Vương Đình Chi – 08

83. Sáu kết cấu Thất Sát thủ mệnh

Các tinh diệu có liên quan đến Thất Sát nhất là Phá Quân và Tham Lang, ba sao này vĩnh viễn ở ba phương hội chiếu, gọi là tổ hợp “Sát Phá Tham”.

Nếu xét Thất Sát cư mười hai cung vị, thì cơ bản kết cấu có thể chia làm sáu tổ hợp:

– Tại tý ngọ cung, Thất Sát độc tọa, đối cung là Vũ Khúc Thiên Phủ.

– Tại sửu mùi cung, Thất Sát và Liêm Trinh đồng cung.

– Tại dần thân cung, Thất Sát độc tọa, đối cung là Tử Vi Thiên Phủ.

– Tại mão dậu cung, Thất Sát và Vũ Khúc đồng cung.

– Tại thìn tuất cung, Thất Sát độc tọa, đối cung là Liêm Trinh Thiên Phủ.

– Tại tị hợi cung, Thất Sát và Tử Vi đồng cung.

Thế nên từ sự phối hợp trên có thể thấy được tinh diệu có quan hệ với Thất Sát ngoài Phá Quân Tham Lang ra, còn là 4 sao Tử – Phủ – Liêm – Vũ.

Thất Sát hoan hỷ nhất gặp Tử Vi, cho nên thủ mệnh tại bốn cung dần thân tị hợi, dễ dàng trở thành cách cục tốt đẹp, tổ hợp Tử Vi Thất Sát lúc này hóa thành quyền lực; Thất Sát xung đối Tử Vi, cũng có thể gia tăng năng lực khai sáng cho người. Nhưng tính chất của Thiên Phủ lại đồng thời có thể khiến người rơi vào không ảo, nên từ phương diện tích cực mà nói, Thất Sát hai cung cư tị hợi tốt đẹp hơn so với hai cung dần thân; nhưng người có mệnh ở hai cung dần thân cuộc sống thủ đắc được triết học rất thú vị, không giống như cư hai cung tị hợi không dễ dàng thỏa mãn mong muốn quyền lực.

Thất Sát và Liêm Trinh đồng cung, Liêm Trinh là nhu so với Thất Sát là cương, lúc này rất cần xem xét các sao phụ tá hội hợp mà định, hung thì rơi vào nhục dục, cát thì phẩm cách ngay thẳng chính trực, lại mang vài phần hơi thở, mùi vị văn nghệ, phong lưu nho nhã mà tuyệt đối không hạ lưu. Nhưng Thất Sát xung chiếu Liêm Trinh Thiên Phủ, có thể thêm vào nhiều cảm xúc bùi ngùi, thường thường hiểu được nhân sinh chẳng qua là “kính hoa thủy nguyệt” (trang mờ đáy nước) (*), lúc này khiến Thất Sát tựa như vị chiến tướng gặp phải núi cao thình lình trước mặt, còn quân lính thì một đạo cầm đao đang mang sẹo một đạo cầm giáo thì bị thương, tất cả ghi nhận đều trong thế phải vùng vẫy đấu tranh.

Thất Sát Vũ Khúc đồng cung là tổ hợp tinh hệ hết sức tích cực, nhưng khiếm khuyết khả năng dự báo, dẫn đường; nhưng Thất Sát có Vũ Khúc Thiên Phủ hội chiếu, Thất Sát đứng độc lập ngược lại mới có thể dễ dàng phát huy khả năng nhưng lại dễ dàng biểu hiện độc tài, cho nên ở phương diện năng lực lãnh đạo có khuyết điểm. Trong các loại tổ hợp tinh hệ Thất Sát, loại tổ hợp này tốt đẹp hơn ở chổ sóng gió ít mà lại nhỏ, nếu ước mong yên ổn trong cuộc sống đương nhiên nên gặp cách cục này.

Chú thích:

(*) kính hoa thủy nguyệt: hoa trong gương, trăng trong nước; —> một cảnh tượng mờ mờ ảo ảo.

99. “Văn Quế Văn Hoa cách” chủ yếu xem ở chính tinh

“Văn Quế Văn Hoa cách” – tức an mệnh vào sửu hoặc mùi cung, mà cung Mệnh gặp Văn Khúc Văn Xương đồng thủ.

Cổ ca nói:

Sách thư nhất đạo tự thiên lai

Hoán khởi nhân gian kinh tể tài

Mệnh lý vinh hoa chân khả tiện

Đẳng nhàn bình bộ thượng bồng lai.

