Ứng dụng bí pháp Âm Dương

Ứng dụng bí pháp Âm Dương, nguồn Tử bình diệu dụng.

Mục lục

Một, Nguyên tắc chung

Hai, Lý luận Trung Hòa

Ba, Quy luật phổ biến cát hung họa phúc

Bốn, Tường giải hỉ kỵ của Thập Can:

1, Đơn Đinh độc Giáp, là mắt mù chân thọt:

2, Giáp kiến Nhâm, nhiều tai nạn:

3, Quý Bính thấy nhau máu huyết đổ:

Năm, Tường giải Thập can hỉ kỵ:

1), Giáp mộc

2), Ất mộc

3), Bính hỏa

4), Đinh hỏa

5), Mậu thổ

6), Kỷ thổ

7), Canh kim

8), Tân kim

9), Nhâm thủy

10), Quý thủy

Sáu, Phép dùng Thập Can

1) Giáp mộc

2) Ất mộc

3) Bính hỏa

4) Đinh hỏa

5) Mậu Kỷ thổ

6) Canh kim

7) Tân kim

8) Nhâm Quý thủy

Bảy, Mật pháp Âm Dương tốc đoán cát hung

1) Tổng quyết:

2) Bí quyết “Tự bính Tự” Thập can

Một, Nguyên tắc chung

Nguyên tắc chung luận phú quý bần tiện, thọ yểu cát hung là âm dương hòa hợp, trong đó cũng bao hàm cân bằng âm dương. Ba nguyên tố lớn luận mệnh là: Ngũ hành, Thập Thần, Cung vị. Lúc ứng dụng thực tế còn phải xem vượng suy, nhưng không phải là nói phép cân bằng vượng suy đơn thuần như trước đây.

1), Lúc dụng ngũ hành luận mệnh, vượng suy có thể nói là cân bằng âm dương.

2), Thập Thần luận mệnh thì nói Thuận dụng Nghịch dụng đối với Cát Hung thần.

Trung y thì nói cân bằng âm dương, còn Mệnh lý thì nói âm dương hòa hợp, chính là lấy “Trung Hòa” làm nguyên tắc.

Hai, Lý luận Trung Hòa

“Trung hòa” phân ra làm 2 bộ phận lớn là “Trung Dung” và “Hài hòa”.

“Trung” tức là không nghịch với quy luật, pháp tắc của bản thân sự vật. “Hòa” tức là hài hòa không tương chiến. Trong đó Trung dung là đã bao hàm ngũ hành cùng thập thần vượng suy là không thể thái vượng hoặc là thái nhược. Đối với thập thần mà nói, trọng điểm của Trung dung là ở chỗ Cát Hung thần tất cần phải tuân theo quy luật và pháp tắc, tức Cát thần phải hộ vệ, Hung thần phải chế hóa.

+ Nếu như ở trong Ngũ hành có mộc hỏa lộ rõ vượng, thì thích có kim thủy đến ức chế. Kim thủy lộ rõ vượng thì thích có hỏa thổ đến ức chế. Đồng thời còn phải xem xét đến đặc tính của âm dương, dưới tình huống thông thường âm thích có dương chế, dương phải đi chế âm, đây gọi là Âm Dương chính dụng, là đại cát đại lợi.

Lúc Dương quá vượng hỉ Âm để cân bằng, nhật can là hỏa, lộ rõ vượng, cần thấy thủy, chỗ này gọi là quản thúc, nếu không hỏa quá tự do, sẽ xuất hiện tật bệnh ở phương diện tinh thần, tư tưởng, như học tập khí công, nghiên cứu học thuật mà dẫn đến tẩu hỏa nhập ma. Lúc này nếu như thấy thủy, thì là thành danh. Lúc Âm quá vượng thì phải có Dương đến khắc, để đạt đến âm dương cân bằng mà Âm thể hiện là có liên quan đến chính sự.

+ Lúc luận ngũ hành phải xem lực lượng bản thân ngũ hành có trung hòa hay không, có phù hợp với định lý 2/8 hay không? Dương lúc lộ rõ vượng thì phải thấy Âm để cân bằng, lúc Âm lộ rõ vượng thì phải thấy dương để cân bằng.

+ Lúc luận Thập Thần thì lấy đạo sử dụng bản thân Cát Hung thần làm nguyên tắc, Cát thần phải thuận dụng, Hung thần phải nghịch dụng. Cho dù lúc Tứ Hung thần nhược cũng không thể sinh trợ cho nó, lúc sinh trợ cho dù có thân thể khỏe mạnh, nhưng ở trên thuộc tính xã hội sẽ có tai họa. Còn trong Tứ Cát thần, nếu như thân vượng thấy Ấn, vẫn cứ cần có Quan tinh đến hộ vệ Ấn tinh, đây là thuận dụng, mà có phú quý. Cũng chính là nói, thập thần đối với phép xem vượng suy là không coi trọng. Do đó, Âm Dương nói hòa hợp mà không nói cân bằng. Nếu như nói bản thân thập thần đã là nghịch với pháp tắc Trung dung, bản thân thái vượng hoặc là thái nhược thì sức khỏe và lục thân tất sẽ có vấn đề xảy ra.

Hòa: Đây là nguồn gốc thông thường của cát hung họa phúc, Hòa là cát, Chiến thì hung. Trong đó 30% tai họa là bởi do ngũ hành, bản thân thập thần vượng suy sai lệch ra khỏi đạo trung dung mà tạo thành. Lúc bản thân không sai lệch khỏi đạo trung dung, lại kết hợp “Hòa” để xem. Ngũ hành, Thập Thần hài hòa là cát, chiến cục thì có tai họa.

Cũng không phải tương khắc thì gọi là Chiến, như Thực thần chế Sát, bản thân chính là phù hợp với đạo Trung dung, không phải gọi là Chiến. Trong Ngũ hành thì mộc hỏa, kim thủy thấy nhau, trong Thập Thần là có xuất hiện tổ hợp Kiêu thần đoạt Thực, Thương quan kiến Quan, đồng thời lúc lực lượng một phương lộ rõ lớn hơn một phương khác, thì xưng là Chiến cục.

+ Kim Mộc tương chiến, lúc lực lượng kim lớn hơn mộc, tất là có tai. Như Canh Thực chế Giáp Sát, lực lượng Canh kim lớn hơn Giáp mộc, lúc này dùng phương thức Tài tinh là không thích hợp, như làm việc ở cơ quan chính phủ, cũng sẽ làm ra chuyện nghịch đạo đức nhân nghĩa, như chặt cây phá rừng hoặc là làm ra chính sách bạo lực. Lúc tổ hợp không tốt sẽ làm ra chuyện không hợp pháp.

+ Thủy Hỏa tương chiến, lúc lực lượng thủy lớn hơn hỏa, gọi là Thủy bắt nạt Hỏa, tất nhiên là có tai họa, sẽ xuất hiện họa khẩu thiệt kiện tụng, lao tù, nghiêm trọng là có họa đại tai sinh tử. Lúc lực lượng hai bên xấp xỉ nhau, thì tổn thất không lớn, luôn luôn giằng co nhau mà không gây chiến. Lúc lực lượng mộc hỏa lộ rõ lớn hơn kim thủy, cũng sẽ xuất hiện hiện tượng phản khắc, hình thành tổ hợp mộc lấn át kim, hỏa lấn át thủy.

Thiết khẩu đoán thẳng: Âm lấn Dương có đại tai, thủy vượng khắc thương hỏa, kim vượng khắc thương mộc, tất là có tai họa. Trái lại mộc làm nhục kim, hỏa làm nhục thủy thì cũng có tai họa.

+ Sao gọi là Chiến? Đôi bên đều có lực lượng, nhưng lực lượng khác nhau rất xa, tất là một phương có đại tai. Lúc lực lượng đôi bên xấp xỉ nhau, gọi là giằng co nhau. Khi tách rời ra khỏi đạo trung hòa tất là có họa.

Trong hai tái thể lớn của Âm Dương, ngũ hành tương chiến, là có tai họa ở phương diện thuộc tính tự nhiên, như sức khỏe bản thân không tốt, lục thân có họa, chỗ làm nghề nghiệp không hợp pháp, sẽ làm ra chuyện trái với nhân nghĩa đạo đức. Thập Thần tương chiến, là sẽ có tai họa ở phương diện thuộc tính xã hội.

Ba, Quy luật phổ biến cát hung họa phúc

1. Âm Dương hòa hợp: Cân bằng ở trên “Vượng Suy Trung Hòa”.

