỉ một mình Tưởng Giới Thạch mà thôi.

Ngày 10 tháng 17 năm 2004

ĐẰNG SƠN

TÌM ĐỌC: “Tử Vi hoàn toàn khoa học tập 1: Chính tinh, tứ hóa, và các sao liên hệ” của tiến sĩ Đằng Sơn.

Quyển sách giải đáp những bí mật nghìn năm của khoa tử vi.

Sẽ do CT Printing & Graphics xuất bản và phát hành một ngày gần đây.