(Sách, thư cùng từ trời đến, kêu gọi người tài trị quốc chốn nhân gian, mệnh lý vinh hoa thực có thể ao ước, bỗng dưng một bước đến chốn bồng lai.)

Ở khoa cử thời đại, đọc sách cầu công danh là con đường tốt nhất, cho nên cổ nhân lấy Đẩu số luận mệnh hoan hỷ nhất gặp Văn Xương Văn Khúc, ngoại trừ “Văn tinh củng mệnh cách” đã thuật trước đó (mục 96 – “Văn tinh củng mệnh” chủ thông minh), còn có cách “Văn Quế Văn Hoa” này, sau này sẽ thảo luận đến các cách “Văn Lương chấn kỷ”, “Lộc Văn ám củng”, vì như đã biết cổ nhân khá coi trọng khả năng của văn tinh. Ở bối cảnh xã hội trước mắt tiến hành thảo luận thêm nữa.

Văn Xương Văn Khúc đồng tọa cung Mệnh, bản thân tất nhiên phong lưu nho nhã, có phong cách đặc biệt, hơn nữa lại thông minh tuấn tú, đây là ưu điểm của nó.

Nhưng hai sao Xương Khúc rốt cuộc không phải chánh diệu, khả năng bạc nhược, vào chuyện thi cử cạnh tranh lớn là có khả năng ứng phó, ở xã hội ngày nay ngoại trừ thi cử ra còn có rất nhiều sự việc phải tranh quyền đoạt lợi, cho nên tất cần có chánh diệu khác hữu lực phò trợ, sau đó mới có thể thích ứng thời đại trước mắt.

Cổ nhân không trọng nữ mệnh, vì lẽ đó cách cục này cũng không liên quan đến nữ mệnh. Nữ mệnh nếu gặp Xương Khúc đồng cung, trái lại sau hôn nhân dễ dàng có bất lợi, vỡ mộng chuyện tình cảm, nếu gặp Thiên Phủ Vũ Khúc đồng chiếu mệnh viên (*), dễ bị những người đã có gia đình theo đuổi, quấy nhiễu gây ra tình cảm thống khổ, cho nên “Văn Quế Văn Hoa” ngày nay cũng không tốt bằng thời xưa là thế.

P/s:

(*) “…Thiên Phủ Vũ Khúc đồng chiếu mệnh viên…”: mệnh ở Sửu Mùi làm sao gặp Vũ Phủ (cư Tý Ngọ) đồng chiếu được nhỉ ? Có khi nào ý nói là Vũ Khúc HOẶC Thiên Phủ chiếu ?! Hay là lỗi typo !

Hoặc nếu ko có lỗi typo thì thử suy diễn: mệnh ở sửu mùi có Vũ (Tham) chính chiếu, Thiên Phủ tam hợp; Hoặc Thiên Phủ chính chiếu, Vũ (Phá) tam hợp.

132. “Tướng tinh đắc địa” không hợp thời

“Tướng tinh đắc địa cách” – tức Vũ Khúc lâm miếu vượng cung thủ mệnh.

Cổ ca nói:

Tướng tinh nhập miếu thật vi tường

Vị chánh quan cao đáo xứ cường

Lược địa công thành đa diệu toán

Uy phong lẫm lẫm trấn biên cương.

(Tướng tinh nhập miếu thật là tốt đẹp, ở ngôi vị quan to nơi cường quốc, chiếm đất công thành bằng mưu sâu kế hiểm, uy phong lẫm liệt trấn ngự nơi biên cương.)

Cách cục này thuộc về trường hợp “trông mặt mà bắt hình dong” (nhìn chữ đoán nghĩa), bởi vì thời xưa có thuyết pháp Vũ Khúc là Tướng tinh cho nên mới cho là mệnh “chiếm đất công thành”, “uy phong lẫm lẫm” , bởi vậy có thể thấy được cái đơn sơ ngây ngô của giang hồ thuật sĩ thời Minh; học luận mệnh đời nhà Thanh là việc được coi trọng nhưng văn nhân học sĩ chỉ nghiên cứu Tử Bình, không một người nào cảm thấy hứng thú xem “Đẩu số”, đó là bởi lý do bất mãn sách vở dạy Đẩu số của thời nhà Minh.