Ở trên Tượng pháp có thể thường xuyên gặp phải. Nhật chủ cùng mỗi một ngũ hành, thập thần, lúc sai lệch khỏi Trung Hòa thì tất có họa. Dưới tình huống thông thường phù hợp với nguyên tắc 2/8 thì không có chuyện. Mộc Hỏa là Dương, Dương là chính phủ, không thích bị khắc. Kim Thủy là Âm, Âm không thể được sinh, bởi vì Âm là tiểu nhân, tật bệnh, lúc có chế hóa thì có thể sinh. Nếu lúc Dương quá vượng, cũng phải dụng kim thủy để khắc, nhưng điều kiện tiên quyết là lúc mộc hỏa lộ rõ vượng thì mới được. Trái lại kim thủy vượng hơn mộc hỏa, là nói âm lấn dương, tất có họa. Lúc ứng dụng thực tế, lộ rõ vượng thì hỉ khắc, lộ rõ nhược thì hỉ sinh.

2. Dương chế Âm là cát, Âm chế Dương là hung.

+ Trong Thập Thần, dương là cát thần, âm là hung thần. Cát thần chế hung thần là cát, hung thần chế cát thần là họa. Dương chế Âm là khắc, là có thành tựu lớn. Dương nếu muốn có chỗ thành tựu thì phải đi chế âm, là cát. Như chính phủ phát huy tác dụng thống trị mặt xã hội u ám. Dưới tình huống thông thường, âm chế dương không lấy cát luận, giống như Hung thần chế Cát thần.

+ Trong Ngũ hành, ngoại trừ lúc mộc hỏa lộ rõ vượng thì mới thích kim thủy khắc. Kim thủy vượng khắc mộc hỏa đều là có họa, tối thiểu là thân thể lục thân không tốt, nghiêm trọng là có họa kiện tụng lao tù.

+ Trong Cung Vị, năm tháng là Dương, ngày giờ là Âm. Ngày giờ hình xung phá hại năm tháng, là có họa lớn, ngoại trừ dưới tình huống năm tháng là kỵ thần còn tốt. Năm tháng lúc là mộc hỏa, là cát thần, bị ngày giờ chế, tổn thương dương thì họa không nhỏ, trước tiên lục thân là thiếu không đủ, tối thiểu là không có nơi nương tựa lục thân.

1), Tổn thương dương, Dương trọc: Có họa. Thể hiện ra là không có nơi nương tựa, cha mẹ bất toàn, lục thân vô duyên, kiện tụng lao tù.

Thể hiện là xuất gia, học thuật tẩu hỏa nhập ma, tổn hại xã hội, vì nhìn không thấy xã hội trụy lạc mà phản xã hội, hành vi tổn hại xã hội cùng người khác không phải là vì danh lợi, chỉ do tư tưởng có vấn đề. Tai họa cùng tổn thương dương là giống nhau, tổn thương chính phủ, đơn vị, cùng bất hòa lĩnh đạo, cha mẹ, không có lục thân.

2), Tổn thương âm, Âm trọc: Sức khỏe có vấn đề, bởi vì âm là thể xác, là kinh tế, con cái, phối ngẫu có họa, hoặc thái độ nam nhân đối với vợ không tốt, hôn nhân không tốt.

Sau đó cứ mỗi ngày xem một lần những nguyên tắc này, thì tự nhiên sẽ hiểu. Sau khi nhận thức thông thần Âm Dương chân chính, sẽ có được linh cảm, sau khi nối liền cùng tinh thần Tử Bình, thì cũng không cần dạy mặt đối mặt, tự có năng lượng Tử Bình đến dạy bạn, thì dần dần biết biến thông. Nếu như không thông thần, chỉ có thể trở thành Dự trắc sư ưu tú, mà không đạt đến tầng lớp cao thủ. Bao gồm cả văn học nghệ thuật, đạt đến tầng lớp cao đều phải thông qua quỷ thần.

Then chốt vẫn là ở Thập Can, sau này sẽ giảng tác dụng địa chi, sẽ biết phép luận thông tục là không có liên quan cùng âm dương, không nhận địa khí, dụng lý luận âm dương xem, rất đơn giản.

Bản chất Tượng pháp là xem trọng âm dương ngũ hành, dùng thập thần không nhiều lắm. Ngũ hành luận thuộc tính bản chất, như công việc, phương vị kiếm tiền, phẩm chất, tính cách, cùng quan hệ bên ngoài, năm nào đó thân thể không tốt sinh bệnh, chỗ này đều không có liên quan đến phú quý bần tiện, cát hung họa phúc, cát hung họa phúc là luận tai nạn trọng đại và tật bệnh.

Luận Tượng pháp chính là xem Thập Thiên Can, đương nhiên phải có kết hợp địa chi, thiên can là từ địa chi xuất ra, không hiểu địa chi thì không luận được mệnh. Lúc luận tượng nhân sự, thiên can là khí là đại biểu, bề ngoài xem thiên can, chân chính căn nguyên thực tế là ở địa chi. Thiên can là Khí, địa chi là Hình, địa chi tàng can, là hình tàng khí, hình chủ tĩnh, hình động thì khí mới có thể động, cho nên địa chi phát sinh hình xung hợp hại, thì can tàng mới phát sinh tác dụng.

Chỗ Thiên Địa Nhân đối ứng Thiên chính là thiên can, Địa đối ứng là địa chi, Nhân đối ứng là Nhân nguyên, phán đoán chi tiết cuộc đời chính là thông qua nhân nguyên tàng can địa chi cộng thêm quan hệ tác dụng địa chi mà xuất ra. Tượng pháp là thông qua tàng can ở địa chi để nhận biết thiên can. Hiểu được những lời này, thì phương hướng Tượng pháp sẽ đúng.

Lúc xem tượng nhân sự là xem tàng can ở địa chi, đại biểu là thiên can, tất phải dùng lý luận đồng gia để suy luận. Đơn giản Thiên can là đại biểu, là công năng. Địa chi là thực lực, là cơ sở.

Tượng nhân sự của Thập Thiên Can không chỉ xem đơn thuần thập thiên can, thiên can đối ứng can tàng địa chi mới là Tượng nhân sự thiên can chân chính. Một thiên can rất sợ cái gì, thích nhất cái gì, là thông qua âm dương hòa hợp cùng quan hệ tác dụng địa chi để thể hiện. Những bí quyết này khả năng bất kỳ trong sách nào ở trên phường in hè phố đều không có, cá biệt hiếm có được chân truyền, nếu có môn quy thì không thể truyền. Thực tế, những chỗ này đều không có bất kỳ cơ sở nào để bảo lưu.

Bốn, Tường giải hỉ kỵ của Thập Can: (Ngũ hành hóa khí)

Giáp Kỷ hợp thổ, Ất Canh hợp kim, Bính Tân hợp thủy, Đinh Nhâm hợp mộc, Mậu Quý hợp hỏa. Cho nên Giáp Kỷ sợ Đinh Nhâm, Ất Canh sợ Mậu Quý, Bính Tân sợ Giáp Kỷ, Đinh Nhâm sợ Ất Canh, Mậu Quý sợ Bính Tân.

Thiên can là dương, là khí, có lú rất nhiều lấy ngũ hành thiên can hóa khí luận mệnh. Ví dụ như Giáp Kỷ sợ Đinh Nhâm, bởi vì ngũ hành Giáp Kỷ hóa khí thuộc thổ, ngũ hành Đinh Nhâm hóa khí thuộc mộc, mộc khắc thổ, cho nên Giáp Kỷ sợ Đinh Nhâm. Ngũ hành Giáp chính là mộc, ngũ hành hóa khí là thổ, Giáp sợ Đinh Nhâm.

1, Đơn Đinh độc Giáp, là mắt mù chân thọt:

Chỉ qua là ở trong mệnh cục tứ trụ nếu thiên can chỉ có một Đinh hỏa hoặc là một Giáp mộc, hoặc là một Đinh, một Giáp đều thấu thiên can, thì ngụ ý là bất lợi đối với một đời người, hoặc là tương đương có tin tức tổn hại. Bất luận là xuất hiện ở can năm, can tháng, can ngày hoặc là can giờ, đều biểu thị mệnh chủ này cùng những lục thân khác có bệnh tai nhiều hoặc là mang tàn tật (tàn tật là chỉ một bộ phận nhỏ trên thân thể không đầy đủ, như chân tay bị thương đứt ngón tay, hoặc là trên khuôn mặt có vết sẹo, hoặc chân tay bị thương sau khi khỏi sẽ bị gãy xương). Dân gian gọi “Đơn Đinh độc Giáp, mắt mù chân thọt”, dùng từ mặc dù có chút khuếch đại, trong thực tế chính xác có chỗ thích hợp làm kinh người.

2, Giáp kiến Nhâm, nhiều tai nạn:

VD: Nhâm Tý, Mậu Thân, Giáp Thân, Kỷ Tị

Năm 1997 Đinh Sửu, lấy đi tài khoản của công ti, suýt nữa ngồi tù; năm 2002 Nhâm Ngọ, bị đánh vở phần đầu, lưu lại hậu họa, năm 2004 phát tác bệnh tinh thần.

Năm 2007 Đinh Hợi, bệnh tinh thần lại tái phát, năm này làm đại lý bị phá sản; năm 2012 Nhâm Thìn, say rượu té xe, tự đụng xe bỏ mạng. Đều là sự tình ở năm Đinh, Nhâm phát sinh khá là nghiêm trọng.

Lại ví dụ như Mậu Quý sợ Bính Tân, bởi vì ngũ hành Mậu Quý hóa khí thuộc hỏa, ngũ hành Bính Tân hóa khí thuộc thủy, thủy khắc hỏa; đặc biệt Quý thủy sợ Bính hỏa.

3, Quý Bính thấy nhau máu huyết đổ:

Quý là mây đen mưa phùn, Bính là Thái Dương, cả hai không ai nhường ai đúng là bạn tiến thì tôi lui, một khi thấy nhau thì sẽ có sự tình phát sinh.

Nam mệnh: Giáp Tý, Bính Dần, Quý Dậu, Quý Hợi. Cả người vết thương lớn nhỏ vô số.

Năm, Tường giải Thập can Hỉ Kỵ

1), Giáp mộc

Giáp mộc đối ứng là Dần mộc, trong Dần mộc tàng Giáp, Bính, Mậu. Như trong bát tự không có Bính hỏa, có Giáp mộc cũng chính là có Bính hỏa. Thì sẽ có tín hiệu tin Phật, cầu đạo.

Trong Ất mộc không có hỏa, thì không nhất định là tin phụng đạo Phật, bởi vì Ất mộc là hiện thực, còn Giáp mộc thì tinh thần hóa. Giáp mộc rất sợ Nhâm thủy, bởi vì thủy sẽ tiêu diệt Bính hỏa trong Giáp Mộc, thì Giáp mộc biến thành Ất mộc. Do vậy, lúc Giáp mộc thấy thủy nhất là Nhâm thủy hoặc tình huống lúc Giáp mộc là kỵ thần không có chế hóa thì sẽ có bệnh tim, thị lực không tốt. Giáp mộc rất sợ Nhâm thủy, chủ tim, mắt không tốt.

Giáp mộc là Dần mộc, trong quan hệ địa chi đối ứng Dần Hợi hợp, lúc hỏa ở thiên can không vượng mà kim thủy vượng, thì là tổn thương dương, đôi mắt có vấn đề.

VD Càn tạo: Ất Mão, Giáp Thân, Quý Mão, Ất Mão

Mộc vượng là kỵ, Giáp mộc Thương quan là bệnh thần, đôi mắt có bệnh, là người mù.

VD Khôn tạo: Mậu Tý, Giáp Tý, Giáp Ngọ, Nhâm Thân

Tiểu nữ hài, trong bát tự âm vượng, dụng Mậu thổ để ngăn âm thủy, Giáp mộc kiến Nhâm thủy, hỏa tổn thương mà biến thành Ất mộc lại khắc Mậu thổ là kỵ thần, đôi mắt không tốt, xem ti vi thường chảy nước mắt.

Giáp mộc thấy Bính hỏa có thể vứt bỏ không để ý tới sự nghiệp, gia đình, mà truy cầu văn hóa, lý tưởng. Bởi vì trong Giáp mộc có mang Bính hỏa, Giáp mộc thấy Bính hỏa, liền có thể thực hiện lý tưởng và truy cầu, cho nên rất kích động.

Trong Ất mộc không có hỏa, thấy Bính hỏa là thích nói, nhưng sẽ không hăng hai tiến lên. Năm tới năm Giáp Ngọ, Giáp mộc kiến Bính hỏa, trong bát tự nhật can là Bính, hoặc là có Bính hỏa, sẽ không quan tâm tới truy cầu lý tưởng.

Lúc luận tượng nhân sự, phải nắm Giáp mộc xem làm 3 hành Giáp Bính Mậu.

2), Ất mộc

Ất mộc đối ứng là Mão mộc, chỗ đại biểu rất đơn thuần chỉ là Ất mộc. Bên trong không có hỏa, sẽ không hiến thân. Trong tất cả can âm đều có mang kim thủy, trong Ất mộc thủy nhiều rất ảm thấp, vì vậy, Ất Mão thấy thủy nói là phong thấp.

3), Bính hỏa

Bính hỏa đối ứng Tị hỏa bên trong có chứa Bính hỏa, Canh kim, Mậu thổ. Bản thân Bính hỏa đại biểu tu dưỡng văn hóa, nhưng tính khí không tốt, có lúc sẽ lạnh lẽo vô tình, bởi vì bên trong có chứa Canh kim, Canh kim rất lạnh lùng vô tình.

Bính hỏa vạn đào hoa cũng rất nhiều, bởi vì Canh kim là Thiên Tài, đối với nam nhân Bính hỏa mà nói phổ biến được người khác giới rất thích. Nhưng Bính hỏa thấy Giáp mộc, thì sẽ vô tình đối với tình nhân, thông qua quan hệ địa chi có thể biết, Dần Tị tương hại, trong Dần có Bính hỏa khắc Canh kim trong Tị.

Bính hỏa chủ tinh thần, nhưng người Bính hỏa trời sinh là chiêu tài, bởi vì Bính hỏa mang Canh kim, chỉ qua là cuối cùng sẽ tán tài, bởi vì Canh kim là Thiên tài.

4), Đinh hỏa

Đinh hỏa đối ứng là Ngọ hỏa, bên trong có chứa Đinh hỏa, Kỷ thổ. Nhân nguyên là tượng nhân sự, bất cứ chuyện gì cũng đều từ thiên can để đại biểu, đem địa chi chuyển qua trên thiên can là được.

Kỷ thổ là cuộc sống, là nhân gian, cho nên Đinh hỏa là lò lửa ở nhân gian. Chỗ này thì người Đinh hỏa khá là hiện thực, còn người Bính hỏa thì là lý tưởng hóa và tinh thần hóa. Tất cả can âm đều có mang kim thủy, Đinh lại có chứa Kỷ, rất hiện thực, rất thực tế.

Mậu Kỷ thổ rất phức tạp, nhưng cũng rất đơn giản.

5), Mậu thổ

Mậu thổ xuất ra từ trong Thìn, Tuất, bên trong có chứa Mậu thổ, Ất mộc, Quý thủy, Tân kim, và Đinh hỏa.

Thông thường trong bát tự Mậu thổ có chứa 3 loại thiên can, lấy nguyên tắc Mậu thổ xuất ra từ một địa chi nào đó mà phán đoán, nếu xuất ra từ trong Thìn, thì bao hàm Mậu thổ, Ất mộc, Quý thủy. Xuất ra từ trong Tuất, thì bao hàm Mậu thổ, Tân kim, Đinh hỏa.

Nhưng bản tính Mậu thổ là dương, thì lấy nửa hỏa mà xem. Nhưng lúc trong bát tự có thủy vượng, sinh ở mùa đông, dưới tình huống có Thân Tý Thần hợp thủy cục, thì đem Mậu thổ xem là thủy, bởi vì Mậu thổ là con tắc kè bông biến hóa. Thiên can có Mậu Quý hợp, thì bản thân Mậu thổ cùng thủy có quan hệ rất tốt. Lúc trong bát tự thủy vượng, thì Mậu thổ đi theo thủy. Bản tính Mậu thổ thì lúc xem như là nửa hỏa, mà lúc hỏa vượng, thì xem như là hỏa. Nhưng lúc Mậu thổ xuất ra từ trong Thìn, lúc thủy vượng thì tình huống xem như là thủy cũng không nhiều.

6), Kỷ thổ

Kỷ thổ xuất ra từ trong Sửu, Mùi, bên trong có chứa Kỷ thổ, Quý thủy, Tân kim, Đinh hỏa, Ất mộc.

Bản tính thiên hướng về Sửu thổ, hiện thực, cụ thể thiết thực, là cuộc sống gia đình, coi trọng danh lợi. Dưới tình huống thông thường đều lấy âm xem, vì có mang kim thủy.

Trong hiện thực, người làm dự trắc nhiều nhất chính là có nhật can Kỷ thổ. Kỷ thổ là phục vụ cuộc sống, kiếm tiền, cuộc sống hiện thực, là người rất thực tế.

Lúc Kỷ thổ xuất ra từ trong Mùi, lại là lúc trong bát tự có mộc hỏa vượng, thì Kỷ thổ sẽ đi theo mộc hỏa, thiên hướng về hỏa mà xem, có tượng làm thầy giáo, học mệnh lý, nhân phẩm chính trực, tâm địa thiện lương, thích đọc sách, tuy bản tính hiện thực, nhưng thích mộc hỏa.