Vũ Khúc tại bốn cung thìn tuất, sửu mùi nhập miếu, tại tý ngọ hai cung thừa vượng, y theo cách cục Vũ Khúc ở mười hai cung có sáu hợp cục, song phàm người có Vũ Khúc tọa mệnh, chẳng phải cứ là số rất tốt sao? Vậy ngày ấy người lập ra cách cục chẳng nghĩ thêm được tường tận là chỗ đó. Hơn nữa, Vũ Khúc vào hai cung thìn tuất là “thiên la địa võng”, mặc dù nhập miếu nhưng cũng không xuất sắc, chẳng biết tại sao cũng cho là “Tướng tinh đắc địa”.

Phàm người Vũ Khúc thủ mệnh, tuy có thể kiêu ngầm nhưng cũng nhiều ít có một chút tính chất cô khắc, thời xưa người tòng quân phần nhiều không phải là người thiếu niên no ấm, hoặc cơm áo không nhờ cậy được ai, hoặc lục thân bất toàn sau đó mới chịu rời xa nơi chôn rau cắt rốn.

28. Đoán sắc lao (*), sản ách (**), và hôn nhân

“Thiên Lộc trùng phùng Hồng Loan, sắc lao chi tật” (Thiên Lộc gặp Hồng Loan là bệnh lao)

Thiên Lộc tức là Lộc Tồn, ở Đẩu số có lúc lại rất sợ tinh diệu này, vì Lộc Tồn phùng Hồng Loan cố nhiên chủ việc phát tài, nhưng tại cung Tật ách, lại có thể biến ra bệnh thận, nói đến bệnh thận này sở chỉ chức năng sanh thực (***), mà không nói đến hệ thống bài tiết của thận.

Vương Đình Chi hoài nghi bản “Thập bát phi tinh” Phúc Kiến khắc trên gỗ, hoàn thành cuối cùng vào triều đại nhà Minh, trong lịch sử Trung Quốc, thời Minh là thời đại sắc tình, vì vậy mà người bị bệnh liên quan đến cơ năng sanh thực đặc biệt nhiều, Trong bản “mười tám phi tinh” vì lẽ đó cũng đặc biệt chú ý tới loại bệnh chứng này.

“Thiên Nhận tọa mệnh, nữ nhân chủ sản ách” (Thiên Nhận tọa mệnh ở phụ nữ, chủ về sản ách)

Hẳn là, độc giả còn nhớ Vương Đình Chi từng nói qua, Thiên Nhận ở “Thập bát phi tinh” tức là Thiên Hình ở Đẩu số. Mà nữ mệnh niên hạn phùng Thất Sát tọa cung Mệnh, gặp sát tinh, lưu diệu lại bất cát, người lục Giáp chủ bị sản ách, nhưng nếu cung Tử tức tốt con cái có thể bảo toàn, nếu không nhiều khả năng yểu chiết. Cách luận đoán trên, bản thân giới Đẩu số đã bỏ sót, hoặc không biết đến, nhưng có thể thấy được về “Thập bát phi tinh”.

“Hồng Loan hội Văn Xương chủ hôn nhân”

Bây giờ toán Đẩu số cho một người, thường cho rằng Hồng Loan Thiên Hỉ là hạn hôn nhân, khi gặp hạn liền suy đoán kết hôn năm đó, thường thường không ứng, nhưng tham khảo “mười tám phi tinh”, lấy Hồng Loan Thiên Hỉ hội Văn Xương là năm kết hôn, hơn nữa 9/10 trường hợp là năm này chánh thức cử hành hôn lễ, nhiều ứng nghiệm; bởi vì “Văn Xương vi lễ nhạc chi tinh, chủ hôn giá chi lễ” (Văn Xương là sao chủ lễ nhạc hay hôn lễ). Cách suy đoán này trước mắt cũng thấy gần với “Thập bát phi tinh”.

_______________

(*) Sắc lao, còn có tên là kết hạch: hội chứng lao, lao có nhiều loại, lao thận, lao phổi, lao da, lao xương, nổi hạch,… (“Sắc” là sắc đẹp, màu sắc, còn có nghĩa là vẻ mặt ngoài da; “Lao” là bệnh lao). Khi xét nghiệm lao thường xét nghiệm ngay trên da, sau đó mới kết hợp xét nghiệm đàm, sinh thiết, v.v… Bài viết này đề cập đến bệnh thận, suy thận, lao thận,…do “sắc tình” quá mức. Nếu các bạn thắc mắc, có thể tìm hiểu bệnh về thận trong Đông Y.

(**) Sản ách: bệnh tật và rủi ro khi mang thai và sinh nở.

(***) Sanh thực: hệ thống sinh sản ở người.