VD Càn tạo: Mậu Ngọ, Đinh Tị, Kỷ Tị, Kỷ Tị

Tạo này là giáo sư đại học.

Cho nên, lúc xem thổ nhất định phải xem thổ là xuất ra từ địa chi nào, bởi vì thổ có tính biến hóa rất mạnh, có chứa 3 thiên can, mà Mậu Kỷ thổ trời sinh là có phân biệt, Mậu thổ là hơn phân nửa là Bính hỏa, thông thường xem như là mộc hỏa, xuất ra từ trong Thìn, lúc thủy vượng thì thiên hướng lấy thủy để xem, thì cũng chú trọng danh lợi. Còn Kỷ thổ hơn một nửa là có kim thủy.

VD Càn tạo: Ất Sửu, Mậu Tý, Nhâm Thìn, Đinh Mùi

Trước đây đại biểu làm nông nghiệp, về sau làm y dược. Thủy vượng, Mậu xuất ra từ trong Thìn, đối với quyền lực xem rất nặng.

7), Canh kim

Canh kim xuất ra từ trong Thân, bên trong có chứa Canh kim, Nhâm thủy, Mậu thổ.

Bởi vì trong Canh kim có mang Nhâm thủy, lý tưởng truy cầu Canh kim chính là Nhâm thủy, giống như trong Giáp mộc có chứa Bính hỏa, cho nên lúc nhận chuẩn một con người, cho nên sẽ làm hết sức mình mà không quan tâm đến gia đình cùng tính mệnh. Còn Tân kim thì chỉ có trung thành với cấp trên mà thôi, cũng lưu tâm đến việc chống đối cấp trên của mình.

8), Tân kim

Tân kim xuất ra từ trong Dậu, chỉ có chứa Tân kim, có mục tiêu rất rõ ràng.

9), Nhâm thủy

Nhâm thủy xuất ra từ trong Hợi, có chứa Nhâm thủy, Giáp mộc.

Nhâm thủy là Đế Vương tinh, nhưng có tình người, có tư tưởng thánh nhân, trong có chứa Giáp mộc, Giáp mộc đại biểu chính phủ, dương, tình người, Nhâm thủy hướng dương, quang minh chính đại. Nhật chủ là Nhâm thủy hoặc trong bát tự có Nhâm thủy, nếu làm ông chủ thì rất có tình người, xử lý quan hệ nhân tế rất tốt, nhưng có tính mục đích rất mạnh, sẵn sàng làm tất cả vì quyền lực, lợi dụng quan hệ nhân tế để lấy được quyền lực, loại tình người này không phải là phát từ bản tính, mà là có xu hướng mục đích. Một khi làm lĩnh đạo, thì sẽ trở mặt đối với cấp trên trước đây. Tại sao như vậy, bởi vì tất cả tượng nhân sự đều xuất ra từ Nhân nguyên. Nhâm thủy đối ứng với Hợi thủy, Giáp mộc đối ứng Dần mộc, Dần Hợi hợp, là quan hệ vừa hợp lại vừa phá, giống như Tị Thân hợp phá vậy. Phá chính là phá hư, là chiến cục, có họa.

Giáp mộc thiên tính là sợ Nhâm thủy, Dần Hợi hợp, Nhâm thủy sẽ tiêu diệt Bính hỏa ở trong Dần, làm tổn thương dương, chính là tượng lấn át lĩnh đạo, đem lĩnh đạo đạp xuống để ta làm lĩnh đạo, hỏa chính là lĩnh đạo.

10), Quý thủy

Quý thủy xuất ra từ trong Tý, chỉ có chứa Quý thủy, năng lượng của tứ chính lại rất lớn, Quý thủy rất đáng sợ, Quý thủy là vật cực âm, lực sát thương rất mạnh. Trong thiên can chứa rất nhiều thổ, chỉ có 4 thiên can không chứa thổ, Quý thủy chính là một trong số đó. Quan hệ ở trong địa chi, tính phá hư của Quý thủy là lớn nhất.

Tý phá Dậu, Tý Mùi hại, Tý xung Ngọ, Tý Sửu hợp, Sửu là vật cực âm, đại biểu bệnh viện, phần mộ, Tý thủy dám đến hợp Sửu, thuyết minh là Tý thủy cũng rất âm. Tý Mão hình, tai hại đối ứng cũng rất lớn, lúc thủy vượng, chính là chân Tý Mão hình, là có họa, chân tay đều có vấn đề.

VD Càn tạo: Đinh Mão, Nhâm Tý, Ất Mão, Bính Tuất

Trước đây ngón tay bị động vật cắn bị thương, đứt một khớp ngón tay nhỏ.

Quý thủy đi sinh Ất mộc là đại biểu phong thấp, như nói Ất mộc không sinh ở mùa hạ, gặp Quý thủy đến sinh, Quý thủy lại không có gặp Mậu Kỷ thổ khắc chế, 90% phải sinh bệnh, là bệnh mãn tính trị không khỏi. Ở trụ giờ cũng có thể xem đượ bệnh con nít, ở năm tháng lại đại biểu bệnh của bản thân hoặc là cha mẹ. Thiên can Mộc là giòn yếu nhất, Ất mộc chính là rất sợ Quý thủy, bởi vì quý thủy đại biểu âm độc. Giáp mộc thấy Quý thủy vượng cũng chủ phong thấp.

VD Càn tạo: Quý Sửu, Giáp Tý, Mậu Dần, Tân Dậu

Ký giả, mắc bệnh phong thấp nghiêm trọng. Như trụ Giáp Tý, trong Giáp mộc có mang hỏa, lúc thủy vượng cũng có bệnh mãn tính, lúc hỏa không vượng, cũng trị không tốt, bởi vì có âm độc xâm nhập.

Trong Quý thủy chỗ đối ứng có năng lượng cao, mặt tốt là đại biểu tinh hoa, linh hoạt, mặt không tốt đại biểu là tà khí, quỷ. Trong thập can, chỉ cần có thổ, thì có năng lực đề kháng đối với thủy, dưới tình huống thông thường là không sợ thủy đến xâm phạm, nhưng dưới tình huống thủy đặc biệt vượng cũng không được.

Trong Ất mộc không có chứa thổ, thì bản thân không có năng lực bảo hộ, cho nên thủy rất dễ dàng xâm nhập vào Ất mộc, lúc kim đến khắc Ất mộc, Ất mộc cũng không có hỏa để bảo hộ, người có nhật can Ất mộc nếu như trong bát tự lại thiếu hỏa, thổ, rất dễ dàng sinh bệnh.

Trong Bính hỏa có mang Mậu thổ, lực đề kháng mạnh, trong Đinh có mang Kỷ thổ, cũng có sức đề kháng, thì không quá sợ thủy xâm phạm. Bởi vì thủy là âm, chính là tật bệnh. Trong thiên can không có chứa thổ, thì bản thân không có năng lực bảo hộ. Như Giáp mộc, Bính hỏa, Đinh hỏa, Mậu thổ, Kỷ thổ bản thân đều có năng lực bảo hộ. Còn trong Ất mộc không có hỏa thổ, rất dễ dàng sinh bệnh.

Canh kim tuy là âm, không bên trong có chứa Mậu thổ, tuy là lạnh lùng vô tình, nhưng làm sự nghiệp cũng là quang minh chính đại, bởi vì có dương tồn tại.

Thổ ở lúc luận sức khỏe rất lợi hại.

Tân kim không có hỏa, thổ, khá là âm, cho nên làm việc, làm quan hệ nhân tế đều thích tiến hành âm thầm.

Trong Nhâm thủy có chứa Giáp mộc, đại biểu quang minh chính đại, chỗ quang minh chính đại này là một loại thủ đoạn thao tác, trên thực tế là tổn thương dương.

Quý thủy không có mộc, không có thổ, là vật cực âm.

Như vậy xem ra thổ là rất lợi hại, là nhân gian, đại biểu con người, có thể khởi được tác dụng là cân bằng âm dương, nó có thể khắc thủy, ngăn âm; tiết hỏa, ngăn dương, đề phòng ngăn được âm dương tách khỏi đạo trung dung. Trong Bính Đinh hỏa đều có chứa thổ, tuy tính nóng, nhưng có thổ để cân bằng, vẫn tốt.

4 thiên can không chứa thổ là: Ất, Tân, Quý, Nhâm. Trong đó Nhâm thủy tuy không chứa thổ, nhưng chứa Giáp mộc, tuy không có thổ để cân bằng, nhưng có Giáp mộc tiết thủy, không đến nỗi quá âm, vấn đề không lớn.

Lúc thủy đến xâm hại Giáp, Bính, Đinh, có thổ tồn tại thì sẽ phản khắc thủy, cho nên có sức đề kháng đối với thủy.

Tân kim thì có vấn đề, không có thổ, không có bảo hộ, thiếu khuyết tính an toàn, thì chỉ có thể đi làm quan hệ nhân tế. Do vậy, người Tân kim thích hợp nhất là đi làm quan hệ nhân tế, chỉ qua là không từ bỏ chút thủ đoạn nào. Tân kim vượng, thiếu khuyết mộc hỏa, thân thể kém, bởi vì không có dương để cân bằng.

Quý thủy không đắc dụng, thái vượng hoặc thái nhược, là tổn thương âm là âm trọc, nghiêm trọng là tàn tật, được phụ thể, nhẹ thì cũng mắc bệnh. Nhật can Quý thủy hoặc trong bát tự Quý thủy không có chế hóa, dễ dàng bị phụ thể (kèm theo). Nhật can Quý thủy hoặc trong bát tự có Quý thủy vượng mà không có chế hóa, không có nương tựa lục thân, cùng bất cứ người nào đều rất khó làm quan hệ cho tốt.

Từ góc độ quan hệ tác dụng địa chi để luận, Tý Dậu phá, tuy kim thủy là một nhà, nhưng quan hệ không tốt, đại biểu cùng thuộc hạ có quan hệ không tốt, lúc Tý thủy vượng, mà Dậu kim không vượng, thuộc hạ làm bất cứ việc gì cũng đều muốn hướng về hồi báo, nó muốn phải xâm nhập tư tưởng, sinh hoạt của thuộc hạ, cho nên dẫn đến quan hệ xấu. Tý Dậu phá, lúc Dậu kim vượng, mà Tý thủy cũng không suy nhược, là đại biểu thiên tài, Tý thủy có thể tiến vào phá hư Dậu kim, sẽ trở thành nhà khoa học, phương diện bậc đại sư về số liệu.

Trong quan hệ Địa chi, Tý Mùi tương hại, Mùi thổ là dương, đại biểu gia đình, trưởng bối, đối với trưởng bối là bất lợi. Tý Mão tương hình, Mão là gia đình, là bất lợi đối với gia đình. Tý Sửu hợp, đi hợp Sửu thổ là tối âm, cho biết bản thân cũng là rất âm.

Bên trên, là thuyết minh Tý thủy không phải là người ở nhân gian. Kiếp trước là yêu tinh ma quái, cho nên rất khó làm tốt quan hệ nhân tế. Nữ nhân Quý thủy tuy là mỹ nữ, nhưng hồng nhan dễ trở mầm tai họa. Trong Quý thủy không có thổ, đại biểu là bệnh độc, thì Quý thủy sẽ xâm nhập vào trong mộc, thì mộc không có cách nào trưởng thành cho tốt, mộc ngoại trừ là gân cốt, còn là tư tưởng, chỗ thể hiện ra chính là tư tưởng tiêu cực.

Nếu như Quý thủy muốn tốt, nhất định phải thấy thổ, Mậu Quý hợp. Giáp mộc vượng cũng được, nhưng lúc Giáp mộc nhược cũng không được, Quý thủy bệnh độc sẽ xâm nhập Giáp mộc, giống như bạn cứ tham vọng, trợ giúp bệnh nhân, bởi vì sức đề kháng bản thân không đủ, kết quả bản thân cũng bị nhiễm bệnh.

Tý Sửu hợp, thì Quý thủy có thể đại biểu Sửu thổ, lúc Sửu là cát thì đại biểu kho tàng, lúc là kỵ thì đại biểu phần mộ, bệnh viện. Tý Sửu, Quý Sửu, cũng có tượng đại biểu y dược, bệnh viện. Trụ ngày Tân Sửu, như Sửu thổ có chế là dụng, chủ kho tàng, như không có chế, thò bản thân có bệnh hoặc phối ngẫu có bệnh, hàng ngày phải lui tới bệnh viện.

Nhật can Ất mộc, Ất mộc vượng, nhưng không có hỏa, thổ, là bệnh cong lưng, lưu niên thấy thủy, sinh bệnh. Nếu như Quý thủy, lưu niên gặp Mậu thổ, là khỏi bệnh.

Do đó, Tượng pháp đều là dùng đặc tính thập can để suy đoán.

Sáu, Phép dùng Thập Can

Thông qua lý luận âm dương cùng quan hệ tác dụng địa chi suy ra chỗ Hỉ Kỵ của từng thiên can.

1) Giáp mộc

Giáp mộc thích nhất là hỏa, sợ nhất là Nhâm Quý thủy. Giáp Ất mộc là Thiếu Dương, khí dương vừa xuất ra, giống như đứa trẻ con, rất là giòn yếu, sợ nhất là âm tà xâm nhập. Ất mộc rất sợ Quý thủy, bởi vì Tý Mão hình; Giáp mộc rất sợ Nhâm thủy, bởi vì Dần Hợi hợp. Mộc không nhược thì thích thủy. Nhưng từ góc độ cách cục mà nói thì không thể luận như vậy, nếu như Giáp mộc lúc điểm lập cách cục là cát thần, vẫn là cần có thủy đến sinh hộ, danh lợi có thành. Luận mệnh là đủ phương vị, bản chất luận Tượng pháp là xem âm dương ngũ hành, luận tính cách, sức khỏe, tâm lý, lục thân, chính là phải đi luận như vậy.

Giáp mộc sợ thứ hai là kim, bởi vì Giáp mộc là tiểu hài, bản thân không có năng lực bảo hộ, lúc có người ăn hiếp, đánh không lại người ngoài, chỗ này là kim mộc tương chiến, thì chủ thương bệnh tai.

Giáp mộc thích hỏa, bởi vì Lão Dương có thể bảo hộ nó, Lão Dương đại biểu thành niên, lại có thể khắc kim.

Giáp mộc thích thứ hai là thổ, bởi vì thổ có thể khắc âm thủy, thổ chính là dược trị bệnh, còn hỏa là cả đời Giáp mộc thành tựu.

Giáp Ất mộc là Thiếu Dương, là đứa trẻ con. Nhật can là Giáp Ất, nếu trong bát tự không có hỏa, thổ lại suy nhược, lại gặp tiếp kim thủy là bệnh còng lưng. Thân thể công năng miễn dịch kém, có bệnh không dễ dàng trị khỏi.

Có vài bát tự nhìn bề ngoài cân bằng vượng suy là rất tốt, trên thực tế là có bệnh, là bởi vì vượng suy lớn không qua khỏi âm dương. Nếu như tổn thương dương, nghiêm trọng là đoản thọ, nhẹ thì là rã rời phờ phạc. Mộc là sức sống, chính là công năng miễn dịch thân thể; hỏa đại biểu sức sống, là thọ mệnh. Mộc Hỏa vượng, cảm giác không dễ dàng mệt mỏi, hỏa vượng, ban đêm ngũ được rất ít, nhưng lại rất nhanh nhẹn. Như mộc không có hỏa, thấy thủy, thì hay gặp khó khăn. Mộc không có hỏa, thì thiếu khuyết sức sống.

VD Càn tạo: Đinh Mão, Kỷ Dậu, Đinh Mão, Tân Hợi

Lúc 01 tuổi thì toàn thân sinh nhọt độc, mấy chục năm mới tốt, là thể hiện công năng miễn dịch không tốt. Sém chút nữa thành mộc đa hỏa tắt, kim đắc nguyệt lệnh vượng, âm trọng tổn thương, mộc lại gặp thủy, lại bị Dậu kim xung khắc, bởi vì mộc là công năng miễn dịch, thủy sinh mộc là bệnh độc xâm nhập, hỏa là sức sống, vì vậy, tạo này có công năng miễn dịch không tốt.

Đứa trẻ nhỏ rất sợ bệnh độc nhập xâm, trong tất cả các ngũ hành thì Ất mộc có sức đề kháng là kém nhất, Ất mộc là gan, là công năng miễn dịch.

Sinh mệnh là bắt đầu từ Giáp mộc, sau đó quá độ là đến Ất mộc, từ trong cuộc sống hiện thực mà nói, lấy trẻ sơ sinh làm ví dụ, sinh ở giai đoạn 6 tháng thì vẫn còn có công năng miễn dịch do mẹ ban cho, nhưng sau nửa năm, công năng miễn dịch Tiên thiên dần dần thoái hóa, ở trước Hậu thiên vẫn chưa hình thành công năng miễn dịch mới, sức đề kháng bản thân là rất kém. Do vậy có thể thấy, năng lực đề kháng của Giáp mộc so với Ất mộc phải mạnh hơn, Ất mộc là giòn yếu nhất. Lúc mộc trường thành trở Lão Dương, có thể chế kim, kháng thủy, sức đề kháng sẽ tăng cường.