90. Đàm Hỏa Tinh và Linh Tinh

Vương Đình Chi mỗi lần nghĩ đến việc nói chuyện về 4 sát tinh Hỏa, Linh, Dương, Đà nhưng chấp bút lại nghĩ rất khó, bởi vì “Tứ Sát” mặc dù có đặc tính cơ bản nhưng tất đòi hỏi các tinh diệu khác phối hợp về thì việc đàm luận, luận đoán mới có ý nghĩa, nếu chỉ bàn một sát tinh nào đó tất dễ sinh hiểu nhầm hoặc hiểu không đủ. Cho nên vì lẽ đó bài viết này tuy nói về sát diệu, bất quá cũng chỉ nói đại khái mà thôi, mặc dù tác giả rất khách quan, độc giả vẫn cần đề phòng giảng sai, rất tai hại khi bàn riêng từng sát tinh.

Bình thường mà nói, “Hỏa minh Linh ám”, cho nên hai sao tuy cùng có tính cương liệt, nhưng tính chất chính Hỏa Tinh khác với Linh Tinh một chút, nếu như lấy nhân vật “Thủy Hử” mà so sánh, Hỏa Tinh ví như Hắc toàn phong Lý Quỳ (cơn lốc đen Lý Quỳ), nói đánh là đánh, nói giết là giết, lòng không so đo tính toán; Linh Tinh ví như Hoa hòa thượng Lỗ Trí Thâm, mặc dù cương liệt cũng như Lý Quỳ, nhưng như hồi đánh chết gã bán thịt Trấn Quan Tây – Trịnh Đồ, trước tiên Lỗ Trí Thâm tìm hiểu hắn bán thịt sống ở chợ, sau đó đến tìm cớ chọc ghẹo mà đánh chết (*).

Hai sao hoan hỷ nhất cùng Tham Lang đồng cung, hội hợp chỉ xếp thứ cách, xưng là “Hỏa Tham cách” hoặc “Linh Tham cách”, chủ hoạnh phát, hoặc chủ hoạnh lập công danh, về cách cục này Vương Đình Chi sẽ luận thuật riêng đầy đủ. Trừ Tham Lang này ra, với Tử Vi, Thất Sát, Hỏa Linh đồng cung cũng tốt. Tử Vi hóa giải tính cương liệt của Hỏa Linh như Lý Quỳ gặp Tống Giang tự nhiên ngoan ngoãn vâng lời, cam thụ sai khiến xếp đặt; Thất Sát đối với Hỏa Linh có khả năng uy hiếp được Hỏa Linh, như một vị Nguyên soái cầm quân đầu tiên phải cưỡi ngựa xông trận ra oai, sau đó mới có thể thu phục được thuộc hạ cương mãnh làm tướng. Cho nên, dường như mệnh cục Tử Vi Hỏa Tinh đồng cung ít vất vả gian lao hơn nhiều so với mệnh cục Thất Sát Hỏa Tinh đồng cung.

Cự Môn là ám diệu, gặp Hỏa Linh rất không tốt, bởi vì Hỏa Linh là ngọn lửa không đủ soi sáng Cự Môn, mà Cự Môn lại là ám tinh đủ để làm tối tăm sắc sáng của Hỏa Linh, nếu đồng cung làm cho chủ nhân dễ xúc động, tâm tính ít độ lượng mà lại còn sinh nhiều thị phi.

Hỏa Linh cũng không thích Liêm Trinh, vì tượng Liêm Trinh là âm hỏa, hai hỏa đồng tụ một nơi, gặp Thất Sát Kình Dương tức “chủ sanh ý ngoại” (sinh chuyện ngoài ý muốn).

(*) Câu chuyện Lỗ Đạt (Lỗ Trí Thâm) đánh tên Trịnh Đồ 3 quyền làm hắn chết luôn, xin đọc lại chuyện Thủy Hử để rõ.

91. “Hỏa Linh giáp mệnh” và “Linh Xương Đà Vũ”

Về Hỏa Tinh Linh Tinh, cổ nhân từng xem xét kỹ rồi lập ra 2 cách cục, một là “Hỏa Linh giáp mệnh” và một là “Linh Xương Đà Vũ”, bài viết nói về 2 cách cục này. Người xưa nói “Hỏa Linh giáp mệnh vi bại cục”, về phần “Bại cục” ví như có hỏi cũng chẳng có thuyết minh. Chiếu theo Vương Đình Chi biết, ở Đẩu số phàm cung bị một cặp Sát tinh giáp biên, nhất định sẽ hội sinh ra khuyết điểm, như “Dương Đà giáp”, “Không Kiếp giáp” và “Hỏa Linh giáp”. Hỏa Linh giáp cung, sinh ra bệnh tật hay sự cố gì, ứng với tinh hệ bị sát tinh giáp biên mà định, thông thường thì vậy, còn lại là khiến cuộc sống giảm chất lượng.