2) Ất mộc

Bản thân Ất mộc là có mang thủy. Mão mộc không sinh hỏa, hoặc là nói năng lực Ất mộc sinh hỏa rất nhỏ, không chỉ có vậy, có lúc Ất mộc còn làm tắt hỏa. Sẽ có hiện tượng mộc đa hỏa tắc, dẫn đến bệnh tim. Đinh Mão chính là tổ hợp Ất Đinh. Từ trong quan hệ tác dụng địa chi có thể biết tại sao trong Ất mộc có chứa thủy, không sinh hỏa, trái lại còn làm tắt hỏa, là bởi vì Mão Ngọ phá, chỉ có thủy mới có thể phá hỏa, cho nên nói trong Ất mộc có chứa lượng thủy lớn.

Tổ hợp Mão Ngọ phá và Tổ hợp Tý Dậu phá là giống nhau, lúc lực lượng Mão mộc lớn hơn Ngọ hỏa, đồng thời lại giống như gặp thủy sinh, đây là phá hư. Tổ hợp Đinh Mão chính là tổ hợp Mão phá Ngọ, tim, mắt dễ dàng xảy ra vấn đề. Toàn bộ bởi vì trong Mão mộc có chứa rất nhiều thủy. Tổ hợp Ất Mão gặp Đinh Mão, lúc Đinh hỏa không vượng, là bệnh tim, cũng chủ quan hệ gia đình không tốt, bởi vì nó là tổ hợp làm tổn thương dương.

Lúc lực lượng Ngọ hỏa vượng, Mão phá Ngọ thì là chỉ phá hoại văn hóa truyền thống.

Mão mộc là tiêu diệt Đinh hỏa, bản thân Đinh hỏa chứa Kỷ thổ, chính là tiết Đinh hỏa, còn Mão mộc là không tiêu diệt Bính hỏa.

VD Càn tạo: Giáp Thìn, Đinh Mão, Giáp Dần, Ất Sửu

Là đại phu Trung y, mắc bệnh tim nghiêm trọng. Tổ hợp trụ tháng Đinh Mão chính là Mão phá Ngọ. Đem địa chi chuyển hóa thành thiên can, chính là phương pháp của Tượng pháp.

VD Càn tạo: Ất Mão, Ất Dậu, Giáp Thân, Đinh Mão

Bệnh tim, thiên can Đinh hỏa gặp Ất mộc, trụ giờ lại thấy tổ hợp Đinh Mão, Đinh hỏa lại là Thương quan không có chế, tọa dưới Thân kim, có tượng động đao phẫu thuật.

VD Càn tạo: Đinh Mão, Nhâm Tý, Đinh Mùi, Quý Mão

Tổn thương dương, công năng gan không tốt, kiềm nén trong lòng, mộc bị thủy xâm nhập, đại biểu sự kiềm nén, đồng thời thân thể cũng có vấn đề.

Phương diện Vượng Suy cho dù tốt cũng không được, bởi vì tổn thương dương. Âm Dương là to lớn nhất, còn Vượng Suy chỉ là thứ yếu.

Bắt đầu phân tích từ tính cách, tâm tính. Kim, Mộc là Thiếu Âm, Thiếu Dương, rất dễ dàng tự ti, nhất là Tân kim và Ất mộc, hoàn toàn không có bảo hộ, càng là như thế.

Thiếu Dương là biết bản thân suy nhược, có tự mình hiểu lấy. Trong Giáp mộc có hỏa, đại biểu tinh thần truy cầu tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật, dùng sự thanh cao để che dấu sự yếu nhược của mình, đồng thời hi vọng thành tựu ở phương diện này để bảo hộ bản thân, tiếp theo là lựa chọn tu hành, hi vọng mượn lực lượng trợ giúp của Thần Phật để bảo hộ mình. Không tự tin, cho nên bề ngoài là thanh cao, đồng thời cũng có mang màu sắc trốn tránh hiện thực. Ất mộc tự biết mình suy yếu, thì khá là hiện thực, tiếp theo là chọn lựa làm quan hệ nhân tế tốt, thông qua đọc sách mà trưởng thành, học tập kỹ thuật, để bảo vệ bản thân, do vậy người Ất mộc hoặc là có thủ nghệ hoặc là sẽ làm tốt quan hệ nhân tế.

3) Bính hỏa

Bính hỏa, Nhâm thủy là Đế Vương tinh, thì là người kiêu ngạo. Bính Đinh hỏa là Lão Dương, lực bảo hộ mạnh mẽ, nội tâm, thân thể đều rất to lớn, tất nhiên là phải xem từ quan hệ tác dụng địa chi để tìm hỉ kỵ.

Bính hỏa đối ứng là Tị hỏa, Bính hỏa là Đế Vương tinh, người lớn mạnh rất sợ phong cuồng, cho nên Bính hỏa ở trong tại địa chi quan hệ rất sợ Dần Tị hại, lúc Bính hỏa thái vượng, không nên lại đi sinh nó tiếp tục, sinh nó thì dễ dàng tự tiêu hủy, còn Giáp mộc thấy đến Bính hỏa, thì bản thân thấy đến lý tưởng và mục tiêu truy cầu, sẽ phấn đấu quên mình chạy về hướng Bính hỏa, bất kể Bính hỏa có thích hay không thích nó, vẫn cứ đi đến, Bính hỏa liền đúng phong cuồng, bản thân đánh giá quá cao, quá tập trung đi làm việc, kết quả là tự thiêu thân, là tự trọc. Chỉ có ở lúc Bính hỏa là không quá vượng, mới thích Giáp mộc.

Dần Tị Thân tam hình, hình thì có họa, Canh kim trong Thân kim thụ thương, là tổn thương âm, nghiêm trọng là tàn tật, nhẹ thì cũng mắc bệnh mãn tính.

VD Khôn tạo: Giáp Thân, Kỷ Tị, Nhâm Thân, Nhâm Dần

Tổn thương âm, nhiều năm mắc bệnh tiểu đường.

VD Càn tạo: Ất Tị, Giáp Thân, Giáp Dần, Đinh Mão

Cánh tay tàn tật.

VD Càn tạo: Nhâm Dần, Mậu Thân, Tân Tị, Kỷ Sửu

Viêm cốt tủy dẫn đến suýt nữa là cưa đứt tứ chi.

Giáp mộc và Bính hỏa giống như hai người ở trong hiện thực, nếu như quan hệ quá tốt, cũng rất dễ dàng nhận phải thương hại.

Giáp mộc nhược, Bính hỏa vượng, Dần Tị hại, lúc hỏa vượng, thì mộc thụ thương, hỏa tự đốt cháy, nghiêm trọng là bệnh tinh thần, làm học thuật thì tẩu hỏa nhập ma, nhẹ thì chủ tính cách tỳ khí không tốt, thần kinh suy nhược. Hỏa không vượng, mộc vượng, thì không có chuyện gì. Dần mộc thì không được Bính hỏa, không giống như Mão Ngọ phá.

Bính hỏa gặp Tân kim phát tài, lúc gặp Nhâm thủy vượng, lại là lúc làm tổn thương mất căn Bính hỏa, chủ quan phi khẩu thiệt, có tượng lao tù.

Nắm nay năm Giáp Ngọ, phương diện tôn giáo, văn hóa sẽ có sự kiện lớn, người có hỏa thái vượng là kỵ, dễ dàng dẫn đến tẩu hỏa nhập ma.

4) Đinh hỏa

Đinh hỏa rất sợ thấy Kỷ thổ, Kỷ thổ xuất ra từ trong Sửu thổ, bởi vì Sửu Ngọ hại nhau, cũng sợ Ất mộc, Mão phá Ngọ, dễ dàng dẫn đến mộc đa hỏa tắc.

5) Mậu Kỷ thổ

Mậu Kỷ thổ đối với nhân gian mà nói là rất tốt, có thể cân bằng âm dương. Mậu Kỷ thổ hỉ Tài Quan, bởi vì con người đều ham thích danh lợi, đặc biệt là Mậu thổ, rất thích thủy.

Lúc Kỷ thổ là âm không quá thích thủy. Lúc Mộc vượng là đối với lực khắc thổ cũng không lớn, nhất là lức Giáp mộc khắc đối với Mậu thổ nhỏ. Nhưng lúc Giáp mộc gặp thủy, lúc biến thành Ất mộc, thì lực khắc đối với Mậu thổ sẽ trở nên lớn. Bởi vì Giáp mộc là khí, bên trong còn có Bính hỏa, Mậu thổ, gặp thủy liền thành hình.

Từ chỗ này có thể thấy, Mậu Kỷ thổ không sợ Giáp mộc vượng, mà sợ Giáp mộc thấy thủy đến khắc, thổ là da thịt, bị khắc thương, chủ thân thể có thiếu khuyết. Thủy mộc chỉ cần không trở thành một khối, thì không có chuyện gì.

VD Càn tạo: Quý Mão, Ất Sửu, Mậu Dần, Quý Hợi

Lúc nhỏ mắc bệnh bại liệt, thay thế lão sư dạy qua một năm, không có đơn vị, Dần mộc gặp Hợi thủy đến khắc Mậu thổ. Nếu như không có thủy, thì có tượng làm thầy. Dần mộc biến thành Ất mộc, thành hình là thực, khởi đến khắc rất nghiêm trọng.

VD Càn tạo: Nhâm Dần, Quý Sửu, Mậu Dần, Ất Mão

Thầy giáo tàn tật một tay. Mậu xuất ra từ trong Dần, lực khắc không mạnh, nhưng thấy thủy, thì nghiêm trọng.

VD Càn tạo: Giáp Tý, Giáp Tuất, Mậu Dần, Giáp Dần

Nghiên cứu sinh vào đại học trọng điểm của Quốc gia, vận Bính Tý thi đậu. Trụ năm Giáp Tý, lúc nhỏ phần đầu hặn là phải có vấn đề, sau khi trưởng thành không có vấn đề gì. Mậu xuất ra từ trong Tuất, bản thân có mang hỏa, Mậu Dần lực khắc nhỏ, nếu như có Hợi thủy thì sẽ phiền não. Địa chi năm tháng kẹp xuất ra Hợi thủy, ở lúc luận Tượng pháp thì không xem xét. Tạo này thì có thể xem như tượng mộc hỏa thông minh.

Địa chi Tuất thổ cùng Tý thủy chẳng khác nào thiên can là Mậu Quý hợp, cả hai gọi là Ám hợp.Dần Hợi hợp, chỉ có Nhâm thủy ở trong Hợi mới có thể khắc mất Bính hỏa ở trong Dần, Quý thủy là không khắc mất Bính hỏa. Trụ ngày Mậu Dần, lực khắc Dần mộc đối với Mậu thổ là rất nhỏ.

6) Canh kim

Canh Tân kim là Thiếu Âm, rất thích thủy. Phải biến thành Lão Âm mới sẽ không bị bắt nạt. Canh kim rất thích thủy, sẽ vì thủy mà đi chết thay, giống như đi lính, công tác ở công an kiểm sát tòa án, đầu óc cần phải đơn giản, người có tứ chi phát triển để làm việc, không hỏi đúng sai, chỉ cần quản chấp hành mệnh lệnh.

Canh kim sợ Bính hỏa. Bởi vì địa chi Tị Thân hợp phá. Canh kim vượng thì không sợ Bính hỏa, bởi vì có hỏa luyện kim một chút mới tốt, Đinh hỏa luyện Canh kim là tốt nhất, Bính hỏa luyện Canh kim, lúc Canh kim vượng thì còn được, nếu như lúc nhược, thì sẽ có vấn đề.

Tị Thân hợp phá, là trước tốt sau xấu. Trong tam hình, Dần Tị Thân là tai họa lớn nhất, Sửu Tuất Mùi đứng thứ hai, Tý Mão hình là nhẹ nhất.

Canh kim rất sợ Bính hỏa vượng đến khắc nó, dụng thủy khắc hỏa thì có thể bảo hộ Canh kim, lúc Canh kim vượng, thấy hỏa mới thành vật dùng, lúc suy nhược rất sợ thấy Bính hỏa, là có họa.

Đồng thời, Canh kim đặc biệt sợ Mậu thổ, Canh kim có hình, hỉ thấu ra, Mậu thổ sẽ chôn vùi Canh kim.

7) Tân kim

Tân kim rất sợ Đinh hỏa, bởi vì địa chi Dậu Tuất hại, Đinh hỏa ở trong Tuất khắc thương Tân trong Dậu kim. Thiếu Âm là vật đã thành tài, sợ khắc, vừa gặp vật khắc nó, liền bị phá hư, thích nhất là có thủy.

Canh Tân kim là Thiếu Âm, nội tâm không đủ lớn mạnh, hỉ kết giao với quyền quý. Giáp Ất mộc là thông qua văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo để bản thân lớn mạnh. Canh kim thông qua vũ lực, đao khí hoặc thay thế lĩnh đạo bán mệnh để bảo hộ bản thân, Tân kim thông qua năng lực kinh tế hoặc làm quan hệ nhân tế để bản thân lớn mạnh. Thái độ Tân kim rất tốt, sẽ làm tốt quan hệ nhân tế, là có tài hoa, lại có năng lực. Nhưng cùng thủy cũng có mâu thuẫn, bởi vì Tý Dậu phá nhau.

Trên thực tế Tân kim cùng Quý thủy đều rất có mưu kế, lúc quan hệ qua lại đều có giữ lại thù đoạn, bằng mặt không bằng lòng, dễ dàng phá hư quan hệ. Giống như chỗ nói kim đa thủy trọc, là tổ hợp Tân kim sinh Quý thủy, tổ hợp Quý Dậu, là đại biểu tử vong. Giống như mộc đa hỏa tắc là tổ hợp Đinh Mão, 3 Mão mộc thì có thể bỏ vào ở một trụ Đinh hỏa, nhưng tổ hợp Bính Dần, thì sẽ không xuất hiện hiện tượng làm hỏa tắt, trừ phi gặp đến Dần Hợi hợp. Phản ánh ra quan hệ tổ hợp Canh kim, Nhâm thủy và Giáp mộc, Bính hỏa là tốt nhất.

Lúc thực lực Tân kim mạnh thì sẽ lấn át lĩnh đạo. Thực lực Tý thủy mạnh thì lấn át thuộc hạ, là muốn biết tất cả chỗ bí mật của thuộc hạ.

Trong Tân kim không có chứa thủy, bản thân không có năng lực bảo hộ, rất dễ dàng bị hỏa khắc mất, thể hiện thân thể kém, dễ tàn tật. Bởi vì Tân kim vừa phải phòng bị gặp Tý thủy lĩnh đạo, lại phải phòng bị gặp người ngoài là hỏa đến khắc thân, cho nên mặc dù có quan hệ nhân tế tốt, nhưng trong lòng cũng không vui vẻ. Thuyết minh người có nhật can Tân, tâm lý nội tâm phòng bị rất mạnh.

8) Nhâm Quý thủy

Nhâm Quý thủy là có tính kỳ quái một chút. Nhâm thủy là Đế Vương tinh, mạnh lớn, có chứa Giáp mộc, muốn làm tổn thương Nhâm thủy khá là khó. Lúc Mậu Kỷ thổ đến khắc, có Giáp mộc bảo hộ. Trừ phi lúc thổ rất vượng, nếu không là không thể thiết nhập, bởi vì bản thân Nhâm thủy rất có thực lực.

Lúc bình thường đối với thuộc hạ là có nhân tình. Trong quan hệ Địa chi, Thân Hợi là tương hại. Lúc Nhâm thủy gặp phải Canh kim, thì Thân kim trở nên lạnh lùng vô tình, lá gan rất lớn, chuyện gì cũng đều muốn làm. Bởi vì Canh kim năm Giáp mộc trong Nhâm thủy tiêu diệt. Nếu như lúc không thấy Canh, Thân, Nhâm thủy khắc Bính hỏa, sẽ lưu lại con đường sống, sẽ không vô tình như vậy. Đồng thời sẽ làm lĩnh đạo, cũng còn có chút nhân tình.

Nhâm thủy là âm, âm là không phải chủ lưu, là không nhập vào chủ lưu, muốn thành tài phải thấy Mậu thổ, Mậu thổ là Thất Sát, cũng không phải là chủ lưu, trừ phi lại thấy Giáp mộc, Giáp mộc đại biểu chính phủ, là chủ lưu, mới sẽ đem Nhâm thủy hướng theo đường chủ lưu. Thấy Kỷ thổ Chính Quan là chủ lưu.

Quý thủy là cực âm, Bính hỏa là cực dương, đều không phải là vật nhân gian. Thủy Hỏa vô tình là chỉ hai cái chỗ này. Còn Đinh hỏa là lò lửa ở nhân gian, là có tình, có quan hệ nhân tế tốt, gia đình cũng hòa thuận. Nhâm thủy cũng là có nhân tình. Quý thủy sẽ vì tình cảm nào đó đều không có quan tâm, Quý thủy đối ứng với thập thần là Thương quan, sẽ vì hứng thú, yêu thích, tình cảm của mình mà không quan tâm gia đình, thuộc về người ngoài nhu trong cương. Bính hỏa cũng sẽ vì truy cầu lý tưởng, tín ngưỡng mà bỏ đi sự nghiệp và gia đình mà lựa chọn con đường xuất gia.