Cùng một nguồn dạng xuất thân, cùng một quá trình học vấn, thậm chí cùng cơ cấu đảm nhiệm một công việc, rồi sau đến tuổi trung niên, một người thăng một người trầm, thì người trầm dễ có thể có cách cục “Hỏa Linh giáp mệnh” mà chính tinh ở cung Mệnh lại vô lực, đó là lý do. Nếu cung có tinh hệ bị giáp Hỏa Linh hữu lực như Vũ Khúc Thất Sát, Vũ Khúc Thiên Phủ, Liêm Trinh Thất Sát, Tử Vi Thất Sát, tắc chủ nhân vẫn có thể hồ hởi phấn khởi, nhưng gian lao khó tránh khỏi. Nhưng nếu cung vị mà Hỏa Linh giáp có Kình Dương, tắc phán đoán thời liền phải hết sức cẩn thận; sao Kình Dương này có thể trở nên thiện hay ác, không thể đại khái mà nói được, ứng thiện hay ác phải quan sát từ lá số tam phương tứ chánh hội hợp tinh diệu mà định tính chất của nó.

Về cách “Linh Xương Đà Vũ”, tất là cung an mệnh ở Thìn Tuất mà tam phương tứ chánh tập hợp bốn sao Linh Tinh, Đà La, Văn Xương, Vũ Khúc. Cổ nhân gọi là “Linh Xương Đà Vũ, hạn chí đầu hà” chủ có thủy ách (tai nạn sông nước), tại sao lại sẽ có thủy ách, hẳn là cổ nhân thông qua những chinh nghiệm được mà đi ra kết luận. Chiếu theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi kỳ thực cũng có thể chỉ điềm báo tai nạn thông thường, hơn thì chủ bất trắc trong giao thông.

Hẳn nên lưu ý, nếu nguyên cục có Vũ Khúc cùng Linh Tinh hội chiếu (không phải là Hỏa Tinh), liền cần đại hạn hoặc lưu niên có Lưu Xương (*), Lưu Đà hội hợp, đó là thành cách cục “Linh Xương Đà Vũ”, gom Lưu Xương Lưu Đà vào trong cách cục này. Ví như nguyên cục đã có Đà La hoặc Văn Xương, mà Lưu Đà hoặc Lưu Xương nhập cục, xung với Xương Đà nguyên cục, tai họa tức dễ phát tác, hẳn là năm ấy cẩn thận sức khỏe, đồng thời thận trọng đề phòng thủy ách và bất trắc giao thông – Vương Đình Chi đoán qua lá sốc của con của một vị bằng hữu, lưu niên gặp cách cục “Linh Xương Đà Vũ”, Vương Đình Chi hết sức khuyên ngăn không nên chạy xe gắn máy, nhưng năm đó vẫn chạy xe đạp đụng người đi đường, gây nên một vết thương nhẹ.

Chú thích:

(*) Lưu Xương : theo sách “Phép an sao và đoán mệnh có thực” của Vương Đình Chi, hai sao Lưu Xương Lưu Khúc an theo Thiên can năm tháng ngày nhập hạn:

Bài ca an Lưu xương, Lưu khúc:

Lưu Xương khởi tị vị

Giáp ất thuận lưu khứ

Bất dụng tứ mộ cung

Nhật nguyệt đồng niên tuế.

(Lưu Xương khởi từ cung Tị, theo chiều thuận bắt đầu là Giáp, đếm đến Can năm (hoặc tháng) tính hạn. Bỏ qua bốn cung tứ mộ là Thìn Tuất Sửu Mùi)

Lưu Khúc khởi dậu vị

Giáp ất nghịch hành tung

Diệc bất dụng tứ mộ

Niên nhật nguyệt tương đồng.

(Lưu Khúc khởi từ cung Dậu, theo chiều nghịch bắt đầu là Giáp, đếm đến Can năm (hoặc tháng) tính hạn. Cũng bỏ qua bốn cung tứ mộ là Thìn Tuất Sửu Mùi)

Điều này do Trung châu phái truyền thụ.

(Dẫn theo trang kilotuvi.blogspot.com/)