Quý thủy quan hệ đối ứng với địa chi: Tý Dậu phá, Tý Mão hình, Tý Mùi hại, Tý Sửu hợp, Tý Ngọ xung, Ngọ hỏa đại biểu quang minh chính đại, thuyết minh mấy loại quan hệ này của Quý thủy sẽ không quan tâm đến nhân nghĩa đạo đức, dễ dàng làm ra chuyện bỏ nhà theo trai, không cần công tác, gia đình.

Cũng chính là nói Quý thủy là mỹ nữ, mỹ nữ là thuốc độc. Quý thủy đối ứng là Thương quan, đại biểu bệnh độc. Quý thủy mặt tốt là đại biểu tinh hoa, linh hoạt, có thể thông linh.

Quý thủy rất sợ Tân kim, bởi vì hai âm tụ lại, là quá âm. Quý thủy thích Mậu thổ, có thể hóa hỏa, Mậu thổ rất to lớn, có tính phật rất mạnh, dễ dàng đắc đạo thành tiên. Gặp Giáp mộc, Giáp mộc có tín ngưỡng, truy cầu, sẽ dẫn đường cho Quý thủy hướng dương, trừ phi lúc Quý thủy rất vượng, Giáp mộc rất nhược, là không dẫn đạo, là Giáp mộc bị chỗ bệnh độc của Quý thủy xâm hại. Quý thủy thấy Ất mộc là thành bệnh.

Bảy, Mật pháp Âm Dương tốc đoán cát hung

1) Tổng quyết:

1, Âm Dương hòa hợp là cát, Âm Dương không hài hòa là hung. Từ Âm Dương chủ yếu là xem đại biểu ngũ hành, thập thần, cung vị, vượng suy.

2, Dương là tôn, là quang minh, là ấm áp, là chủ lưu, là chính phủ, là đại nhân, là phúc khí, là cống hiến, là phục vụ, chủ quý; Âm là Ti, là vật chất, là cơ sở, là tiểu nhân, là hàn lạnh, là giang hồ, là lao khổ, là không phải chủ lưu, là dân gian, là làm việc, là dục vọng, là suy nghĩ, chủ quyền lực. Hỏa là xem phúc khí và quý khí, Thủy là xem quyền lực và tài lực.

3, Âm có chế hóa, Dương có phát dụng, tất cát. Đại biểu âm là kim thủy hoặc là Tứ Hung thần có chế hóa tất có chuyện tốt, đại biểu dương là mộc hỏa hoặc là Tứ Cát thần phát lực tất có chuyện cát.

4, Tổn thương âm tổn thương dương, là âm trọc dương trọc (Âm trọc Dương trọc), tất tai.

5, Âm vượng tồn thương dương, là mất phúc khí, không có nơi nương tựa, thiếu quý nhân, nhẹ là có khí vô lực đa bệnh, nặng thì hung tai, ác bệnh mà chết.

6, Dương vượng tổn thương âm, bệnh, tàn, có phúc khí mà ít thọ; Dương thái vượng làm tổn thương âm là nhiều hung tử, bạo tử.

7, Âm cường vượng không trực tiếp tổn thương dương, trường thọ, nhưng cuộc sống thanh bần ít êm ấm, là mệnh hòa thượng đạo sĩ thanh bần.

8, Dương cường vượng không trực tiếp tổn thương âm, có phúc mà thọ không dài. Nữ mệnh thì kết hôn muộn, độc thân bái Phật là thích hợp.

9, Dương khống chế Âm, tự do không có ràng buộc, chính là làm ông chủ, làm quan cũng tự do; Dương vượng không có Âm có thể khống chế, là mệnh hòa thượng, đạo sĩ, ni cô, xuất gia.

10, Âm khống Dương, ít êm ấm, thiếu tự do, cả đời không ngừng phiền não, chính là có tiền có địa vị cũng không vui sướng, nghiêm trọng nếu không lao tù thì là tật bệnh cả đời. Nam mệnh đa số là kết hôn muộn, không có hôn nhân, nữ mệnh trước có hôn nhân về sau sống riêng một mình.

11, Dương là lễ pháp, chính nghĩa, chính phủ, khí dương cường vượng thấy kim thủy, khí kim thành hình thì đa số là nhân viên chấp pháp chính phủ. Khí dương cường vượng mang Dương Nhận, là người háo sát thượng võ.

12, Âm là mưu lược và chính trị, khí âm vượng thấy mộc hỏa, đọc sách mà mưu đồ công danh, lấy quyền thuật mưu cần địa vị.

13, Kim không thành âm, mộc không thành dương, duy chỉ có chuyên cần cày cấy mới nhận được danh lợi.

14, Tính thổ tự nhiên không mang phú và quý, gặp thủy có tình thì đắc phú, thấy hỏa có tình thì đắc quý là người có phúc khí; thủy hỏa đều không được, là người rất tầm thường.

2) Bí quyết “Tự bính Tự” Thập can

(1) Hình và Khí chuyển hóa Thập Can

Hình là vật đã ổn định thành hình, Khí là vật biến hóa không có hình thể hoặc là hình thể không ổn định. Cả hai ở trong định tính khác nhau rất lớn, như cùng là tổn thương dương, tổn thương Bính chủ quan phi khẩu thiệt, trừ phi Bính tổn thương hai lần mới là mắc bệnh ở phương diện tim hoặc là mắt, tổn thương Đinh là chủ bệnh, hoặc là mắt hoặc là tim hoặc là vì khí tổn thương mà thân thể suy nhược nhiều bệnh. Lại như Canh Tân kim, Canh chế hóa một lần trở thành Tân là chuyện tốt, Tân vừa thấy chế hóa thì bộ vị thân thể tất xảy ra bệnh.

Hình và Khí là có thể chuyển hóa, chuyển hóa có nguyên tắc, đại khái phép tắc là:

+ Giáp: Thấy thủy sinh hoặc kim khắc thành Ất.

+ Ất: Ở dưới tình huống không bị âm thủy khống chế thấy Bính là biến thành Giáp.

+ Bính: Thấy thổ thành Đinh lò lửa nhân gian.

+ Đinh: Thấy Giáp thành Bính hỏa là thần trên trời.

+ Mậu: Thấy kim thủy vượng thành Kỷ.

+ Kỷ: Thấy mộc hỏa vượng thành Mậu.

+ Canh: Thấy thủy hoặc hỏa thành Tân đắc quý.

+ Tân: Thấy vượng thổ nhất là thấy Mậu vượng thành Canh.

+ Nhâm: Lưu làm tác nghiệp.

+ Quý: Tự thân vượng lại thấy vượng kim thành Nhâm.

(2) Âm Dương chuyển hóa

+ Mộc thấy hỏa, thoát thai trở thành hỏa dương.

+ Kim thấy thủy, phấn đấu thành âm thủy.

+ Thổ là không có tính chất âm dương rõ ràng, dương vượng theo dương, âm vượng thành âm.

+ Mộc thấy thủy, trăm năm tu luyện hủy hoại trong chốc lát, phản âm, trở thành đứa trẻ đáng thương, nên theo Phật mới có thể giải thoát.

+ Kim thấy hỏa, khí âm ức chế, bỏ gian tà theo chính nghĩa mà hiển quý.

Thủy là Lão Âm rất khó chuyển hóa, trăm nghìn cay đắng, hao hết phí tổn mới có thể thoát thai hoán cốt. Nghĩ lại thể sinh mệnh cấp bậc thấp phải tu hành bao nhiêu năm, mấy trăm năm thậm chí trên cả nghìn năm mới có thể thoát thai thành người, thì biết độ khó của âm thành dương.

Hỏa là Lão Dương, thấy thổ lại thấy kim thủy thì có thể chuyển hóa thành âm. Dễ dàng trụy lạc, kẻ lãng tử rất khó quay đầu.

(3) “Tự bính Tự” Thập Can

+ Ất sợ Quý, Bính sợ Giáp, Nhâm sợ Canh, Đinh sợ Ất. Mậu hỉ Giáp, Kỷ hỉ Bính, Nhâm Quý hỉ Mậu Kỷ…

+ Mộc không bôn hỏa, kim không hướng thủy gần hỏa, thổ không ngăn âm ức dương, nếu như không thành cách cục, đều chỉ là người rất bình thường.

Nội dung bên trên xem bề ngoài là rất nhiều, thực tế ở lúc nằm chắc Âm Dương đều có thể tự mình suy luận, khỏi cần gánh nặng, cũng không cần nhớ. Mệnh học chỉ có mấy thứ khẩu quyết Âm Dương, hiểu Lý thì Pháp sẽ tự rõ, ai học cũng đều như vậy.

(Nguồn: http://lysodoanhnhan.com)